ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN LỊCH SỬ VẬT LÝ - Pdf 27

ĐỀ CƯƠNG BÀI
GIẢNG HỌC PHẦN
LỊCH SỬ VẬT LÝ
MỤC LỤC
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN 1
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG 1 4
Vật lí học cổ đại 4
1.1. Sự phát sinh những tri thức khoa học đầu tiên 4
1.2. Khoa học phương Đông cổ đại và triết học tự nhiên cổ Hi Lạp 5
1.2.1. Khoa học phương Đông cổ đại 5
1.2.2. Triết học tự nhiên cổ Hi Lạp, sự mở đầu của khoa học cổ đại 6
1.3. Nguyên tử luận của Democritos và vật lí học của Aristotle 6
1.3.1. Nguyên tử luận của Democritos 6
1.3.2. Vật lí học của Aristotle 7
1.4. Vật lí học thời kì Hi Lạp hoá 8
CHƯƠNG 2 10
Vật lí học thời trung đại 10
2.1. Khoa học phương Đông trung đại 10
2.2. Khoa học châu Âu trung đại 11
CHƯƠNG 3 12
Vật lí học thời kì phục hưng. Cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất 12
3.1. Cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất 13
3.1.1. Copernic và hệ nhật tâm 13
3.1.2. Cuộc đấu tranh cho hệ nhật tâm 13
3.2. Sự ra đời của vật lí học thực nghiệm 14
3.2.1. Galileo và sự phát triển thuyết nhật tâm 14
3.2.2. Phương pháp mới trong khoa học 16
3.2.3. Tổ chức mới trong khoa học 16
CHƯƠNG 4 19
Cơ học Newton và sự hoàn thành cuộc cách mạng khoa học 19

6.3.1. Bước đầu nghiên cứu sự chuyển hóa giữa nhiệt và công (tự học) 32
6.3.2. Mayer và những quan niệm tổng quát về bảo toàn và chuyển hóa năng lượng 32
6.3.3. Joule và việc xây dựng cơ sở thực nghiệm cho định luật bảo toàn và chuyển hóa năng
lượng 32
6.3.4. Việc tiếp tục củng cố và phát triển định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng 33
CHƯƠNG 7 33
Sự hoàn chỉnh vật lí học cổ điển (nửa cuối thế kỉ XIX) 33
Vài nét về hoàn cảnh lịch sử: 34
7.1. Nhiệt động lực học 34
7.1.1. Sự hình thành nhiệt động lực học (tự học) 34
7.1.2. Sự phát triển thuyết động học phân tử 35
7.2. Vật lí thống kê 36
7.3. Sự hình thành và phát triển lí thuyết trường điện từ 36
7.3.1. Sự hình thành điện động lực học Maxwell 36
7.3.2. Những cơ sở thực nghiệm của điện động lực học Maxwell 37
7.4. Những đặc điểm cơ bản của vật lí học cổ điển 38
CHƯƠNG 8 40
Sơ lược về vật lí học thế kỉ XX 40
8.2. Sự hình thành và phát triển thuyết tương đối 43
8.2.1. Sự phát triển vật lí học trước Einsten (Tự học) 43
8.2.2. Sự ra đời của thuyết tương đối hẹp 43
8.2.4. Cuộc đấu tranh khẳng định thuyết tương đối (Tự học) 45
8.3. Sự hình thành và phát triển thuyết lượng tử 45
8.3.1. Sự phát triển vật lí học trước thuyết lượng tử (Tự học) 45
8.3.5. Việc giải thích ý nghĩa của cơ học lượng tử 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
CHƯƠNG 1
Vật lí học cổ đại
Số tiết: 4 (Lí thuyết: 04, BT, TL: 0)
*) Mục tiêu:

sao trên trời. Trên cơ sở đó, con người cổ đại đã làm ra lịch, xác định năm, tháng, ngày, xác định
thời vụ cho trồng trọt và chăn nuôi. Thiên văn học là môm khoa học đầu tiên của nhân loại, đã
do nhu cầu của sản xuất mà ra đời. Nó có tác dụng to lớn đối với việc trồng trọt và chăn nuôi,
thậm chí có nơi còn có tác dụng quyết định vì kết quả trồng trọt và chăn nuôi phụ thuộc hầu như
hoàn toàn vào việc dự báo thời tiết. Điều đó đã làm nẩy sinh quan niệm cho rằng vị trí và sự
chuyển động của các sao trên trời có vai trò quyết định số mệnh của từng con người và của toàn
thể xã hội. Do đó, khoa chiêm tinh cũng xuất hiện song song với thiên văn học.
Nhu cầu đếm và tính toán khi phân phối sản phẩm, trao đổi sản phẩm, kiểm kê sản phẩm
dự trữ,… đã làm nẩy sinh các hệ thống đếm và quy tắc của bốn phép tính số học. Việc đo ruộng
đất, đo các thể tích trong sản xuất và xây dựng đã làm hình học ra đời. Toán học là môn khoa
học thứ hai của nhân loại nảy sinh do nhu cầu của sản xuất.
Con người cổ đại đã biết dùng các máy đơn giản trong các công trình xây dựng. Các kim
tự tháp vĩ đại ở Ai Cập chứng tỏ từ ba nghìn năm trước Công Nguyên con người cổ đại đã có
những tri thức nhất định về cơ học và đã có khả năng quản lí một ngưồn nhân lực và một nguồn
nguyên liệu rất lớn trong các công trình xây dựng. Tuy nhiên những trí thức vật lí học ban đầu
còn rời rạc, lẻ tẻ chưa thành hệ thống.
Tóm lại, ở thời cổ đại, nhu cầu sản xuất đã làm nẩy sinh những mầm mống ban đầu của
thiên văn học và toán học nhưng chưa có mầm mống của vật lí học mặc dù đã có một vài tri thức
về cơ học.
1.2. Khoa học phương Đông cổ đại và triết học tự nhiên cổ Hi Lạp
1.2.1. Khoa học phương Đông cổ đại
Những mầm mống đầu tiên của khoa học đã sớm phát sinh ở phương Đông cổ đại. Từ
những thế kỉ XIII – XII trước Công Nguyên, người Trung Quốc đã làm ra âm – dương lịch, vào
thế kỉ III trước Công Nguyên họ đã biết dùng la bàn và vào đầu thế kỉ II đã biết chế tạo ra giấy
bằng giẻ rách và vỏ cây sau đó đã biết in sách bằng các bản khắc gỗ.
Người Ai Cập cổ đại đã biết tính năm theo vị trí các sao trên trời, và chia ra một năm thành
36 tuần 10 ngày, thêm vào 5 ngày lễ nữa là 365 ngày. Người Babilon (thành phố cổ gần Bagda
của Irac) đã quan trắc thiên văn rất chính xác và biết được tính tuần hoàn của các kì nhật, nguyệt
thực.
Như vậy ngay từ thời kì chiếm hữu nô lệ, ở phương Đông cổ đại đã có những tiền đề của

cũng cho rằng mọi thứ đều xuất phát từ một vật chất ban đầu và từ đó mà phát triển lên, nghĩa là
chúng có một nguồn gốc chung.
Đồng thời với trường phái duy vật Ionia cũng xuất hiện trường phái Pythagore do
Pythagore (khoảng 580 – khoảng 500 TCN) sáng lập. Phái Pythagore cho rằng những con số
đóng vai trò thần thánh và chúng điều khiển thế giới.
Một trường phái duy tâm khác xuất hiện bấy giờ là trường phái Elea (Êlê) người tiêu biểu
là Zénon (khoảng 490 – khoảng 430TCN). Tư tưởng về vật chất ban đầu của phái Ioni được
nhiều người chấp nhận, nhưng nó không giải thích được sự đa dạng và sự biến đổi không ngừng
của thế giới tự nhiên. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phái Elea chủ trương rằng thế giới là tĩnh tại,
những biến đổi, những chuyển động quanh ta chỉ là do ta tưởng tượng ra, do giác quan lừa dối
chúng ta. Tư tưởng đó hoàn toàn trái ngược với những kinh nghiệm sống hàng ngày, nhưng để
phủ nhận chuyển động và biến đổi, Zenon đã đưa ra những lập luận gọi là aporia (nghĩa là lập
luận dẫn đến bế tắc). Phải đến hơn hai nghìn năm sau, khi toán học đã có các đại lượng vô cùng
nhỏ, về giới hạn và đã phát minh ra phép tính vi phân thì người ta mới bác bỏ được các aporia
bằng sự chứng minh toán học.
Như vậy, ngay từ ban đầu các nhà triết học tự nhiên cổ Hi Lạp đã tìm cách giải quyết
những vấn đề cơ bản về cấu trúc của vật chất, về nguyên nhân của chuyển động, nhằm xây dựng
một bức tranh khoa học tổng quát về thế giới. Trong lập luận của họ không thể tránh được những
cái còn ngây thơ, hoang đường, gò ép. Nhưng điều kiện sản xuất, điều kiện kĩ thuật thời đó chưa
cho phép họ kiểm tra các giả thuyết của mình bằng thực nghiệm và bằng toán học, vì vậy các giả
thuyết của họ chỉ dừng lại ở đó mà không phát triển lên được. Tuy nhiên, các nhà triết học tự
nhiên cổ Hi Lạp đã thể hiện rõ tư tưởng về sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất và chuyển động, về
sự vận động của thế giới do những nguyên nhân tự nhiên, khách quan chứ không do ý muốn tùy
tiện của một thần linh nào. Tư tưởng đó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển sau này của
vật lí học.
1.3. Nguyên tử luận của Democritos và vật lí học của Aristotle
1.3.1. Nguyên tử luận của Democritos
Democritos (khoảng 460 – khoảng 370 TCN) đã kế thừa những tư tưởng đó và phát triển
chúng thành nguyên tử luận cổ đại. Những luận điểm cơ bản của nguyên tử luận của Democritos
như sau:

người đã sáng lập ra môn logic hình thức là khoa học về các phép chứng minh và bác bỏ. Trong
cuốn “Vật lí học” của ông, Aristotle đã nêu rõ quan điểm và nhận thức của ông về thế giới tự
nhiên. Phương pháp của ông trong cuốn “Vật lí học” khác hẳn với phương pháp ngày nay, không
có một công thức toán học và không có một nghiệm nào trong công trình này.
Aristotle chủ trương rằng thế giới vật chất do bốn nguyên tố tạo thành là đất, nước, không
khí và lửa, các nguyên tố có thể chuyển hóa, cái này tạo thành cái kia. Bốn nguyên tố mang tính
chất nguyên thủy là khô, ẩm, nóng, lạnh phân bố như sau:
- Đất thì khô và lạnh.
- Nước thì lạnh và ẩm.
- Không khí thì ẩm và nóng.
- Lửa thì nóng và khô.
Bốn tính chất nguyên thủy luôn luôn đấu tranh với nhau, tạo ra sự chuyển hóa các nguyên
tố và mọi sự biến đổi trong thiên nhiên.
Hệ thống triết học tự nhiên của Aristotle dựa vào nhiều sự kiện quan sát hơn các thuyết
trước đó (mặc dù vẫn là quá ít) và dẫn đến nhiều kết luận phù hợp với thực tế hơn (mặc dù vẫn
còn rất khái quát, thiếu cụ thể, chưa có quan hệ định lượng) do đó nó có ảnh hưởng nhiều hơn
đến các tri thức vật lí và làm cho nguyên tử luận của Democritos bị lãng quên. Trong lí thuyết
của Aristotle có sự pha trộn các yếu tố duy tâm và duy vật, các luận điểm kì quặc và các lập luận
biện chứng có giá trị. Trong thời gian về sau, giáo hội Thiên chúa giáo đã tước bỏ những yếu tố
duy vật và biện chứng khoa học trong học thuyết của ông, tuyệt đối hóa chúng thành những giáo
điều bất khả xâm phạm, mặc dù Aristotle không bao giờ coi những luận điểm của mình là những
giáo điều và luôn chủ trương phải chứng minh, phải tranh luận để đi tới chân lí.
Học thuyết Aristotle mà giáo hội cho phép lưu hành sau này ở thời Trung thế kỉ là một học
thuyết đã được sửa sang, dàn dựng lại cho phù hợp với lợi ích tôn giáo. Tới cuối thời Trung thế
kỉ đã có sự đấu tranh của các nhà khoa học đòi phục hồi các văn bản gốc của Aristotle, phục hồi
học thuyết đích thực của Aristotle.
1.4. Vật lí học thời kì Hi Lạp hoá.
Những cuộc chinh chiến của Alexandre đại đế đã tạo ra sự tiếp xúc và xâm nhập lẫn nhau
giữa các nền văn minh Hi Lạp và phương Đông. Alexandre đã chinh phục được một miền đất đai
rộng lớn, đi từ Ai Cập qua khắp miền Trung, Cận Đông đến tận bờ sông Induxơ. Alexandre đã

Archimède (Acsimet) (287 – 212 TCN) sống ở Xiracuda một thành phố cảng đồng thời là
một quốc gia nhỏ trên đảo Xixilia, thường xuyên bị các quốc gia láng giềng đe dọa xâm lăng.
Ông đã chế tạo nhiều loại máy cơ học để nâng nước sông lên tưới đồng ruộng (ốc vô tận
Archimède), máy ném đá, cần cẩu và nấn chìm chiến thuyền địch…Dựa trên kinh nghiệm của
thực tiễn kĩ thuật Archimède đã tìm ra quy tắc đòn bẩy, đã định nghĩa trọng tâm của một vật và
xác định được trọng tâm của các vật phẳng. Archimède cũng đã tìm ra định luật nổi tiếng về lực
đẩy của chất lỏng mang tên định luật Archimède. Không những ông đã nghiên cứu điều kiện nổi
của các vật mà còn nghiên cứu điều kiện cân bằng bền của các vật nổi có hình dạng khác nhau.
Archimède là đỉnh cao của khoa học cổ đại, là người thường xuyên có ý thức và thực hiện thành
công sự gắn liền khoa học với kĩ thuật. Những nhà khoa học cổ đại sống sau ông đã không thêm
được bao nhiêu vào di sản khoa học của ông.
Tới thế kỉ III TCN, thiên văn học bắt đầu tách ra thành một môn khoa học riêng biệt. Các
nhà thiên văn đã thực hiện nhiều quan sát chính xác trong những thời gian dài làm cơ sở cho việc
mô tả chuyển động của các thiên thể. Thuyết địa tâm phát triển mạnh mẽ do ảnh hưởng của
Aristotle. Các nhà thiên văn cổ đại cho rằng các sao bất động được gắn chặt trên một mặt cầu ở
rất xa Trái Đất, mặt cầu này quay tròn đều đặn quanh một tâm điểm trùng với tâm Trái Đất. Mặt
Trời, mặt trăng và các hành tinh cũng quay tròn quanh Trái Đất nhưng chuyển động của các hành
tinh có một điều lạ là có lúc hành tinh dừng lại trên quỹ đạo, quay ngược lại rồi lại tiếp tục quay
về phía trước. Để giải thích sự không bình thường đó, có người cho rằng mỗi hành tinh quay trên
một vòng tròn nhỏ và tâm của vòng tròn nhỏ đó quay trên một vòng tròn lớn có tâm là tâm Trái
Đất. Cũng có người cho rằn mỗi hành tinh quay đều trên một vòng tròn và tâm của các vòng tròn
này không trùng nhau và không cùng với tâm của Trái Đất. Hai cách giải thích khác nhau đó
cũng dẫn đến những kết quả như nhau khi người ta sử dụng chúng để tính toán và xác định vị trí
của các hành tinh trên bầu trời vào những thời điểm khác nhau trong một năm.
Ptolemy (thế kỉ II) đã hoàn chỉnh các cách giải thích trên và xây dựng một hệ địa tâm sau
này được gọi là hệ địa tâm Ptolemy. Theo lí thuyết của ông thì mối hành tinh chuyển động trên
một vòng tròn nhỏ gọi là vòng ngoại luân và tâm của vòng ngoại luân chuyển động trên một
vòng tròn lớn gọi là vòng nội luân. Chuyển động quan sát được của các hành tinh là tổng hợp
của hai chuyển động đơn giản đó. Ptolemy nêu lên rằng có thể mô tả chuyển động của các hành
tinh bằng nhiều cách khác nhau nhưng phải tìm ra cách mô tả đơn giản nhất. Tác phẩm của

phương đông tràn tới đã hủy hoại nền văn minh cổ Hi Lạp và cổ La Mã. Trung tâm khoa học và
thư viện quý giá Alecxandria bị đốt trụi, các thành phố trù phú bị tàn phá, sách vở và các công
trình văn hóa bị hủy diệt. Đế quốc La Mã tan rã, xã hội chiếm hữu nô lệ châu Âu tan rã, từ thế kỉ
thứ V, chế độ phong kiến châu Âu hình thành.
Trong khi đó ở Trung Đông, từ thế kỉ V đã hình thành những quốc gia phồn vinh có nền
văn hóa và khoa học phát triển. Các nước Ả Rập đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử
văn hóa và lịch sử khoa học thế giới và là chiếc cầu nối giữa phương đông và phương tây, giữa
thời cổ đại và thời trung đại. Nếu không có vai trò của các nước Ả Rập nền văn hóa phong phú
cổ Hi Lạp có thể đã bị quét sạch không để lại dấu tích gì trên Trái Đất chúng ta.
2.1. Khoa học phương Đông trung đại
Châu Âu thời phong kiến sơ kì là một quang cảnh tiêu điều. Trong khi đó thì phương đông
trung thế kỉ thì giàu có và văn minh hơn hẳn. Thương nghiệp phát triển thúc đẩy sự phát triển
của toán học, thiên văn học, địa lí. Nghề thủ công phát triển kéo theo sự phát triển của kĩ thuật và
nghệ thuật thực nghiệm.
Dựa vào các thành tựu đã đạt được ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hi Lạp, các nhà bác học Ả Rập
đã viết giáo trình số học và đại số. Các tác phẩm của Aristotle, Ptolemy và các nhà bác học cổ Hi
Lạp khác đã được dịch ra tiếng Ả Rập. Người Ả Rập đã quan tâm tới khoa học thực nghiệm, đã
tìm ra các cách xác định tỉ trọng của các chất rắn một cách chính xác. Họ đã xây dựng được
phương pháp xác định bán kính Trái Đất và tìm ra kết quả khá chính xác khoảng 6490km (con số
hiện nay là 6378km ở xích đạo với sai số nhỏ hơn 2%). Về quang học, người Ả Rập đã nghiên
cứu bằng thực nghiệm sự khúc xạ của ánh sáng và đã chứng minh được rằng góc khúc xạ không
tỉ lệ với góc tới như Ptolemy đã khẳng định, nhưng chưa tìm ra được định luật khúc xạ (vì khi đó
chưa ra đời lượng giác học).
Ngoài những công trình thực nghiệm của bản thân mình, người Ả Rập đã truyền tới châu
Âu những phát minh của người Trung Quốc, Ấn Độ như la bàn, thuốc súng, giấy, đồng hồ cơ
học, và đã gìn giữ được những di sản văn hóa quý báu của Hi Lạp cổ đại. Nền văn hóa Ả Rập
đóng góp lớn vào sự phát triển văn hóa và khoa học châu Âu.
2.2. Khoa học châu Âu trung đại
Ở thời phong kiến sơ kì (thế kỉ VII – XI), mỗi chúa phong kiến châu Âu cát cứ một vùng,
cố thủ trong lâu đài đồng thời là pháo đài kiên cố của mình, tự cấp tự túc bằng lao động của các

xuất tốt hơn. Kĩ thuật làm giấy của Trung Quốc du nhập vào châu Âu. Năm 1440 Gutenberg phát
minh ra cách in sách bằng chữ rời, tạo ra một phương tiện mới cho việc truyền bá kiến thức.
Sách bây giờ đã rẻ hơn và nhiều hơn trước, tới tay nhiều người hơn và mang tới họ những tư
tưởng mới, làm cho lịch sử văn hóa và lịch sử khoa học bước sang một giai đoạn mới.
*) Tài liệu học tập
1. Đào Văn Phúc (2002), Lịch sử vật lí học (giáo trình CĐSP), NXBGD, Hà Nội.
*) Câu hỏi, bài tập, nội dung ôn tập và thảo luận
Câu 1. Cho biết đặc điểm đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị thời kì trung đại ở phương
Đông và Hi lạp?
Câu 2. So sánh sự phát triển khoa học giữa phương đông trung đại và châu Âu trung đại?
CHƯƠNG 3
Vật lí học thời kì phục hưng. Cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất.
Số tiết: 4 (Lí thuyết: , BT, TL: )
*) Mục tiêu:
- Kiến thức: Sinh viên phải:
+ Hiểu được nội dung và ý nghĩa của học thuyết Copernic, hệ nhật tâm, vai trò của nó
trong sự phát triển của vật lí học. Biết được sự đấu tranh của các nhà khoa học để bảo vệ học
thuyết đó.
+ Biết được hoàn cảnh ra đời của vật lí thực nghiệm và vai trò của nó trong sự phát triển
của khoa học nói chung và của vật lí học nói riêng.
+ Hiểu được nội dung của phương pháp mới trong khoa học.
- Kĩ năng: So sánh thuyết nhật tâm của Copernic với thuyết địa tâm của Ptolemy và chỉ ra được
những điểm mới, tiến bộ hơn của thuyết Copernic.
- Thái độ: Tự chủ, tích cực trong hoạt động nhận thức.
Vài nét về hoàn cảnh lịch sử:
Từ giữa thế kỉ XV đã diễn ra một sự chuyển mình trong đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị
của châu Âu trung thế kỉ. Sự phát triển thủ công nghiệp ở nông thôn, sự hình thành và phát triển
của các thành thị, nơi sản xuất và trao đổi nhiều loại sản phẩm đã phá vỡ nền kinh tế tự cấp tự
túc, đặt những nền móng ban đầu cho nền kinh tế hàng hóa. Giai cấp tư sản hình thành với các
thương gia, chủ xưởng, chủ ngân hàng giàu có và có thế lực ngay cả chúa phong kiến cũng phải

chứa các sao bất động. Dựa theo Aristotle, Copernic coi rằng các thiên thể chuyển động theo các
quỹ đạo tròn với tốc độ không đổi, và đó là một điều sai lầm. So với thuyết Ptolemy, thuyết
Copernic mô tả chuyển động của các hành tinh một cách đơn giản hơn, làm cho việc tính toán vị
trí các hành tinh trên bầu trời cũng đơn giản đi rất nhiều và do đó rất thuận lợi cho các nhà hàng
hải. Tuy nhiên cái vĩ đại nhất của thuyết Copernic là nó chuyển tâm vũ trụ từ Trái Đất sang Mặt
Trời, coi Trái Đất cũng chỉ là một hành tinh bình thường của Mặt Trời, bác bỏ những giáo điều
của Aristotle và của giáo hội thiên chúa giáo về sự phân biệt thế giới trên trời và thế giới dưới
đất, bác bỏ vai trò cao cả đặc biệt của Trái Đất trong vũ trụ. Nó đặt cơ sở ban đầu cho một quan
niệm về một vũ trụ thống nhất, trong đó những định luật vật lí do con người tìm ra trên Trái Đất
cũng có giá trị đối với bất kì nơi nào khác trong vũ trụ.
Đối với Copernic, ông coi chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời là chuyển động thật.
Về thực chất, ông coi thuyết nhật tâm là một chân lí khoa học chứ không phải là một giả thuyết
thuận tiện nhưng có thể đúng hoặc sai.
3.1.2. Cuộc đấu tranh cho hệ nhật tâm
Tác phẩm của Copernic đã mở đầu một cuộc cách mạch khoa học, đã đặt ra một loạt vấn
đề quan trọng cần giải quyết. Trước hết, cần thực hiện thêm những quan trắc thiên văn chính xác
để kiểm tra và hoàn chỉnh lí thuyết về hệ nhật tâm. Sau nữa, thuyết Copernic mới chỉ mô tả
chuyển động của các hành tinh mà chưa giải thích nó. Vì vậy cần xây dựng cơ sở vật lí của hệ
nhật tâm, tức là cần tìm ra những nguyên nhân vật lí gắn bó các hành tinh với Mặt Trời thành
một hệ bền vững. Đó là một cách tiếp cận hoàn toàn mới đối với khoa học. Muốn làm như vậy
cần có những dụng cụ quan sát và đo đạc chính xác và những phương pháp tính toán hữu hiệu.
Nhưng khi đó vật lí học chưa phát minh ra kính thiên văn, toán học chưa có các phép tính vi
phân. Thiên văn học đòi hỏi vật lí và toán học phải phát triển hơn nữa.
Cuộc đấu tranh cho hệ nhật tâm phải kéo dài mấy chục năm liền, trong đó nổi bật lên vai
trò của Bruno và Keplerr.
Bruno (1548 – 1600) là nhà văn, nhà thơ, nhà bác học suốt đời không mệt mỏi truyền bá,
bảo vệ và phát triển thuyết Copernic. Ông tin tưởng sâu sắc vào thuyết nhật tâm, ông còn đi xa
hơn nữa và chủ trương rằng hệ nhật tâm của Copernic không phải là duy nhất, rằng vũ trụ là vô
tận (thêm một điểm nữa trái với Aristotle và kinh thánh) và trong vũ trụ còn có vô số Mặt Trời
khác, vô số Trái Đất khác và vô số các hệ nhật tâm khác nữa giống như hệ nhật tâm của chúng

cơ sở đáng tin cậy để các nhà khoa học khác tiếp tục nghiên cứu và củng cố thuyết Copernic.
Mùa đông năm 1630 Keplerr qua đời sau khi bị cảm lạnh trong một chuyến đi vất vả để đòi
tiền lương mà đã lâu ngày ông chưa được nhận.
3.2. Sự ra đời của vật lí học thực nghiệm
3.2.1. Galileo và sự phát triển thuyết nhật tâm
Galileo (1564 – 1642 ) sinh ra tại Piza và học ở đại học Piza (Italia). Năm 25 tuổi ông được
nhận làm giáo sư giảng dạy tại trường đại học Piza. Ngay sau đó, ông đã tiến hành một thí
nghiệm nổi tiếng đó là thả rơi các quả cầu làm bằng những vật liệu khác nhau xuống từ một độ
cao trên tháp nghiêng Piza. Thí nghiệm đã chứng tỏ rằng các vật có khối lượng khác nhau rơi
xuống đất hầu như cùng một lúc. Điều này đã bác bỏ luận điểm của Aristot cho rằng vận tốc rơi
tỉ lệ thuận với trọng lượng của vật. thí nghiệm này có ý nghĩa rất to lớn, nó cho thấy rằng muốn
có được những tri thức khoa học thì phải quan sát thiên nhiên và phải tiến hành những thí
nghiệm. Ông cũng bác bỏ quyền phán xét của Aristot và của kinh thánh đối với chân lý khoa học
Gallileo cũng hiểu rằng muốn rút ra những kết quả khoa học từ thí nghiệm thực tế thì cần
phải loại bỏ những yếu tố ngoại lai ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Do đó, ông đã sử dụng
những quả cầu có hình dạng giống hệt nhau, chỉ để tập trung vào ảnh hưởng của trọng lực, và
giải thích sự khác nhau rất nhỏ về thời gian rơi có liên quan đến lực cản của không khí. Thí
nghiệm của ông được coi là sự mở đầu của khoa học thực nghiệm.
Khi thấy công việc ở Piza không thuận lợi, ông đã nhận lời mời làm việc tại đại học
Padova. Tại đây ông đã tự tìm hiểu cách nấu, mài thủy tinh, tự tay làm ra thấu kính và lắp ráp
thành các kính viễn vọng ngày càng chính xác và có độ phóng đại cao hơn. Đêm rạng sáng ngày
7/1/1610 ông đã hướng ống kính của mình lên bầu trời và tiến hành buổi quan sát thiên văn đầu
tiên của loài người bằng kính thiên văn. Ông đã quan sát bề mặt của mặt trăng và thấy các chỏm
núi, các miệng núi lửa và kết luận rằng bề mặt của mặt trăng lồi lõm chứ không bằng phẳng nhẵn
nhụi như những gì Aristotle đã nói. Ông cũng đã quan sát thấy 4 vệ tinh của sao Mộc và thấy dải
ngân hà thực chất là gồm vô số các sao chứ không phải là một dải sáng liên tục. Từ các quan sát
thực tế đó ông đã bác bỏ sự tồn tại của thế giới trên trời và thế giới mặt đất, về vị trí đặc biệt của
Trái Đất.
Các quan sát thiên văn của ông có ý nghĩa rất to lớn trong việc giúp con người tìm hiểu về
bản chất của vũ trụ nhưng không phải ai cũng đồng tình với ông, đặc biệt là những nhà khoa học

trệ không phát triển được là do cản trở của tôn giáo và chủ nghĩa kinh viện. Ông cũng đã khẳng
định rằng mục đích khoa học là mang lại cho đời sống những phát minh mới và những phúc lợi
mới do vậy phải tìm ra cho khoa học phương pháp khoa học mới và tổ chức mới.
Bacon coi thí nghiệm là cơ sở của phương pháp khoa học. Dựa vào thí nghiệm, thực tiễn
và sử dụng phương pháp quy nạp, nhà khoa học phải xây dựng được những kết luận khái quát.
Từ những sự kiện riêng lẻ đến sự khái quát hẹp và dần tới sự khái quát rộng hơn. Phương pháp
khoa học của Bacon đã phủ nhận hoàn toàn uy tín của Aristotle và tôn giáo trong khoa học.
Phương pháp khoa học của Bacon đã được Descartes (Đềcác) (1596 – 1650 ) bổ sung bằng
phương pháp diễn dịch và trình bày trong cuốn “Luận về phương pháp”. Ông cho rằng con người
khi đủ thận trọng và biết lập luận chặt chẽ thì có thể dùng phương pháp chứng minh logic đi từ
những điều đơn giản và rút dần ra những kết luận chặt chẽ. Bất kì một luận điểm nào chưa được
chứng minh thì đều là đáng nghi ngờ mặc dù đó là lời của Aristotle hay viện dẫn trong kinh
thánh. Descartes tin tưởng mãnh liệt vào áp dụng phương pháp toán học để nghiên cứu vật lí học,
đưa những đại lượng biến đổi vào toán học và đặt cơ sở ban đầu cho hình học giải tích.
Phương pháp quy nạp và diễn dịch đã ra đời từ thời Hi Lạp cổ đại. Bacon và Descartes đã
phát triển và vận dụng chúng vào khoa học tự nhiên. Phương pháp khoa học phải là phương pháp
kết hợp một cách thích hợp giữa quy nạp và diễn dịch.
3.2.3. Tổ chức mới trong khoa học
Bên cạnh phương pháp mới, khoa học muốn phát triển cao hơn cần phải có tổ chức mới.
Bacon đã nêu lên việc nghiên cứu khoa học phải được tổ chức như một hoạt động tập thể và
được xã hội bảo trợ.
Năm 1603 ở Italia đã thành lập “Viện hàn lâm mắt linh miêu” do một người quý tộc tổ
chức và tài trợ. Các nhà khoa học đã quy tụ lại đây và có thời kì bảo vệ các nghiên cứu của
Galileo. Sau đó nó bị giáo hội đàn áp phải tổ chức lại nhiều lần và đến năm 1944 trở thành “Viện
hàn lâm quốc gia mắt linh miêu”. Năm 1657 thành lập “Viện hàn lâm thí nghiệm Florenxia” gồm
những học trò của Galileo và những người ủng hộ ông. Năm 1667 do áp lực của giáo hội, viện
hàn lâm tự giải tán. Năm 1660 ở London thành lập “Hội hoàng gia” nhằm thúc đẩy sự phát triển
của triết học thực nghiệm, nó tồn tại hoạt động và phát triển đến tận ngày nay.
Các viện hàn lâm khoa học là những trung tâm khoa học mới được các nước tài trợ. Các
nhà khoa học tham gia nghiên cứu được tự mình tổ chức hội thảo, công bố công trình của mình

công bố sau khi ông mất, lúc đó Huygens (Huyghenxơ) đã đăng kí phát minh của mình về đồng
hồ con lắc. Sự phát minh đồng hồ con lắc có tầm quan trọng rất lớn trong khoa học và kĩ thuật,
đặc biệt đối với ngành hàng hải đang phát triển mạnh để xác định vị trí con tàu trên biển.
Torricelli (Torixenli) (1608 – 1674) là học trò và là người kế tục Galileo. Ông là người đầu
tiên chứng minh bằng thực nghiệm sự tồn tại của áp suất khí quyển và của “chân không
Torricelli ”. Trong ống Torricelli , trái với khẳng định của Aristotle rằng trong thiên nhiên không
thể có chân không. Độ cao của cột thủy ngân trong ống Torricelli biểu thị áp suất của khí quyển
và biến đổi theo thời tiết. Ống Torricelli là phong vũ biểu đầu tiên của nhân loại và bắt đầu từ thí
nghiệm của Torricelli thì khí tượng học đã ra đời dựa vào những cái đo được trong các hiện
tượng thiên nhiên.
Pascal (Paxcan) (1623 – 1662) đã phát minh ra định luật truyền áp suất trong chất lỏng,
định luật bình thông nhau và lí thuyết máy ép dùng nước. Ông đã làm thí nghiệm Torricelli ở
chân núi và đỉnh núi và chứng minh rằng áp suất khí quyển giảm theo độ cao. Như vậy, ống
Torricelli lại có thêm một công dụng là dùng làm dụng cụ đo độ cao.
Boyle (Bôi) (1627 – 1691) dùng một ống thủy tinh hình chữ U có nhánh ngắn bịt kín và đổ
thủy ngân vào nhánh dài để nghiên cứu tính đàn hồi của không khí. Ông đã tìm ra rằng độ cao
cột thủy ngân ở nhánh dài (biểu thị áp suất của không khí trong nhánh ngắn) tỉ lệ nghịch với thể
tích không khí trong nhánh ngắn. Sau đó Mariotte (Mariôt) (1620 – 1684) độc lập với Boyle ,
cũng làm thí nghiệm và đi đến kết quả tương tự. Định luật về mối quan hệ giữa thể tích và áp
suất của một chất khí sau này mang tên định luật Boyle – Mariotte .
Otto guericke (Oto Gherich) (1602 – 1685) công nhận sự tồn tại của chân không và tìm
cách tạo ra những lượng chân không đủ lớn để làm thí nghiệm. Ông đã chế tạo và cải tiến máy
bơm chân không, và đã biểu diễn thí nghiệm nổi tiếng và ngoạn mục về các bán cầu Macdobua:
mười sáu con ngựa kéo về hai phía mà không làm tách rời nhau ra, chứng tỏ rằng sức mạnh của
áp suất khí quyển là rất lớn. Ông cũng đã công bố một cuốn sách mô tả nhiều thí nghiệm mà ông
đã làm, cho phép thấy rõ sức mạnh của áp suất khí quyển và khả năng ứng dụng áp suất khí
quyển trong kĩ thuật.
Quang học cũng phát triển song song với cơ học. Lúc đầu những người thợ thủ công Hà
Lan đã chế tạo ra ống nhòm để xem hát mà chưa hề biết định luật khúc xạ ánh sáng. Keplerr đã
cải tiến ống nhòm, chế tạo các kính viễn vọng, kính thiên văn dùng cho mục đích khoa học mà

từ khi thuyết Copernic ra đời đã vượt xa những thành tích của hơn một nghìn năm trước đó.
Chính điều đó nói lên sức sống của vật lí học thực nghiệm.
*) Tài liệu học tập
1. Đào Văn Phúc (2002), Lịch sử vật lí học (giáo trình CĐSP), NXBGD, Hà Nội.
*) Câu hỏi, bài tập, nội dung ôn tập và thảo luận
Câu 1. Nêu nội dung và ý nghĩa của học thuyết Copernic, hệ nhật tâm? Phân tích vai trò của nó
trong sự phát triển của vật lí học.
Câu 2. Phân tích hoàn cảnh ra đời của vật lí thực nghiệm và vai trò của nó trong sự phát triển
của khoa học nói chung và của vật lí học nói riêng.
Câu 3. So sánh thuyết nhật tâm của Copernic với thuyết địa tâm của Ptolemy và chỉ ra những
điểm mới, tiến bộ hơn của thuyết Copernic.
CHƯƠNG 4
Cơ học Newton và sự hoàn thành cuộc cách mạng khoa học
Số tiết: 4 (Lí thuyết: ,BT, TL: )
*) Mục tiêu:
- Kiến thức: Sinh viên phải:
+ Hiểu được nội dung cơ bản của vũ trụ học Descartes.
+ Biết được quá trình hoàn thành cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất.
+ Biết được cuộc đời và sự nghiệp của Newton, phân tích được những đóng góp to lớn của
thế giới quan của ông đối với sự phát triển của vật lí học.
+ Hiểu được nội dung chính trong cơ học Newton: các khái niệm cơ bản, không gian và
thời gian, các định luật Newton. Từ đó đánh giá được tầm quan trọng của cơ học Newton trong
sự phát triển của vật lí học.
+ Biết được nội dung của phương pháp thực nghiệm trong vật lí.
- Thái độ: Tích cực, tự giác tìm hiểu bài học và các nội dung liên quan, tham gia thảo luận
nhóm một cách hợp tác, có hiệu quả.
4.1. Vũ trụ học Descartes (Descartes) (tự học)
Xuất phát từ một số ít những nguyên lý tổng quát nhất và đơn giản nhất, nhà bác học
Descartes đã sử dụng phương pháp diễn dịch để suy ra một nguyên lý tổng quát về vũ trụ. Ông
đã công bố công trình nghiên cứu đó của mình trong cuốn “Những nguyên lý triết học” xuất bản

sản và tầng lớp quý tộc mới. Nước Anh khi này đã trở thành cường quốc hàng hải và phát triển
mạnh chủ nghĩa tư bản. Cuộc cách mạng tư sản Anh muốn làm dịu sự đối lập giữa khoa học và
tôn giáo, muốn gắn những vấn đề của khoa học với vấn đề đức tin với chúa. Tất cả những tư
tưởng này và hoàn cảnh đó đã ảnh hưởng nhiều đến thế giới quan và sự sáng tạo khoa học của
Newton. Ông đã có đóng góp rất lớn trong 3 lĩnh vực: toán học, cơ học và quang học.
4.2.1. Toán học
Ông đã thực hiện xây dựng toán học của những đại lượng biến thiên: dựng tiếp tuyến
đường cong, tính diện tích giới hạn bởi đường cong, tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của một
hàm…Độc lập với nhà toán học Leibniz, ông cũng tìm ra phép vi phân, tích phân, giới hạn. Phân
biệt các đại lượng vô cùng nhỏ và các đại lượng nhỏ hữu hạn, các nguyên tử toán học.
4.2.2. Quang học.
Newton đã nghiên cứu quang học từ năm 1665, thực hiện thí nghiệm nghiên cứu sự tán sắc
của ánh sáng khi đi qua lăng kính và nghiên cứu tính chất của quang phổ. Từ thí nghiệm này ông
cũng nhận thấy ánh sáng đơn sắc không đổi màu khi khúc xạ và phản xạ. Ông nhận thấy kính
thiên văn làm từ thấu kính bị mắc sai số do hiện tượng sắc sai là hiện tượng không thể loại bỏ
được bằng cách mài giũa thấu kính, do đó ông đã nghiên cứu và chế tạo ra kính thiên văn phản
xạ. Newton cũng là người đầu tiên phát hiện ra tính tuần hoàn trong các đại lượng quang học,
một đặc trưng của sóng ánh sáng mặc dù ông vẫn phủ nhận thuyết sóng. Ông giải thích rằng,
phải quan niệm tia sáng là một chùm hạt có thể gây ra sóng, nhưng nó không phải là sóng vì nó
truyền được trong chân không.
Newton đã có những đóng góp cơ bản trong quang học và toán học nhưng thành tựu lớn
nhất của ông là trong cơ học
4.3. Cơ học Newton
Newton đã bắt đầu nghiên cứu về cơ học và quang học từ khi còn là sinh viên. Tuy nhiên,
do một số công trình của ông khi công bố gây ra sự tranh cãi về bản quyền phát minh nên sau đó,
ông không công khai những công trình của mình nữa mà chỉ nghiên cứu trong thầm lặng.
Vào thời đó, Halley (Halây), một nhà bác học có nhiều tài đã dựa vào các số liệu thiên văn
đo đạc được để tính lực hấp dẫn giữa Mặt Trời và các hành tinh. Kết quả đưa ra là lực này tỉ lệ
nghịch với bình phương khoảng cách giữa Mặt Trời và các hành tinh. Tuy nhiên, ông không thể
từ định luật đó chứng minh định luật I của Kepler. Với những trăn trở của mình ông tìm đến

- Vị trí tuyệt đối là phần không gian tuyệt đối mà vật chiếm chỗ. Vị trí tương đối là phần
không gian tương đối mà vật chiếm chỗ.
- Chuyển động tuyệt đối là sự dời từ vị trí tuyệt đối này sang vị trí tuyệt đối khác. Chuyển
động tương đối là sự dời từ vị trí tương đối này sang vị trí tương đối khác.
Vì không gian tuyệt đối và thời gian tuyệt đối không gắn liền với vật chất nên ta không thể
phát hiện được chúng. Theo Newton nhiệm vụ của trết học tự nhiên là phát hiện ra chuyển động
tuyệt đối và nghiên cứu những quy luật của chúng.
4.3.3. Những định luật cơ bản của cơ học Newton
Phương pháp của Newton là từ khảo sát các hiện tượng suy ra các nguyên lý tổng quát và
từ nguyên lý đó suy sa các tính chất của vật chất.
- Định luật 1: Bất kì vật nào cũng giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng
đều của nó chừng nào nó còn chưa chịu lực tác dụng bắt nó phải thay đổi trạng thái đó.
- Định luật 2: Sự biến thiên động lượng của vật tỉ lệ với lực gây ra chuyển động và diễn ra
theo phương của lực đó.
- Định luật 3: Trong tương tác giữa hai vật thì tác dụng và phản tác dụng bao giờ cũng bằng
nhau về độ lớn và có hướng ngược nhau.
Chuyển động trong định luật 1, 2 là chuyển động tuyệt đối. Ông không nêu ra nguyên nhân
vật lí của tương tác.
4.3.4. Định luật vạn vật hấp dẫn
Newton đã sử dụng động lực học của mình với các lực từ xa để nghiên cứu chuyển động
các hành tinh, đặt cơ sở cho hệ nhật tâm Copernic.
Dựa vào các số liệu thiên văn quan sát và đo đạc, ông đi đến kết luận: Lực mà Trái Đất tác
dụng lên mặt trăng cùng là loại lực mà Trái Đất tác dụng lên các vật ở trên mặt đất. Nó tỉ lệ
nghịch với bình phương khoảng cách từ Trái Đất tới mặt trăng:
1 2
2
m m
F G
r
=

- Quy tắc 4: Trong thực nghiệm những mệnh đề suy ra bằng phép quy nạp từ các hiện tượng
diễn ra phải được coi là chính xác hoặc gần đúng trong khi chưa phát hiện ra những hiện
tượng làm cho mệnh đề đó được chính xác hơn hoặc phải có ngoại lệ.
Bốn quy tắc này thể hiện phương pháp quy nạp thực nghiệm: Đi từ tri thức bộ phận đến
những tri thức tổng quát hơn và đến những lý thuyết, định luật, học thuyết. Tuy nhiên 4 quy
tắc này chưa nói hết được nội dung của phương pháp thực nghiệm: phương pháp thực
nghiệm phải có sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực nghiệm , giữa quy nạp và diễn dịch
Ngày nay, chúng ta có thể hiểu nội dung của phương pháp thực nghiệm như sau:
- Xuất phát từ thí nghiệm, quan sát, nhà khoa học xây dựng giả thuyết.
- Bằng suy luận toán học và logic từ giả thuyết các nhà khoa học rút ra một số hệ quả và tiên
đoán những sự kiện chưa biết.
- Kiểm tra lại bằng thực nghiệm những hệ quả và sự kiện ở trên.
Nếu thực nghiệm phản ánh đúng so với giả thuyết khoa học thì phải coi giả thuyết đó là
đúng hoặc là gần đúng trong khi chưa có những sự kiện mới phát sinh để xem lại lý thuyết đó.
Phương pháp thực nghiệm phải được hiểu theo nghĩa rộng là nhằm mục đích nhận thức
thiên nhiên. Tuy nhiên trong quá trình tìm kiếm chân lý khoa học không phải nhà vật lí nào cũng
đi đủ 3 bước như trên mà học phải nối tiếp nhau trong quá trình nghiên cứu, người này tiếp nối
những kết quả đã đạt được của người trước, hoàn thành quá trình chiếm lĩnh tri thức mới.
*) Tài liệu học tập
1. Đào Văn Phúc (2002), Lịch sử vật lí học (giáo trình CĐSP), NXBGD, Hà Nội.
*) Câu hỏi, bài tập, nội dung ôn tập và thảo luận
Câu 1. Nêu nội dung cơ bản của vũ trụ học Descartes.
Câu 2. Nêu những điểm chính trong cuộc đời, sự nghiệp của Newton và phân tích ảnh hưởng
của thế giới quan khoa học Newton tới sự phát triển của vật lí học.
Câu 3. Phân tích các khái niệm cơ bản, các định luật cơ bản trong cơ học của Newton và đánh
giá vai trò của cơ học Newton đối với sự phát triển của vật lí học.
CHƯƠNG 5
Bước đầu hình thành vật lí học cổ điển
Số tiết: 4 (lí thuyết: , BT, TL: )
*) Mục tiêu:

đời khi đang có sự đấu tranh giữa hai trường phái Newton và Descartes. Lý thuyết của hai phái
này nhiều khi dẫn đến những kết quả trái ngược nhau.
Clairaunt (Clêrô) (1713 – 1765) là một thành viên của đoàn khảo sát đã công bố công trình
“Lí thuyết về hình dạng Trái Đất” là một sự phát triển của học thuyết Newton. Công trình nổi
tiếng nhất của Clairaunt có đóng góp xuất sắc vào khẳng định học thuyết Newton là sự phân tích
quỹ đạo của sao chổi Halley.
Halley(1656 – 1742) là nhà khoa học nhiều tài năng. Ông bắt đầu quan sát sao chổi vào các
năm 1680 và 1682. Dựa vào các kết quả nghiên cứu về sao chổi đã có và từ những tài liệu ông bỏ
công sức tìm kiếm ông nhận thấy rằng quỹ đạo sao chổi vào các năm 1531, 1607, 1682 giống
nhau một cách kì lạ. Ông cho rằng đó là quỹ đạo của cùng một sao chổi, có chu kì rất lớn. Ông
đã tính toán được chu kì đó là 76 năm và dự báo đến cuối 1758 đầu 1759 sẽ lại xuất hiện.
Clairaunt lại là người đảm nhận vai trò tính toán lại quỹ đạo sao chổi năm 1682. Trong các
phép tính phải tính đến sự nhiễu loạn của Mộc tinh và Thổ tinh. Với những phép toán khổng lồ,
một mình Clairaunt không thể giải quyết nổi vì thế ông đã yêu cầu sự giúp đỡ của 2 nhà toán
học nổi tiếng lúc đó. Ba nhà toán học kiệt xuất đã làm việc miệt mài và kết quả là, dự báo sao
chổi sẽ xuất hiện khoảng giữa tháng 4 năm 1759 sai số 1 tháng. Sự thật thì sao chổi đã xuất hiện
sớm hơn 32 ngày so với dự tính , vào ngày 13/3/1759 nó đi qua điểm cận nhật, kết quả này vẫn
nằm trong sai số cho phép. Một lần nữa, kết quả mà các nhà thiên văn học đạt được đã khẳng
định sự đúng đắn của định luật hấp dẫn và tính hiệu quả của việc đưa giải tích vào cơ học.
Để phát triển cơ học Newton các nhà khoa học thế kỉ XVIII không chỉ cải tiến phương
pháp trình bày của cơ học Newton mà còn tìm ra hướng đi mới cho nó, cơ học lí thuyết được ra
đời vào thời kì đó. Nội dung là tìm ra những nguyên lý, định luật tương đương với các định luật
cơ học của Newton hoặc tổng quát hơn và trình bày nội dung cơ học Newton với nội dung mới
và phương pháp mới.
Với những nguyên lý như vậy nhằm thay thế cho các định luật Newton các nhà toán học đã
xây dựng lại cơ học Newton theo một kiểu mới. Năm 1768, Lagrange (1736 – 1813) cho xuất
bản công trình mới về cơ học trong đó các bài toán cơ học đều được đưa về giải phương trình vi
phân. Ông đã nêu ra phương trình cơ bản và tổng quát mà ngày nay gọi là phương trình
Lagrange và được áp dụng rộng rãi không chỉ trong cơ học, nhiệt học, mà cả điện động lực học
và vật lí phân tử.

tra xem các điểm cố định trong thang nhiệt độ Réaumur có đúng không. Kết quả ông thu được là
trong mọi trường hợp, nhiệt độ của tuyết đang tan đúng là điểm cố định và nhiệt độ sôi của nước
phụ thuộc áp suất khí quyển. Ông đề nghị chọn điểm 100
0
là nhiệt độ nóng chảy của nước đá và
0
0
là điểm sôi của nước ở 760mmHg. Sau đó Linné (Linê) đã đảo lại và đề nghị lấy 0
0
là nhiệt độ
nóng chảy của nước đá và 100
0
là độ sôi của nước. Thang nhiệt độ này gọi là nhiệt độ Celsius và
còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Trích đoạn Young và cuộc mở đầu cuộc đấu tranh cho quang học sóng Joule và việc xây dựng cơ sở thực nghiệm cho định luật bảo toàn và chuyển hóa năng Việc tiếp tục củng cố và phát triển định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Sự phát triển thuyết động học phân tử Vật lí thống kê
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status