ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TẠI THỊ TRẤN NGHÈN, HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH - Pdf 33

bộ giáo dục và đào tạo
trờng đạI học nông nghiệp hà nội


luận văn
tốt nghiệp đại học
Đề tài:

NH GI TC NG CA DN IN I THA
N PHT TRIN KINH T H NễNG DN
TI TH TRN NGHẩN, HUYN CAN LC, TNH H TNH

Sinh viên thực hiện

: ngô việt phơng

Lớp

: KT A - K50

Khoa

: Kinh tế và Phát triển nông thôn

Giáo viên hớng dẫn

: ThS. Nguyễn thị tuyết lan


Luận văn tốt nghiệp đại học


2.2.3 Một số mô hình dồn điền đổi thửa của các địa phương ở nước
ta ................................................................................................................27
2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan ..............................................32
PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................34
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .............................................................34
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Thị trấn Nghèn .......................................34
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội .............................................................35
3.2 Phương pháp nghiên cứu .......................................................................44
3.2.1 Phương pháp chọn điểm (***).......................................................44
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu........................................................44
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin ..........................................................45
3.2.4 Phương pháp phân tích ..................................................................46
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài .....................................47
PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...................................................48
4.1 Quá trình dồn điền đổi thửa tại thị trấn Nghèn.................................48
4.1.1 Thực trạng đất đai Thị trấn Nghèn sau khi giao đất theo Nghị
định 64/CP năm 1993...............................................................................48
4.1.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ở thị trấn Nghèn...........................50
a) Căn cứ thực hiện..................................................................................50

i


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

b) Mục đích..............................................................................................51


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCHTW

:

Ban chấp hành trung ương

CCRĐ

:

Cải cách ruộng đất

CHXHCN

:

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

CN – TTCN

:

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

CNH – HĐH

:


Đồng bằng sông Cửu Long

GCNQSDĐ

:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

GĐLH

:

Gặt đập liên hợp

GTSX

:

Giá trị sản xuất

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

HTX

:


Nghị quyết chính phủ

NQ/TW

:

Nghị quyết/Trung ương

UBND

:

Uỷ ban nhân dân

TMDV

:

Thương mại dịch vụ

TNBQ

:

Thu nhập bình quân

TT – TCĐC

:


Bảng 11: So sánh số thửa theo các mức diện tích thửa ruộng
trước và sau dồn điền đổi thửa tại Thị trấn ................................59
Bảng 12: Một số thông tin cơ bản về các nhóm hộ điều tra. .....62
Bảng 13: Tình hình ruộng đất ở các nhóm hộ.............................64
Bảng 14: So sánh tình hình trao đổi ruộng đất giữa các nhóm hộ
............................................................................................................67
Bảng 15: So sánh tình hình đầu tư cho sản xuất trước và sau
dồn điền đổi thửa ở các hộ. ..........................................................68
Bảng 16: So sánh cơ cấu lao động các hộ trước và sau
dồn điền đổi thửa ...........................................................................71
Bảng 17: Cơ cấu diện tích nuôi trồng của các nhóm hộ..............73
Bảng 18: Công thức luân canh 3 vụ chủ yếu mà các hộ đang áp
dụng...................................................................................................74
Bảng 19: So sánh kết quả sản xuất nông nghiệp trước và sau
chuyển đổi........................................................................................76
(ĐVT: Triệu đồng)...........................................................................76
Bảng 20: So sánh năng suất của một số giống lúa chính trước và
sau dồn điền đổi thửa ở các hộ......................................................77
Bảng 21: Kết quả sản xuất sau khi dồn điền đổi thửa của mô
hình ông Bùi Văn Thao (HTX Bắc Sơn)........................................79

iv


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

Bảng 22: So sánh thu nhập của các hộ trước và sau
dồn điền đổi thửa...........................................................................79

sử dụng được các dịch vụ công nghiệp, giao thông, điện, thủy lợi, phân bón, thuốc
trừ sâu bệnh, v.v. và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp. Từng người
nông dân, hộ gia đình nông dân hay một nhóm hộ gia đình có năng lực làm nông
nghiệp có thể tập trung ruộng đất hình thành các trang trại để có một địa bàn hoạt
động rộng hơn, đa dạng hơn và công nghiệp hơn.
Ngày 30/7/1994, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII đã ra Nghị quyết số 07-NQ/TW về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm
2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công
nhân trong giai đoạn mới, trong đó xác định nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 5 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết số 15 NQ-TW ngày
18/3/2002 về công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông thôn giai đoạn 2001-2010. Vấn đề
"dồn điền, đổi thửa được đặt ra như một động lực mới cho phát triển sản xuất hàng

1


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

hóa trong kinh tế nông nghiệp. Chính phủ đã quyết định các chính sách khuyến
khích "dồn điền, đổi thửa" trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và
việc ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/0g2/2000 về kinh tế trang
trại.
Ý thức được đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt có ý nghĩa quyết định trong sản
xuất nông nghiệp, cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Huyện Can Lộc
đã tiến hành điều chỉnh, sắp xếp lại đất sản xuất nông nghiệp. Trước năm 2002,
riêng ở Can Lộc bình quân mỗi hộ vẫn còn sản xuất gần 8 thửa, cá biệt có hộ vẫn
còn tới 15 thửa ruộng. Tình hình đó đã ảnh hưởng không tốt đến việc đầu tư thâm

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế hộ
nông dân, phát hiện các vấn đề thực tiễn nảy sinh từ đó đề xuất khuyến nghị nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ nông dân tại thị trấn
Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về tích tụ và tập trung ruộng
đất.
- Phản ánh tình hình dồn điền đổi thửa và đánh giá tác động của dồn điền đổi
thửa đến phát triển kinh tế của các nông hộ tại thị trấn Nghèn.
- Đề xuất một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả của việc dồn điền đổi thửa
trong phát triển kinh tế hộ nông dân tại thị trấn Nghèn.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến dồn điền đổi
thửa.
- Nghiên cứu tác động của việc dồn điền đổi thửa tới phát triển kinh tế hộ
nông dân tại thị trấn Nghèn.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian:
+ Đề tài thu thập:
* Tài liệu thứ cấp năm 2002 và trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm
2008.
* Tài liệu sơ cấp năm 2002 và 2008.
Nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lấy mốc trước dồn
điền đổi thửa là năm 2002 và sau dồn điền đổi thửa là năm 2008.
- Phạm vi không gian:
Nghiên cứu tiến hành trên địa bàn thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà
Tĩnh.


định nghĩa sau: “nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng
đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất, nằm trong hệ thống kinh tế
rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị
trường hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao” ( Ellis – 1988 ). [1]
Hộ nông dân là một xí nghiệp nông nghiệp, là đơn vị sản xuất có qui mô nhỏ

4


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

nhưng hiệu quả.
Kinh tế nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, trong đó nông dân và gia đình
anh ta là chủ. [2]
Khái niệm hộ nông dân được thể hiện đầy đủ thông qua các đặc trưng của hộ
nông dân nói chung. Dù ở đâu nông dân cũng gắn với đất đai và nền sản xuất tự
cung tự cấp, với việc sử dụng lao động và tiền vốn gia đình là chủ yếu. Mục đích
sản xuất của họ trước hết là phục vụ cho tiêu dùng, sau đó mới là sản xuất hàng hóa.
Vì vậy hộ nông dân là một đơn vị kinh tế nhưng vừa là một đơn vị sản xuất lại vừa
là một đơn vị tiêu dùng.
* Phát triển kinh tế hộ nông dân
Là sự thay đổi theo hướng tích cực hơn về các điều kiện sản xuất của hộ, về kết
quả sản xuất, làm tăng lên về thu nhập, cải thiện mức sống của hộ nông dân.
2.1.2 Tác động của tích tụ và tập trung ruộng đất đến sản xuất của nông hộ
Tích tụ và tập trung ruộng đất sẽ phát huy đuợc tính tự chủ của hộ trong việc
ra quyết định sản xuất nông nghiệp. Thể hiện qua sự tăng qui mô sản xuất, lao động,
vật tư, vốn, áp dụng các tiến bộ KHKT để làm tăng giá trị sử dụng đất, thâm canh
tăng vụ để nâng cao hệ số sử dụng đất, nâng cao hiệu quả trong sử dụng đất, tăng

cao; HTX nông nghiệp từ quy mô thôn, đến quy mô toàn xã. Công cuộc HTH nông
nghiệp đã đóng góp phần thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dụng
XHCN ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thực hiện thống nhất đất nước;
- Từng bước tích tụ và tập trung ruộng đất gắn với phân công lại lao động
trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình
Phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng gắn người lao động với tư liệu sản
xuất, với đất đai, với sản phẩm cuối cùng là cây con; hợp tác các lĩnh vực, các khâu,
các công đoạn, các lĩnh vực không gắn trực tiếp với quá trình sinh học ( làm đất,
thủy lợi, bảo vệ thực vật, chế biến, tiêu thụ sản phẩm) với sự hỗ trợ của nhà nước về
vốn, cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ.
Mô hình này đã được phát triển ở các nước Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc từ
sau chiến tranh thế giới thứ 2
Ở Việt Nam trong quá trình Đổi mới từ 1986 đến nay; đặc biệt từ khi có Nghị
Quyết 10 Bộ Chính trị (Khóa 6) , Hiến Pháp 1992, Luật Đất đai 1993 kinh tế hộ gia
đình cá nhân, kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển với việc thực hiện chủ
trương Nhà nước giao đất sản xuất ổn định cho hộ gia đình cá nhân và cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
b/ Nhu cầu tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá
quy mô lớn
Sau hơn 20 mươi năm đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức
thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói

6


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

riêng đã hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Sự hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội



Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

chứng nhận (GCN) đối với đất sản xuất nông nghiệp đã hoàn thành cơ bản (13,99
triệu GCN, với 7,59 triệu ha, đạt 83.8%).
Với các điều kiện trên, thị trường QSDĐ trong khu vực nông thôn, nông
nghiệp là một thị trường tiềm năng. Tuy nhiên, thị trường QSDĐ trong khu vực
nông thôn và nông nghiệp vẫn chưa phát triển.
Theo một kết quả điều tra, nghiên cứu về thị trường quyền sử dụng đất nông
nghiệp, nông thôn: các hộ gia đình cá nhân có xu hướng giữ đất để sản xuất, bình
quân số hộ chuyển nhượng QSDĐ và thuê QSDĐ chỉ chiếm 1 - 2%. Việc thế chấp
QSDĐ khá phổ biến, đặc biệt ở các vùng kinh tế phát triển như Đông Nam Bộ và
ĐBSCL. Việc thế chấp QSDĐ chủ yếu để đầu tư sản xuất nông nghiệp và các nhu
cầu bức xúc của đời sống.
2.1.4 Quan điểm tích tụ và tập trung ruộng đất
a/ Tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao,
xây dựng nông thôn hiện đại bền vững. Tích tụ, tập trung ruộng đất là tất yếu của
phát triển nông nghiệp hàng hoá theo cơ chế thị trường, quá trình tích tụ, tập trung
ruộng đất phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội, giúp nông dân tiếp
cận được ruộng đất để nâng cao đời sống.
b/ Quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất phải gắn với việc chuyển dịch một
phần lớn lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp dịch vụ tại nông thôn và cả ở
đô thị.
Hiện tại, nông dân - đối tượng đông nhất trong xã hội - lại ít được đào tạo
nghề nên tỷ lệ thất nghiệp ở mức báo động, có trên 83% lao động ở nông thôn chưa
qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì (con số từ Bộ LĐTB-XH), trong khi tỷ lệ này ở
thành thị là 49%. 20% lao động ở nông thôn thất nghiệp, tương đương khoảng 4,8

nghiệp, nông thôn. [3]
2.1.5.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của dồn điền đổi thửa đối với phát triển kinh tế
nông hộ
Tập trung ruộng đất là ước nguyện của những người nông dân mạnh dạn, dám
nghĩ, dám làm, mong muốn làm giàu trên đồng đất quê hương.
- Dồn điền đổi thửa tạo ra những thửa đất lớn hơn, các hộ dân có điều kiện áp
dụng cơ giới hoá trong sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thời gian lao động,
giảm công lao động, giảm những hao phí không cần thiết khi ruộng đất manh mún,
phân tán trên nhiều xứ đồng.. Từ đó khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy phân công
lao động trong hộ hợp lý, tạo điều kiện dịch chuyển lao động trong hộ từ sản xuất
nông nghiệp thuần tuý sang hoạt động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp có hiệu
quả kinh tế cao.
- Dồn điền đổi thửa tao điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất với quy mô lớn,
xây dựng nhiều mô hình sản xuất theo hướng hàng hoá, phấn đấu thực hiện cánh

9


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

đồng 50 triệu, tăng thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp.
- Tạo điều kiện giúp hộ nông dân yên tâm sản xuất, giúp hộ chủ động, yên tâm
sản xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất; sản xuất kết hợp những cây trồng, vật
nuôi có hiệu quả, phù hợp với điều kiện nhân lực, vật lực của hộ cũng như điều kiện
tại địa phương.
- Ruộng đất tập trung giúp hộ giảm được công lao động ở một số khâu chủ
yếu, đặc biệt là những lúc chính vụ như thu hoạch, gieo trồng…Từ đó các hộ có
điều kiện tập trung lao động sản xuất ở những lĩnh vực khác, cũng như giúp hộ có

Bước 2: Thành lập Ban chỉ đạo

các cấp

Ban chỉ đạo thuộc cấp nào thì do cấp đó quyết định; tùy tình hình cụ thể từng
huyện, từng xã mà quyết định số lượng thành viên tham gia Ban chỉ đạo. Các thành
viên trong Ban chỉ đạo phải được phân công nhiệm vụ cụ thể. Ban chỉ đạo có trách
nhiệm giúp UBND cùng cấp tổ chức thực hiện việc dồn điền đổi thửa; trực tiếp chỉ
đạo, kiểm tra đôn đốc Ban chỉ đạo cấp dưới hướng dẫn nông dân chuyển đổi ruộng đất
Giúp việc cho ban chỉ đạo ở các cấp là Tổ công tác gồm cán bộ từ các ngành
có thành viên tham gia Ban chỉ đạo; riêng cấp xã được hợp đồng một số lao động từ
5 đến 7 người tùy theo khối lượng công việc.
Bước 3: Chỉ đạo xây dựng phương án dồn điền đổi thửa và hướng dẫn
nghiệp vụ
a/ Điều tra khảo sát hiện trạng, tình hình quản lý và sử dụng đất đai
- Tiến hành điều tra, thống kê chi tiết thực trạng quản lý và sử dụng đất trên
cơ sở đó lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông thủy lợi nội đồng, quy
hoạch sản xuất và lựa chọn phương án thực hiện cho phù hợp.
- Bản đồ hoặc sơ đồ ruộng đất theo hiện trạng, diện tích, danh sách các hộ có
ruộng phải được niêm yết công khai tại từng thôn.
b/ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là kế hoạch sản xuất
cây,con
Xây dựng quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, thủy lợi, quy hoạch
sản xuất để làm cơ sở cho việc xây dựng phương án chuyển đổi ruộng đất.
c/ Tổ chức cho nông dân tự đăng ký chuyển đổi ruộng đất cho nhau
Phát động cho các hộ nông dân tự đăng ký chuyển đổi ruộng đất cho nhau
theo quy hoạch của địa phương (trước hết trong anh em, d

òng họ), số thửa/hộ,


thống nhất theo quy chế dân chủ ở cơ sở thì trình UBNĐ huyện phê duyệt.
e/ Tổ chức cho hộ nông dân đăng ký chuyển đổi ruộng đất cho nhau
Tổ chức cho các hộ nhận ruộng đất trên phương án và trên hồ sơ sổ sách: có
thể áp dụng hình thức đăng ký hoặc bốc thăm nhận ruộng; cho phép các hộ chọn
ghép theo dòng họ hoặc theo thuận lơi tiện canh tiện cư để đăng ký hoặc bốc thăm
nhận ruộng. Lưu ý dù tổ chức đăng ký hoặc bốc thăm thì cũng phải tiến hành theo
thứ tự: đăng ký hoặc bốc thăm ruộng xấu trước, ruộng tốt sau.
f/ Tổ chức dồn điền đổi thửa gắn với huy động lao động công ích để kiến thiết
lại giao thông nội đồng và bờ vùng bờ thửa
Bước 4: Chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn giao ruộng ngoài thực địa
Tổ công tác giúp việc Ban chỉ đạo xã cùng hộ sử dụng đất tiến hành đo đạc
cắm mốc giao ruộng theo mã bốc thăm ngoài thực địa. Lập biên bản giao đất ngoài
thực địa và phiếu trích đo thửa đất để làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bước 5: Hoàn chỉnh hồ sơ địa chính và cấp lại giấy chứng nhận quyển sử
dụng đất

12


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

Sau khi hoàn thành bàn giao đất ngoài thực địa, Ban chỉ đạo xã có trách
nhiệm giúp UBND xã hoàn chỉnh, giao nạp về UBND huyện (qua Phòng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn) các

loại tài liệu đã lập trong quá trình chuyển đổi



Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở thế giới
Việc dồn điền đổi thửa được tiến hành lần đầu tiên trên thế giới tại châu Âu
vào thời Trung cổ.
1/ Tập trung ruộng đất ở Trung Quốc
Từ thời phong kiến đến nay, quyền sở hữu ruộng đất luôn là yếu tố trung tâm
trong mối quan hệ giữa chính quyền và nông dân Trung Quốc. Hiến pháp Trung
Quốc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý; nông
dân chỉ có “quyền sử dụng” đất nông nghiệp theo hợp đồng 30 năm. Quyền sử dụng
đất thuộc sở hữu tập thể, nông dân không được chuyển nhượng hoặc cho thuê vào
mục đích phi nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là chính quyền địa phương có thể thu
hồi đất vào bất cứ lúc nào. Công nghiệp hóa và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm
cho hàng chục triệu nông dân bị mất đất canh tác. Những cuộc biểu tình phản đối của
nông dân bị mất đất là nguyên nhân chính gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc hiện nay.
Một thực tế là ruộng đất ở Trung Quốc rất manh mún, mỗi nông hộ sử dụng
một khoảnh đất nhỏ, bình quân 0,67 héc ta/hộ gia đình. Những nông dân ra thành
phố kiếm việc làm - đã lên tới 200 triệu người trong những năm vừa qua - phải nhờ
người thân canh tác những khoảnh ruộng đó hoặc bỏ ruộng hoang mà không thể bán
đi được. Vì chưa trả đất canh tác lại cho nhà nước, những công nhân nhập cư này
vẫn bị coi là nông dân và chỉ có thể làm những công việc đơn giản, có mức lương
thấp. Trong khi đó, ở thành phố, cư dân đô thị từ lâu đã được phép chuyển nhượng
quyền sử dụng đất không hạn chế và rất nhiều người giàu lên rất nhanh cùng với sự
sôi động của thị trường đất đô thị. Mặt khác, chính quyền địa phương thường xuyên
có những quyết định ảnh hưởng xấu người nông dân.
Quá trình cải cách nông nghiệp chia 2 giai đoạn, giai đoạn một từ năm 1978 1984 và giai đoạn hai từ 1985 - 1990 sau đó đề ra phương hướng phát triển nông

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp, có ảnh
hưởng lớn đến tăng năng suất lao động nông nghiệp. Chính sách ruộng đất hợp lý sẽ
khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên này, nhất là ở những nước mà
nông nghiệp còn chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân. Ở Đài Loan, đầu
tiên Chính phủ thực hiện chính sách giảm tô để giảm bớt gánh nặng cho nông dân,
sau đó đưa ra chính sách "hạn điền" quy định số lượng ruộng đất được phép tư hữu
đối với các chủ đất. Số ruộng đất vượt mức hạn điền được Chính phủ định giá và tạo
điều kiện về tín dụng cho nông dân mua trả góp trong thời hạn dài. Chính sách giao
đất cho nông dân còn được áp dụng đối với cả đất thuộc sở hữu nhà nước. Vì vậy,
người sản xuất nông nghiệp gắn bó với ruộng đất, yên tâm đầu tư, chủ động áp dụng
khoa học – công nghệ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Khi

15


Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngô Việt Phương - KT50A

nông nghiệp phát triển, ruộng đất hạn hẹp đã cản trở nông dân kinh doanh lớn, Chính
phủ Đài Loan đã đưa ra chủ trương khuyến khích nông dân "chung nhau kinh doanh",
"uỷ thác kinh doanh"; "thay mặt kinh doanh" .v.v để tập trung ruộng đất đạt tới quy
mô cần thiết của nông nghiệp hàng hoá, khai thác có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên
đất đai hạn hẹp, thúc đẩy tăng cường nông nghiệp với tốc độ khoảng 4%/năm trong
suốt thời gian từ 1952 – 1981.
3/ Tập trung ruộng đất phát triển trang trại ở Hà Lan
Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình theo chế độ tư hữu.
Tỷ lệ sở hữu đất có tương đối lớn, các trang trại thuê đất sản xuất kinh doanh chỉ chiếm
tỷ lệ nhỏ. Nhưng do quỹ đất nhỏ, bình quân đất theo đầu người ít, việc mở rộng quy
mô trang trại không dễ, biện pháp khả thi vẫn nhờ một phần vào đất thuê.

lượng nông dân làm nông nghiệp không hiệu quả đều rời khỏi nông nghiệp, lọc lại
trong nông nghiệp là lực lượng nông dân làm ăn giỏi, đam mê với nghề nông, ham
muốn lập nghiệp, làm giàu từ nghề nông. Đây là một nguyên nhân quan trọng đảm
bảo hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Hà Lan hơn hẳn
nhiều nước khác trên thế giới.
2.2.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ở nước ta
2.2.2.1 Tình trạng ruộng đất manh mún ở Việt Nam
Nghị quyết 10-TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp (gọi tắt là “Khoán 10”) đã giúp Việt Nam từ nước nhập khẩu lương
thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới. Tuy nhiên, đến nay
“Khoán 10” đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi đất nước bước vào công cuộc
CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Khảo sát mới đây của Viện Quy hoạch và
thiết kế nông nghiệp cho thấy 100% số hộ nông dân cho rằng ruộng đất manh mún
đã gây cản trở cho sản xuất.
Luật đất đai năm 1993 và được sửa đổi bổ sung năm 2003 đã thực hiện công
bằng xã hội, sau đó là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993 và gần đây
là về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài
với mục đích sản xuất nông nghiệp theo phương châm có tốt, có xấu, có gần, có xa.
Điều này đã làm cho số thửa ruộng tăng lên đáng kể. Số thửa sau khi giao đất theo
Nghị định 64/CP ở một số địa phương đã tăng lên hơn 2 lần so với khi thực hiện
khoán theo Chỉ thị 100/CT-TW
Chủ trương dồn điền, đổi thửa được xem là nhu cầu cấp bách để phát triển
nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới. Theo thống kê của Cục Kinh tế hợp tác
và phát triển nông thôn, năm 2003, cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ
có 6,8 thửa với khoảng 0,3-0,5 ha/hộ, trong đó đất lúa từ 200 m 2 đến 400 m2/thửa,
đất rau màu dưới 100 m2/thửa, đất trồng cây lâu năm, cây cho thu nhập cao còn
manh mún hơn…Điều này đã hạn chế đáng kể công cuộc CNH – HĐH nông

17


30
Tây nguyên
5
25
Đông nam bộ
4
15
Đồng bằng sông Cửu long
3
10
(Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)[5]
Vùng

Diện tích BQ (m2)/thửa
Đất lúa
Đất rau
150 - 300
100 – 150
300 - 400
100 – 150
300 - 500
200 – 300
300 - 1000
200 – 1000
200 - 500
1000 – 5000
1000 – 3000 1000 – 5000
3000 - 5000
500 – 1000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status