đánh giá tác động của quá trình dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế hộ nông dân xã tân dân - huyện sóc sơn – t.p hà nội - Pdf 25

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Khóa luận
này là hoàn toàn trung thực và khách quan. Các thông tin tài liệu trích dẫn
trong Khóa luận đã được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Lan
ii

LỜI CẢM ƠN

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới T.S Lê Kim Chi –
người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình học tập cũng như vệc thực
hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học viện cùng toàn thể các

1.1. Một số khái niệm liên quan 5
1.1.1. Đất đai 5
1.1.2. Đất nông nghiệp 5
1.1.3. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6
1.1.4. Tích tụ và tập trung ruộng đất 8
1.1.5. Tác động của tích tụ và tập trung ruộng đất đến sản xuất của nông hộ 9
1.1.6. Tính tất yếu của tích tụ và tập trung ruộng đất 10
1.1.7. Đổi đất 11
1.1.8. Dồn điền đổi thửa 12
1.1.1.9. Sự cần thiết và vai trò của dồn điền đổi thửa - Mô hình cánh đồng
mẫu lớn 12
1.2. Một số chỉ tiêu đánh giá quá trình dồn điền đổi thửa 15
1.3. Thực tiễn quá trình dồn điền đổi thửa trong cả nƣớc, T.P Hà Nội và
huyện Sóc Sơn trong thời gian vừa qua 16
1.3.1. Một số kết quả dồn điền đổi thửa đạt được 16
1.3.2. Những vấn đề tồn tại 19
1.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại 20
iv

CHƢƠNG II. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở
XÃ TÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN VỪA QUA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
NÓ ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 22
2.1. Khái quát về xã Tân Dân 22
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 22
2.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội 24
2.1.3. Tình hình phân bố và sử dụng đất 26
2.2. Các nhân tố tác động đến quá trình dồn điền đổi thửa 29
2.2.1. Những thuận lợi 29
2.2.2. Những khó khăn, tồn tại 30
2.3. Thực trạng quá trình dồn điền đổi thửa ở xã Tân Dân 31

KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 vi

DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU
STT
Tên bảng
Trang
I. Danh mục bản đồ
1
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất
34
2
Bản đồ định hướng sử dụng đất
62
3
Bản đồ phân vùng sản xuất
67
II. Danh mục bảng số liệu

11
So sánh cơ cấu lao động các hộ trước và sau dồn điền đổi thửa
39
12
Cơ cấu diện tích nuôi trồng của các nhóm hộ
41
13
Công thức luân canh 3 vụ chủ yếu mà các hộ đang áp dụng
42
14
So sánh kết quả sản xuất nông nghiệp trước và sau chuyển đổi
44
15
So sánh năng suất của một số giống lúa chính trước và sau dồn điền
đổi thửa ở các hộ
46
16
So sánh thu nhập của các hộ trước và sau dồn điền đổi thửa
48
vii

17
So sánh mức độ cơ giới hóa trước và sau chuyển đổi
49
18
Sự thay đổi công gia đình trước và sau dồn điền đổi thửa
50
STT
Tên bảng
Trang

Cơ cấu kinh tế giữa các ngành trước và sau dồn điền đổi thửa
51 viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Nghĩa đầy đủ
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DĐ ĐT
Dồn điền đổi thửa
DV
Dịch vụ
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
KHKT
Khoa học kỹ thuật

đã đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần đưa đất nước thoát ra khỏi khủng
hoảng, lạc hậu, đói nghèo từng bước trở thành nước có thu nhập trung bình và
bước vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên đến nay nông nghiệp Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều
thách thức to lớn trong bối cảnh phát triển mới của đất nước ở thời kỳ hội nhập
sâu vào nền kinh tế Quốc tế. Nhiều vấn đề bức thiết đang đặt ra cho nông nghiệp
Việt Nam, một trong số đó là vấn đề manh mún ruộng đất dẫn tới trình độ thâm
canh của người dân còn thấp, sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, chưa tập
trung vào sản xuất hàng hóa. Khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng nhiều vào
đồng ruộng dẫn tới năng suất thấp, chất lượng sản phẩm không đảm bảo, khó có
thể cạnh tranh với các mặt hàng cùng chủng loại trên thị trường thế giới. Do vậy
nhu cầu bức thiết trong phát triển nông nghiệp hiện nay là tích tụ đất đai tiến đến
một nền sản xuất lớn.
Tân Dân là một xã của Huyện Sóc Sơn T.P Hà Nội, đây là xã thuần nông
với đa phần dân số địa phương sinh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp.Toàn
xã có 12 thôn với diện tích đất nông nghiệp nhiều so với các xã khác trong
huyện, song diện tích canh tác lại rất manh mún, khó có thể đẩy nhanh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa. Trong những năm qua thực hiện chủ trương của Chính
phủ cũng như cấp trên thì cán bộ và nhân dân xã Tân Dân đang dồn sức chung
tay xây dựng nông thôn mới, hiện nay Tân Dân là một trong các xã của huyện đi
đầu trong thực hiện dồn điền đổi thửa. Tuy nhiên, quá trình dồn điền đổi thửa
vẫn còn tồn tại những bất cập như chi phí sản xuất sau khi tiến hành dồn đồn đổi
thửa tăng hay một số hộ nhận được những thửa ruộng mà mình không mong
muốn đã gây ra những cản trở không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế nông
nghiệp nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế của các nông hộ.
2

Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và hạn
chế những bất cập sau khi tiến hành dồn điền đổi thửa chúng tôi chọn đề tài:
“Đánh giá tác động của quá trình dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế hộ

Nội dung và các nguồn thu thập số liệu
TT
Nội dung số liệu
Nguồn thu thập số liệu
1
Tình hình kinh tế, xã hội, điều
kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu,
dân số, lao động… của xã Tân
Dân.
Văn phòng thống kê, phòng TN &
MT, phòng Nông nghiệp huyện Sóc
Sơn.
2
Các số liệu về tình hình kinh tế xã
hội, điều kiện tự nhiên, đất đai,
khí hậu, dân số lao động…của các
thôn nghiên cứu
Văn phòng thống kê của xã nghiên
cứu.
3
Các số liệu về kết quả công tác
dồn điền đổi thửa của xã.
Văn phòng thống kê của UBND xã,
hồ sơ địa chính xã.
4
Các số liệu về kết quả của công
tác dồn điền đổi thửa của các thôn
trong địa bàn
Văn phòng thống kê của xã, cán bộ
địa chính, hồ sơ địa chính.

động trong hộ…trước và sau khi dồn điền đổi thửa
5. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo,
nội dung chính của khóa luận được thể hiện trong 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp.
Chương II: Thực trạng quá trình dồn điền đổi thửa ở xã Tân Dân trong giai
đoạn vừa qua và tác động của nó đến sản xuất nông nghiệp.
Chương III: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp trong quá trình dồn điền đổi thửa tại xã Tân Dân.

5

CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Đất đai
Theo V.V. Dokutraev (1879): Đất là một thể thiên nhiên có lịch sử riêng
biệt và độc lập, có những quy luật phát sinh và phát triển rõ ràng, được hình
thành do tác động tương hỗ của các yếu tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và
tuổi địa phương. Đất là vật hình thành tự nhiên, gồm những tầng lớp liên quan
nhau theo phát triển sinh học, được hình thành do kết quả biến đổi của các lớp
mặt của thạch quyển vỏ trái đất, dưới tác động của nước, không khí, sinh vật.
“đất đai” về thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “đất đai” là

bộ, sử dụng các giống cây, con có chất lượng tốt và năng suất cao. Nhưng càng
về sau đất đai giành cho SXNN ngày một ít đi. Và ngày nay nhiều quốc gia trên
thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu đất sản xuất, nguy cơ thiếu lương
thực.
1.1.3. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết
quả và hiệu quả là một. Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn,
người ta thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả. Theo trung tâm từ điển
ngôn ngữ hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại [7]. Do
tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng
của con người mà người ta phải xtôi xét kết quả được tạo ra như thế nào? Chi phí
bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu; có đưa lại kết quả hữu ích hay không?
Chính vì thế khi đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại
ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất
kinh doanh tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh
doanh là nội dung đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của hầu hết
7

các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học,
các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong
muốn của cả nhà nông – những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
nông nghiệp [7]
Ngày nay các nhà nghiên cứu cho rằng: việc xác định đúng khái niệm, bản
chất của hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và
những lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xtôi xét trên 3
khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [6]
+ Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền

thêm tư bản dựa vào tích lũy giá trị thặng dư, biến một phần giá trị thặng dư
thành tư bản [1]
Tích tụ tư bản là làm cho qui mô tư bản tăng lên nhờ có tích lũy tư bản cá
biệt. Tích tụ ruộng đất là yếu tố quan trọng nhất của quá trình tích tụ tư bản để
mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh nhờ lợi thế kinh tế theo qui mô
(economics of scale).
Tập trung là dồn vào một chỗ, một điểm. Tập trung tư bản là làm tăng thêm
tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại, hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác
[14]
Nói cách khác, tích tụ và tập trung ruộng đất là việc sát nhập hoặc hợp
nhất ruộng đất của các chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình
thành một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn. Tích tụ và tập trung
ruộng đất diễn ra theo hai con đường: Một là hợp nhất ruộng đất của các chủ sở
hữu cá biệt nhỏ hơn thành chủ sở hữu cá biệt khác lơn hơn. Con đường này thực
hiện thông qua việc xây dựng HTX nông nghiệp như nước ta trước đây.
Hai là, con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt để tạo
ra quy mô lớn hơn. Con đường này thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc
mua bán ruộng đất. Con đường này diễn ra mạnh mẽ ở các nước tư bản.
Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt là:
9

Một mặt làm cho một bộ phận nông dân không có đất, buộc họ phải đi làm thuê
hoặc rời quê hương đi tìm kế sinh nhai. Mặt khác, tạo cho chủ đất có thể áp dụng
tiến bộ khoa học kĩ thuật đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, chuyển một
bộ phận lao động nông nghiệp kinh tế sang ngành khác, mà trước hết là công
nghiệp.
Ở nước ta, việc tập trung ruộng đất diễn ra do một số nguyên nhân sau:
- Một số hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kĩ thuật và quản lý kinh
doanh muốn có thêm đất để sản xuất.
- Một số hộ do yếu kém trong sản xuất kinh doanh, làm ăn không hiệu

đầu tư cơ giới hóa trong các khâu sản xuất và giúp giải phóng sức lao động, bố
trí cơ cấu lao động sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn, giảm được tỷ lệ lao động
nông nghiệp thuần túy, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế của nông hộ, mang lại
đời sống ấm no cho người nông dân.
1.1.6. Tính tất yếu của tích tụ và tập trung ruộng đất
a. Xu hướng tích tụ và tập trung ruộng đất trong nền kinh tế thị trường
Theo quy luật chung của sự phát trển sản xuất sẽ diễn ra quá trình tích tụ,
tập trung và quá trình hợp tác, lien kết trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ
nông sản. Qúa trình tích tụ, tập trung và xã hội hóa trong sản xuất nông nghiệp
tất yếu sẽ diễn ra, về nguyên tắc quá trình đó diễn ra theo 2 hướng:
- Tập thể hóa sản xuất và tư liệu sản xuất
Theo hướng này toàn bộ ruộng đất và tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tập thể.
Mô hình này phổ biến trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước Xã
hội Chủ nghĩa trong giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến cuối thập
niên 80 của thế kỷ 20; điển hình là các nông trang tập thể ở Liên Xô và các nước
Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên.
Ở Việt Nam trong giai đoạn 1960 – 1985 quá trình tập thể hóa đã diễn ra
trên quy mô lớn ở Miền Bắc với các hình thức HTX nông nghiệp từ cấp thấp đến
cấp cao; HTX từ quy mô thôn đến quy mô toàn xã.
- Từng bước tích tụ và tập trung ruộng đất gắn với phân công lại lao động
trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình.
11

Phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng gắn người lao động với tư liệu
sản xuất, với đất đai, với sản phẩm. Hợp tác các lĩnh vực, các khâu, các công
đoạn( làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật, chế biến, tiêu thụ sản phẩm) với sự hỗ
trợ của nhà nước về vốn, cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ.
Mô hình này đã được phát triển ở các nước Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc từ
sau chiến tranh thế giới thứ 2.
Ở Việt Nam trong quá trình Đổi mới từ 1986 đến nay; đặc biệt từ khi có

1.1.8. Dồn điền đổi thửa
Dồn điền đổi thửa hay còn gọi là tích tụ ruộng đất, chuyển đổi ruộng đất
nhỏ thành ruộng đất lớn. Người nông dân từ lúc có 10-20 thửa ruộng nhỏ, nay
chỉ còn 3-4 thửa, thậm chí 1-2 thửa, diện tích canh tác trên một hộ có thể tăng
lên vì giảm bờ vùng bờ thửa.
Dồn điền đổi thửa (trong tiếng anh Regrouping of lands, trong tiếng pháp
rebenbrement) là việc tập hợp dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn
trái ngược với việc chia cắt mảnh ruộng to thành mảnh ruộng nhỏ.
Dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi quyền sử dụng của nông dân đã
được quy định, tuy nhiên việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả
năng tiếp cận ruộng đất của các nông hộ hưởng lợi khác nhau, dẫn đến thay đổi
bình quân ruộng đất của các nhóm giảm số lượng ruộng đất trên hộ, tăng diện
tích canh tác trên hộ, từ đó giảm bớt chi phí lao động, tăng khả năng đầu tư, áp
dụng tiến bộ KHKT tạo ra hiệu quả cao hơn trên 1 diện tích canh tác [3]
1.1.9. Sự cần thiết và vai trò của dồn điền đổi thửa - Mô hình cánh đồng
mẫu lớn
a. Sự cần thiết của dồn điền đổi thửa
Dồn điền đổi thửa là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm
góp phần xây dựng một nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền
vững, hỗ trợ cho việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
NTM.
DĐĐT khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán hiện nay để có
điều kiện thực hiện quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, tạo thuận lợi
13

cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa nhằm giảm chi phí
sản xuất, nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp.
Quá trình DĐĐT tạo ra những thửa ruộng lớn hơn, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn góp phần đẩy nhanh

Kỳ vọng của người dân về một chính sách đối với đất đai của chính phủ
trong tương lai. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế hiện nay của đất nước, khi
Việt Nam có nền kinh tế thị trường thì việc các doanh nghiệp nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam là điều đương nhiên. Song khi đó diện tích đất nông nghiệp
dần dần bị thu hẹp lại nhường cho nhà máy, xí nghiệp mọc lên. Trong quá trình
đó người nông dân đã bán ruộng đất của mình để đổi lấy một khoản tiền.Chính
vì thế có nhiều hộ mong muốn ruộng đất của gia đình mình sẽ được đền bù với
giá trị bằng tiền được cao hơn nên họ không cần thiết phải chuyển đổi ruộng
đất, không cần phải canh tác trên diện tích đó mà để đất trống chờ đền bù.Đây
là một vấn đề mà nhiều địa phương đang phải đương đầu.
c. Mô hình cánh đồng mẫu lớn
Tình trạng manh mún về ruộng đất xảy ra phổ biến ở nhiều nước trên thế
giới ít nhất là từ thế kỷ 17, không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở những
nước phát triển. Từ góc độ cá nhân, tình trạng manh mún về ruộng đất gây ra
nhiều hạn chế như: chi phí sản xuất tăng, sử dụng nhiều lao động, đi lại khó
khăn, lãng phí đất cho bờ vùng bờ thửa, khó áp dụng công nghệ và máy móc
vào sản xuất, khó tổ chức hệ thống thủy lợi, tăng chi phí thu mua sản phẩm. Từ
góc độ xã hội, ruộng đất manh mún làm tăng chi phí giao dịch, khó chuyển
dịch lao động nông nghiệp sang ngành khác, cơ giới hóa chậm chạp, khó áp
dụng công nghệ mới, khó quy hoạch vùng sản xuất thương mại và quy hoạch sử
dụng đất.
Cánh đồng mẫu lớn, là khái niệm ở Việt Nam ban đầu được hiểu là làm
mẫu những cánh đồng lớn, do vậy nếu nhân rộng, nên gọi là xây dựng những
Cánh đồng lớn. Việc xây dựng những cánh đồng lớn thực chất đã được thực
hiện ở Việt nam qua nhiều thời kì, từ hợp tác hóa đến hiện nay. Trong thời hợp
15

tác hóa, việc xây dựng những cánh đồng lớn có cùng quy trình sản xuất, do
HTX quản lí và làm ăn tập thể, hay mô hình do nông lâm trường quốc doanh
quản lí, đã đạt hiệu quả không cao. Trong thời kì đổi mới, cũng đã có nhiều mô

và tác động tới sự thay đổi thu nhập, hiệu quả sản xuất nông nghiệp, cải thiện
điều kiện sống cho các hộ nông dân tại địa bàn tôi sử dụng các chỉ tiêu đánh giá
chủ yếu sau:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả dồn điền đổi thửa
+ BQ đất nông nghiệp/ hộ
+ BQ đất nông nghiệp/lđ
+ BQ đất nông nghiệp/khẩu
+ BQ số thửa/hộ
+ Diện tích BQ/thửa
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh tác động của dồn điền đổi thửa đền phát triển
kinh tế của nông hộ
+ TC : tổng chi phí
+ TN BQ/ hộ
+ Tình hình dịch chuyển lao động trong hộ
+ Tỷ lệ thay đổi mức đầu tư, cơ giới hoá, thay đổi lao động, thu nhập
Các chỉ tiêu có sự so sánh trước và sau quá trình dồn điền đổi thửa để
đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế của các hộ sản
xuất nông nghiệp tại địa bàn.
1.3. Thực tiễn quá trình dồn điền đổi thửa trong cả nƣớc, T.P Hà Nội và
huyện Sóc Sơn trong thời gian vừa qua
1.3.1. Một số kết quả dồn điền đổi thửa đã đạt được
- Trong cả nƣớc: Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có
chủ trương lớn là thực hiện dồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ
thành ô thửa lớn” với mục đích là cho xuất hiện những vùng chuyên canh lớn.
Năm 2003, cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6 đến 8
thửa đất với khoảng 0,3 - 0,5 ha/hộ, trong đó đất lúa từ 200 – 400 m
2
/thửa, đất
rau và các loại cây màu khác thường dưới 100 m
2

563 hộ nông dân cho thấy 100% số hộ đều cho rằng ruộng đất manh mún đã gây
cản trở cho sản xuất nông nghiệp. Đối với chính quyền địa phương, việc dồn
điền đổi thửa cũng giúp quản lý tốt hơn diện tích đất ở địa phương đồng thời
tăng nguồn thu ngân sách xã do việc đấu thầu đất mang lại.

Trích đoạn Thúc đẩy tích tụ và tập trung ruộng đất Thúc đẩy phân công lại lao động của hộ Thay đổi cơ cấu mùa vụ theo hướng hiệu quả hơn Đẩy mạnh việc thâm canh tăng vụ Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ, phát triển sản xuất hàng hoá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status