LỜI MỞ ĐẦU
Nhà nước tư sản là một thể chế hết sức phức tạp không những vì tính đa
dạng về hình thức mà còn vì cấu tạo bên trong của nó. Nhà nước tư sản đa
dạng về hình thức bởi trình độ phát triển kinh tế, tương quan lực lượng giữa
hai cấp và mức độ mâu thuẫn giữa chúng khác nhau ở mỗi nước. Hình thức
nhà nước có hình thức chính thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính trị. Mỗi
hình thức có những đặc điểm riêng phù hợp với từng nhà nước khác nhau.
Tuy nhiên ở bài này, em chọn đề tài “Phân tích và đánh giá sự khác biệt cơ
bản về hình thức chính thể của nhà nước ở Anh và Mỹ” để hiểu rõ thêm về
hình thức chính thể.
NỘI DUNG
I. Khái niệm hình thức chính thể của nhà nước tư sản.
Hình thức chính thể của nhà nước tư sản cũng giống như hình thức
chính thể của các kiểu nhà nước khác là cách thức tổ chức và trình tự thành
lập ra các cơ quan nhà nước tối cao và sự xác lập mối quan hệ giữa các cơ
quan đó với nhau. Nhà nước tư sản có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ
lập hiến, chính thể cộng hòa.
1. Khái niệm hình thức quân chủ lập hiến.
Đối với hình thức chính thể quân chủ lập hiến, quyền lực của nguyên
thủ (vua, quốc vương…) được truyền lại cho người kế vị. Hình thức quân chủ
lập hiến hiện nay còn tồn tại ở một số nước như Anh, Nhật, Hà Lan,…và có
hai biến dạng là: chính thể quân chủ nhị hợp và chính thể quân chủ đại nghị
(nghị viện) (tồn tại phổ biến ở Anh, Nhật, Bỉ, ...).
2. Hình thức chính thể cộng hòa.
Chính thể cộng hòa là hình thức trong đó cơ quan quyền lực tối cao của
nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định, là
tổ chức chính quyền nhà nước phổ biến nhất hiện nay ở các nước tư sản. Gồm
hai biến dạng là cộng hòa Tổng thống ( Mỹ ) và cộng hòa Đại nghị (Italia,
Liên bang Đức, Liên bang Áo, Hy Lạp…). Ngoài ra, hiện nay còn có thêm
chính thể cộng hòa hỗn hợp (Pháp, Nga, Phần Lan…).
III. Sự khác biệt về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
trong hình thức chính thể của nhà nước ở Anh và Mỹ.
1. Tổ chức bộ máy nhà nước
1.1, Nguyên thủ quốc gia.
A, Nhà nước tư sản Anh.
Nguyên thủ quốc gia do thế tập truyền ngôi. Ở Anh, người muốn lên
ngôi Hoàng đế phải là người nghiêm túc, trong sạch, theo nếp sống “khuôn
vàng thước ngọc” của lễ giáo phong kiến, không được kết hôn hai lần trở lên,
không được ngoại tình, phải là người theo theo quốc giáo nước Anh (đạo tin
lành). Thủ tục lên ngôi Hoàng đế được quy định trong luật về kế vị và luật
cung đình năm 1701: Hoàng đế có thể truyền ngôi cho con trai nếu không có
con gái. Hoàng đế chỉ nặng về vai trò tượng trưng. Mọi hoạt động của Hoàng
đế chỉ nhằm mục đích chính thức hóa về mặt nhà nước các hoạt động của
Nghị viện, Chính phủ.
Quyền hạn của nhà vua (nữ hoàng) theo quy định của luật là người
đứng đầu chính quyền hành pháp, tư pháp và là một trong ba yếu tố cấu thành
cơ quan lập pháp; là tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang; Thống
đốc tối cao của quốc giáo của Liên hiệp Vương quốc. Nhà vua hay nữ hoàng
bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng và các thành viên khác của Chính phủ.
Nhưng việc bổ nhiệm Thủ tướng chỉ mang tính hình thức vì người được bổ
nhiệm đã được quyết định và là người đứng đầu đảng chiếm đa số trong nghị
viện (hạ viện). Thủ tướng chọn các bộ trưởng cho nội các của ông trong
những nghị sĩ của Quốc hội. Mọi quyết định của Hoàng đế chỉ có hiệu lực
thực thi khi có chữ kí kèm theo của Thủ tướng. Ngược lại các vị đặc trách cơ
quan mình ấn kí các quyết định của cơ quan bên cạch con dấu và chữ kí xác
nhận của nhà vua. Nhưng Nhà vua không phải chịu trách nhiệm trước bất kì
văn kiện nào mà mình đã kí .Vì vậy chữ kí của nhà vua chỉ mang tính hình
thức theo yêu cầu của Thủ tướng hoặc Nghị viện. Các bộ trưởng phải chịu
để cản trở việc ban hành các dạo luật trái với ý chí của Tổng thống, Tổng
thống Hoa kỳ còn được coi là tác giả chủ yếu của các dự án luật quan trọng
nhất. Tuy nhiên, Tổng thống Hoa Kỳ, phó Tổng thống và các nhân viên chính
quyền sẽ bị cách chức nếu bị kết tội lạm dụng công quyền hoặc bị kết tội phản
quốc, nhận hối lộ, hoặc phạm những trọng tội khác.
Về Đối ngoại: Tổng thống có quyền kí các điều ước quốc tế. Được bổ
nhiệm tất cả các quan chức, đại sứ ngoại giao ở tất cả các nước mà Mỹ có
quan hệ ngoại giao. Tổng thống được quyền kí kết thừa nhận các quốc gia
mới.
Quyền được ân xá cho bất kì ai là công dân Mỹ bị kết án.
Qua việc tìm hiểu về nguyên thủ quốc gia của 2 nước : trong chính thể nhà
nước cộng hòa Tổng thống, Tổng thống do nhân dân bầu nên với chức năng
và quyền hạn được quy định trong Hiến pháp 1787 tổng thống Mỹ có thực
quyền và có thể nói quyền hạn này là quyền hành lớn nhất trong lịch sử nhà
nước cận đại. Khác với chính thể quân chủ nghị viện ở Anh nhà vua do thế
tập truyền ngôi nên nhà vua chỉ mang tính hình thức.
1.2, Nghị viện.
A. Nhà nước tư sản Anh.
Nghị viện có quyền lập pháp; quyền quyết định ngân sách và thuế;
quyền giám sát hoạt động của nội các, bầu hoặc bãi nhiệm các thành viên của
nội các. Nghị viện là tối cao, Nghị viện có quyền giải quyết mọi vấn đề của
nhà nước. Nghị viện thành lập ra chính phủ từ thành phần Hạ nghị viện. Chính
phủ chỉ được hoạt động khi vẫn còn sự tín nhiệm của Nghị viện. Trong trường
hợp không còn sự tín nhiệm của Nghị viện thì chính phủ giải tán, nghị viện
thành lập chính phủ mới. Trong trường hợp không thành lập được chính phủ
mới thì nghị viện bị giải tán. Sự hình thành Quốc hội 2 viện gồm: Thượng
nghị viện gồm đại quý tộc mới , không phải qua bầu cử mà do tầng lớp đại tư
sản quý tộc cử ra. Hạ nghị viện đại diện cho tầng lớp trong cư dân và do dân
bầu ra, nên còn được gọi là viện dân bầu. Cùng với sự mất dần quyền lực của
thượng nghị việc quyền hành của hạ nghị viện dần lấn át quyền của thượng
nhau thì ở Mỹ quyền hành pháp theo hiến pháp Mỹ chỉ được giao cho 1 người
là Tổng thống (điều 2) Tổng thống là người thành lập Chính phủ. Ở Mỹ không
hình thành 1 chế định nào về Chính phủ (nội các) điều này nhấn mạnh sự chịu
trách nhiệm cá nhân của Tổng thống.
2. Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước.
Với chính thể cộng hòa Tổng thống ta nhận thấy sự phân quyền cứng
rắn việc áp dụng học thuyết phân quyền 1 cách triệt để: mối quan hệ giữa lập
pháp và hành pháp được phân định rõ ràng, không có sự kết hợp với nhau so
với sự phân quyền mềm dẻo ở chính thể quân chủ đại nghị ở Anh. Ở Mỹ 3
nhánh quyền lực được phân định rõ về quyền hạn và trách nhiệm bằng cơ chế
kìm chế - đối trọng (thành viên hành pháp và Tổng thống không có quyền
trình dự án luật trước nghị viện; nghị viện không có quyền lật đổ Chính phủ
và Tổng thống không không có quyền giải tán Nghị viện trước thời hạn)
không có sự chịu trách nhiệm lẫn nhau và giải tán nhau giữa lập pháp và hành
pháp như ở Anh. Ngoài ra, việc phân quyền cứng rắn được thể hiện trong việc
bổ nhiệm nhân sự: ở Mỹ người được Tổng thống trong bộ máy hành pháp
phải nghỉ nghị sĩ hoặc ngược lại; ở Anh chỉ bổ nhiệm Bộ trưởng và Thủ tướng
từ đảng chiếm đa số trong Nghị viện. Ngoài ra, việc đề cao quyền lực tư pháp
ở Mỹ cũng khác biệt so với ở Anh khi Nghị viện có quyền hạn lớn lấn át
ngành tư pháp.
KẾT LUẬN
Qua việc phân tích và so sánh hai hình thức chính thể của nhà nước
Anh và Mỹ đã làm cho chúng ta hiểu thêm về cơ cấu tổ chức và hoạt động
cũng như bộ máy hai nhà nước này và có cái nhìn tổng quát về sự khác nhau
cơ bản giữa chúng. Ở mỗi hình thức chính thể đều có nhũng ưu nhược điểm
riêng và phù hợp với tình hình của từng nhà nước.