16-01-16
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC PHẦN LỊCH SỬ KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT NAM BỘ
Câu 1: Quá trình di cư của người Việt vào đất Nam Bộ ?
Trả lời:
Quá trình di cư của người Việt vào đất Nam bộ có thể khái quát thành những đặc điểm sau:
1.Nguồn gốc lưu dân:
- Do những tác động khách quan và chủ quan với nhiều hạn chế, vì thế vùng đất Nam Bộ
cho đến thế kỉ XV-XVI về cơ bản vẫn là vùng đất hoang vu chưa được khai phá triệt để mặc dầu
có nhiều tầng lớp cư dân đến đây sinh sống. Song bước vào thế kỷ XVII thì tình hình khai khẩn
đã có những nét khác, bởi từ lúc này trở đi, trên vùng đất Nam bộ đã xuất hiện một lớp cư dân
mới. Trong lớp cư dân này, trước hết phải kể đến lưu dân người Việt, bởi họ chiếm số đông.
Thành phần chủ yếu nhất vẫn là nông dân và thợ thủ công nghèo khổ bị điêu đứng cùng cực vì
tai họa chiến tranh, vì bị giai cấp phong kiến áp bức bóc lột không thể sống nổi, chính vì thế họ
phải buộc lòng từ bỏ quê hương.
- Nguyên nhân của hiện tượng xã hội này
+ Nạn vơ vét nhân lực- bắt lính của các tập đoàn phong kiến vì mục đích chiến tranh.
Để có một lực lượng quân sự hùng hậu đủ sức chống chọi với nhau, chính quyền họ Nguyễn
cũng như họ Trịnh đã tiến hành việc bắt lính một cách ráo riết và tràn lan, vì thế việc bắt lính trở
thành một tai nạn chung cho mọi người, nhất là những người nông dân và thợ thủ công nghèo
khổ, không có thế lực và điều kiện trốn tránh.
+ Ngoài ra, triều đình phong kiến họ Nguyễn còn ra sức vơ vét vật lực, tài lực của
nhân dân, một mặt để cung đốn cho nhu cầu chiến tranh, mặt khác để thỏa mãn lối sống xa hoa,
quý tốc của họ. Để đạt được những mục tiêu đó, triều đình họ Nguyễn đã đặt ra các loại thuế-lệ
hết sức nặng nề, phiền phức buộc nhân dân phải tuân theo. Bên cạnh đó, bọn quan lại đã lợi dụng
việc thu thuế để đua nhau ức hiếp, bóp nặn nhân dân, nhất là nông dân một cách tàn khốc.
=> Chính những nguyên nhân trên đã đẩy dân chúng, nhất là những người nông dân nghèo khổ
vào con đường khổ sở, điêu đứng, buộc họ phải rời bỏ làng mạc, ruộng vườn, xiêu tán đi nơi
khác.
- Như vậy, với đông đảo nông dân xiêu tán đã là nguồn cung cấp chính cho làn sóng di cư
vào đất Đồng Nai-Gia Định (tên gọi chung đất Nam Bộ ngày nay). Nơi mà họ nghe nói có đất
đai rộng lớn, phì nhiêu chưa được khai thác.
Trả lời:
- Địa điểm đặt chân sớm nhất của lưu dân người Việt trên đất Nam Bộ là ở Mỗi Xuy
(Mô Xoài-Bà Rịa), vì đây là nơi địa đầu vừa nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận
vào Nam vừa giáp biển, có cửa biển vào được, ghe thuyền từ Bắc vào Nam. Đây là vùng đất
rộng lớn từ làng Long Hương, Phước Lễ và lên đất đỏ ngày nay.
- Từ Mô Xoài – Bà Rịa lưu dân người Việt tiến dần đến vùng Đồng Nai định cư và khai
khẩn. Các địa điểm định cư và khai khẩn sớm nhất khu vực này là Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, cù
lao Rùa, cù lao Tân Triều, cù lao Tân Chánh,v.v....
- Năm 1679 ngoài cư dân người Việt vùng này có thêm lưu dân người Hoa (nhóm Trần
Thượng Xuyên do không thuần phục triều đình Mãn Thanh nên chạy sang Việt Nam xin lưu trú,
điểm tập kết đầu tiên của họ là Bàn Lân
- Cũng như ở Đồng Nai, lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Sài Côn
(Bến Nghé) từ nửa cuối TK XVII, tại đây họ khai phá các khu đất cao như : Chợ Quán đến Gò
Trang 2 - 11
16-01-16
16-01-16
Công, Chùa Gò (Phụng Sơn Tự), khu vực Bà Chiểu, Gò Vấp, kéo dài đến Hóc Môn theo trục lộ
đi về phía Tây Ninh.
=> Như vậy, đến những năm cuối TK XVII trên suốt khu vực rộng lớn từ Mô Xoài đến
Bến Nghé cùng với người Khơme, người Hoa, người Việt cũng đã đến định cư và khai phá. Tuy
nhiên lúc bấy giờ dân cư còn quá ít, hầu hết là dân phiêu bạc phương tiện lại thiếu thốn, trình độ
kĩ thuật còn hạn chế. Cho nên trên cả khu vực rộng lớn đó những địa điểm định cư khai phá còn
rãi rác, đất hoang rừng rậm còn nhiều.
- Sang TK XVIII các điểm định cư khai phá ở khu vực Sài Gòn – Bến Nghé và những
vùng xung quanh tiếp tục được mở rộng thêm, sau khi Nông Nại Đại Khố (cù lao phố Đồng Nai
- Biên Hòa) bị tàn phá 1772, thì vùng Sài Côn (Chợ Lớn ngày nay) trở thành một trung tâm
Tóm lại : đến cuối TK XVIII lưu dân người Việt đã đến định cư khai khẩn đất đai để
sinh sống ở rất nhiều nơi ở vùng đất Nam Bộ. Tuy nhiên, mật độ phân bố không đều, những khu
vực có số lượng lưu dân người Việt đông nhất đó là Bà Rịa – Đồng Nai – Sài Gòn – Mỹ Tho –
Bến Tre, nhất là vùng gần sông Vàm Cỏ Tây, gần sông Tiền và những vùng có nhiều thuận lợi
để làm lúa nước, bởi vì có lượng nước ngọt để tưới tiêu và cũng nhờ mạng lưới sông gạch thiên
nhiên chằng chịt.
Câu 3: Những thành quả của công cuộc khẩn hoang vào thế kỉ XVII- XVIII và tác động
của nó đến sự biến đổi xã hội lúc bấy giờ ?
Trả lời:
Thành quả công cuộc khẩn hoang:
Nhờ sự cần cù, bền bỉ, quả cảm, sáng tạo trong lao động của những người đi khai
hoang, và một số chính sách, biện pháp khẩn hoang của chính quyền chúa Nguyễn, nên đến cuối
thế kỷ XVIII, diện mạo vùng đất Nam Bộ đã được thay đổi một cách cơ bản, tạo điều kiện cho
việc mở rộng địa bàn khai phá và phát triển nông nghiệp vào những thời kỳ tiếp theo.
Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn thì tổng diện tích khai khẩn tính đến những năm
70 của thế kỉ XVIII đó là 32 000 sở ruộng (1 sở bằng 4 đến 5 mẫu). Và thành quả công cuộc khai
hoang được biểu hiện trên những mặt sau:
1. Nông nghiệp:
Nhờ có công cuộc khẩn hoang của lưu dân mà vùng Đồng Nai – Gia Định (toàn Nam
Bộ ngày nay) là vựa lúa lớn, sản xuất thóc gạo dư thừa so với nhu cầu lương thực tại chỗ. Ngoài
ra, còn đem đi trao đổi mua bán các nơi trong nước và cả với nước ngoài. Không những vậy,
vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi cung cấp lúa gạo chủ yếu của cả Đàng trong.
2. Thủ công nghiệp:
- Do sản xuất nông nghiệp trong xã hội đã dần xuất hiện sự phân công lao động dẫn
đến sự ra đời nhiều ngành nghề thủ công : chạm, đúc, thêu, sơn, dệt, làm đồ thiếc, làm gạch
ngói...
- Với thủ công nghiệp phát triển đã xuất hiện nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp, họ đã
tách khỏi nông nghiệp, hình thành một số vùng có các nghề thủ công truyền thống.
3. Thương nghiệp:
- Trên cơ sở một nền nông nghiệp và thủ công nghiệp đã khá phát triển ở mức độ nhất
trợ lẫn nhau, chưa có luật lệ ràng buộc, chưa có những qui chế ngặt nghèo với những luật lệ làng,
hương ước gì cả, thôn ấp không đóng kín thoáng rộng, thường giúp đỡ đón nhận người mới đến.
+ Thôn ấp của lưu dân người Việt ban đầu thường là dễ hợp dễ tan, người đến trước,
người đến sau không phân biệt.
b/. Những biến đổi về cơ cấu giai cấp xã hội:
- Tiến trình phát triển của công cuộc khai khẩn đất đai, đồng thời cũng là tiến trình diễn
ra sự phân hóa xã hội theo hai cực.
- Tình trạng ruộng đất khai khẩn được ngày càng tập trung vào tay điền chủ, dẫn đến sự
xuất hiện khá sớm sở hữu ruộng đất lớn và mức sống của người lưu dân không tỉ lệ thuận với
thành quả mà công cuộc khai khẩn đất đai đã đạt được.
Do vậy, nơi đây cũng bộc lộ khá sớm những vấn đề xã hội gay gắt đó là mâu thuẫn giữa điền chủ
và nông dân nghèo càng rõ rệt nhưng chưa đạt đến mức độ bùng nổ.
Câu 4: Những chính sách và biện pháp khẩn hoang dưới thời Nguyễn vào nửa đầu thế kỉ
XIX ?
Trả lời :
Trang 5 - 11
16-01-16
16-01-16
Chính sách khẩn hoang:
Sau khi đánh đuổi quân Thanh và quân Xiêm ra khỏi bờ cõi, đất nước ta sạch bóng quân
thù, bấy giờ nổi lên mâu thuẫn giữa ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Lợi
dụng mâu thuẫn đó, Nguyễn Ánh ở Gia Định ra sức mộ quân, lập đồn điền, dự trữ lương thực,
liên hệ các giáo sĩ ở Pháp, Anh, Bồ Đào Nha …để mua súng, đạn và Nguyễn Ánh cử người sang
Pháp cầu viện. Năm 1790, Nguyễn Ánh bắt đầu tấn công vào vùng đất Tây Sơn. Sự phân chia
quyền lực của ba anh em nhà Tây Sơn đã không cho phép sự chống trả một cách có hiệu quả và
giữa lúc đó Quang Trung – Nguyễn Huệ qua đời càng khiến cho triều Tây Sơn suy yếu. Năm
1802, Nguyễn Ánh đã chiếm toàn bộ Bắc Hà, triều Tây Sơn sụp đổ. Nguyễn Ánh thống nhất đất
+ Cho dân mượn hay cấp không cho họ nông cụ, thóc giống, trâu bò. Song, việc này
diễn ra không thường xuyên và nhà nước chỉ ưu tiên chu cấp cho những người nghèo.
+ Bên cạnh đó, triều đình luôn ra lệnh cho các quan lại đại phương khuyến khích khai
phá đất hoang. Và tiêu chuẩn làm cơ sở thưởng phạt cho các quan lại địa phương các cấp từ xã
đến tỉnh dựa vào diện tích trồng trọt gia tăng hay giảm sút.
+ Thêm vào đó, nhà nước còn đứng ra tổ chức dân chúng, binh lính,..tiến hành khai
hoang qua hình thức lập ấp và đồn điền.
+ Nhà nước đứng ra chiêu mộ dân, cấp tiền và đồ dùng làm ruộng, thóc giống,v.v…
cho dân, đưa họ đi khai hoang lập nghiệp ở một số nơi cần yếu như Gia Định, Hà Tiên, đảo Côn
Lôn,….Biện pháp này được thực hiện từ năm 1803 trở đi và hầu hết tiến hành ở Nam Kì. Qua đó
đặt những cơ sở bước đầu cho việc khai phá đất đai ở miền biên giới và góp phần vào công cuộc
quốc phòng.
+ Nhà nước cho phép bất cứ ai cũng có thể tự nguyện đứng ra chiêu mộ người nghèo
đi khai hoang đều được phong thưởng. Chính sách khen thưởng thường xuyên thay đổi để
khuyến khích mọi người trong công cuộc mộ dân đi khai hoang.
+ Ngoài việc dùng binh lính trong làm lực lượng chủ yếu trong khai hoang thì triều
đình cũng mộ dân lập đồn điền. Và dưới thời Minh Mạng tù phạm được trưng dụng trong các
đồn điền, phục vụ công cuộc khẩn hoang.
Câu 5: Công cuộc khẩn hoang và việc quản lý đất đai đã tác động như thế nào đến xã hội
Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX ?
Trả lời:
I/. Công cuộc khẩn hoang:
1/. Loại hình do nhân dân tự tiến hành:
- Thời kì này làn sóng di cư của các tỉnh phía ngoài vẫn tiếp tục và có phần mạnh mẽ
hơn, một phần vì chiến tranh đã kết thúc, phần khác vì lệnh cấm đạo gay gắt của các vua
Nguyễn, trong đó số lưu dân đông nhất thời kì này đó là tín đồ thiên chúa giáo trốn tránh lệnh
cấm đạo, những người này vào miền lục tỉnh để khai khẩn đất đai, để mưu sinh.
- Những lưu dân đã định cư hoặc là con cháu của họ vẫn tiếp tục công việc khai khẩn đất
hoang vốn còn rất nhiều ở nơi cư trú.
- Nhìn chung trong nửa đầu thế kỉ XIX họat động khẩn hoang do nhân dân tự tiến hành
Lực lượng binh lính:
- Đây là lực lượng đầu tiên để lập đồn điền, nơi khai hoang của họ chủ yếu nằm gần nơi
đóng quân, nhất là vùng biên giới. Binh lính được nhà nước cung cấp cho nông cụ cần thiết, trâu
bò và thóc giống để khai phá đất hoang, trồng trọt. Vì đảm nhiệm việc bảo vệ an ninh trong vùng
và lo sản xuất cho nên một thành phần binh lính được chia đi canh tác đồn điền khác làm nghĩa
vụ quân sự.
- Về cách tổ chức canh tác: binh lính cùng cày cấy, trồng trọt trong đồn điền.
Lực lượng tù phạm:
- Thành phần chủ yếu là tù phạm chịu án nặng đưa đi đày, hoặc được sung vào làm
quân khổ sai. Họ được lệnh khai phá đất hoang tại chỗ chịu án hoặc dồn đến một địa điểm nhất
định.
- Tù phạm được cấp cho một số tiền, gạo để sinh sống trong một thời gian đầu cho đến
khi tự sản xuất đủ lương thực.
Lực lượng dân nghèo lao động:
Trang 8 - 11
16-01-16
16-01-16
- Là thành phần được nhà nước đứng ra chiêu mộ, hoặc nhà nước cho phép cá nhân nào
có khả năng, tình nguyện đứng ra chiêu mộ.
- Trong các đồn điền do dân thường làm, nhà nước cấp cho mỗi người 2 hecta (tức 4
mẫu) để khai phá. Họ được miễn thuế đinh-điền trong một thời gian dài hay ngắn tùy sự khuyến
khích của nhà nước.
=> Như vậy, các đồn điền dù được lập bởi binh lính, tù phạm hay dân thường sau một
thời gian từ 6 đến 10 năm đều biến thành làng xã bình thường.
b. Hình thức khẩn hoang lập ấp :
- Được triển khai trng nửa đầu tk XIX, người đi đầu là Nguyễn Văn Thoại, ông mộ dân
16-01-16
nặng lãi và kim tính đất đai của địa chủ, khiến cho nhiều người không có ruộng đất canh tác phải
đi cày cấy làm thuê, làm mướn hoặc làm tá điền cho điền chủ.
- Sự phát triển mạnh mẽ của sở hữu ruộng đất lớn, của giai cấp địa chủ cùng với tình
trạng ruộng đất công chia cho dân ngày càng bị thu hẹp khiến cho sự phân hóa xã hội ở Nam Kì
lục tỉnh càng thêm sâu sắc. Đó là mâu thuẫn giữa nông dân với chính quyền phong kiến họ
Nguyễn và giai cấp địa chủ ngày càng trở nên quyết liệt.
- Trong nửa đầu thế kỉ XIX mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp điền chủ
ngày càng trở nên quyết liệt, đã dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra như : khởi
nghĩa của Lê Văn Duyệt – Lê Văn Khôi (1833-1835), khởi nghĩa của Hà Âm Hà Dương (18381846) ở Hà Tiên, khởi nghĩa của Lâm Sâm (Trà Vinh, 1842-1842). Các cuộc khởi nghĩa diễn ra
oanh liệt nhưng cuối cùng cũng bị triều đình nhà Nguyễn dìm trong biển máu.
Câu 6: Phân tích đặc điểm cơ bản chính sách khẩn hoang thời Pháp thuộc vào nửa cuối
TK XIX đầu TK XX.
Trả lời:
Sau hiệp ước 1884, đánh dấu mốc Việt Nam chính thức rơi vào ách đô hộ của thực dân
Pháp. Trong suốt khoảng thời gian thống trị ở nước ta, Pháp đã tiến hành chương trình khai thác
thuộc địa lần I và lần II trên cơ sở đồng loạt, toàn diện các mặt về kinh tế như nông nghiệp, công
nghiệp, giao thông vận tải,v.v…. qua đó đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam. Trong công
cuộc khai thác thuộc địa lần I, Pháp đặc biệt đầu tư vốn vào phát triển kinh tế, trong đó chú ý đến
công cuộc mở rộng khẩn hoang đất đai ở Nam kỳ lục tỉnh.
Như vậy, công cuộc khẩn hoang của Pháp ở Nam kì được tiến hành một cách quy mô với
những chủ trương, cùng biện pháp cụ thể, rõ ràng để nhanh chóng đạt được kết quả như họ mong
muốn.
Chủ trương: ngay từ những năm đầu, chính quyền thực dân Pháp tại Nam kỳ đã coi
việc khai phá đồng bằng sông Cửu Long để có nhiều lúa gạo xuất khẩu như một điều kiện để có
thể tồn tại trên vùng đất mới chinh phục này.
Do việc buôn bán lúa gạo dưới thời các vua Nguyễn còn nhiều hạn chế, thế nên thóc gạo
vào thời kỳ này là một sản phẩm tiêu dùng tại chỗ. Tình trạng này không thể không ảnh hưởng
tới nhịp độ khai phá đồng bằng sông Cửu Long vào lúc đó. Nhưng chính của Pháp hoàn toàn
bộ vào khai thác vùng phía nam sông Hậu. Nhưng những người từ đồng bằng Bắc bộ và Trung
bộ đã vào khai phá đồng bằng sông Cửu Long vào thời kỳ này với tính cách tự động, không do
chính quyền tổ chức đưa vào.
- Nguồn nhân lực thứ ba ma chính quyền thực dân muốn đưa vào đồng bằng sông Cửu
Long là người Hoa. Nhưng rồi người Pháp cũng tỏ ra vẻ dè dặt đối với sự hiện diện của người
Hoa ở Nam kỳ.
=> Cuối cùng, họ phải đành lòng tiếp tục khai phá đồng bằng sông Cửu Long và miền
đông Nam bộ với người dân tại chỗ là chính.
c). Phát triển mạnh mẽ tầng lớp đại địa chủ:
- Đây không chỉ là biện pháp được dùng trong khẩn hoang ở Nam bộ, mà dường như
được áp dụng trong mọi lĩnh vực để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương
của Pháp, nhằm thực hiện ý đồ thâm độc của chúng là “dùng người Việt, trị người Việt”.
-
Trang 11 - 11
16-01-16