Chơng I
Sự phát triển của hệ thống thông tin di động
vệ tinh
I. Sự phát triển của ngành viễn thông di động
Hệ thống thông tin di động đợc chia làm 2 loại chính là:Trên măt đất và
vệ tinh. Ơ cả hai loại hình này tính di động có đợc là do kết nối tần số
vô tuyến (RF) giữa chuyển tiếp và nối với mạng cố định và mỗi thuê bao
ngời dùng, cho đến gần đây cả hai hệ thống này vần còn phát triển độc
lập. Hệ thống di động mặt đất thích hợp nhất với môi trờng ở thành phố,
trái lại hệ thống di động vệ tinh lại cung cấp các giải pháp thông tin có
hiệu quả cho các vùng sâu vùng xa nh ngoài khơi, hành lang hàng
không hay những vùng heo hút. Đầu năm 1990 công nghệ MSS đã phát
triển vợt bậc đến mức mà các nhà lập kế hoạch hệ thống đã bắt đầu định
giá đợc những nguồn lợi và kỹ năng có đợc từ việc hợp nhất hai công
nghệ này từ đó dẫn đến sự khởi đầu của quá trình từng bớc hợp nhất của
hai hệ thống vào cuối thập kỷ tiến tới hợp nhất hoàn toàn trong tơng lai
gần.
I.1. Hệ thống mặt đất
ngời ta đã nhận ra tiềm năng thông tin di động ngay từ những buổi đầu
của vô tuyến vào cuối những năm 1800 vô tuyến di động sử dụng sớm
nhất là trong ngành hàng hải và cu hộ. Trớc và trong chiến tranh thế giới
lần thứ 2 hệ thống thông tin di động chỉ đợc giới hạn trong lĩnh vực
quân sự. Các đèn chân không và pin làm cho máy điện đài trở nên đồ sộ
hạn chế tác dụng của chúng trong chuyên môn đến những năm 1950 sự
tiến bộ về công nghệ đã cho gia đời các máy bộ đàm FM/VHF ( điều
tần bằng són cực ngắn ) mở rộng khả năng áp dụng của hệ thống di
động tới các phơng tiện di động cá nhân sự lớn mạnh của vô tuyến di
1
động rất còn chậm chạp cho đến những năm 1970 do việc mở rộng dịch
vụ trong băng tần đợc phép là rất kho khăn. Nhìn chung các dịch vụ
thông tin di động vẫn còn khá đắt ngay cả khi cớc phí của các dịch vụ di
chi phí thông qua quy mô của các nền kinh tế cũng nh sự gia tăng của
hệ thống thông tin t nhân. hàng loạt máy điện thoại tế bào các hệ thống
cũng nh dịch vụ viễn thông khác đợc đa vào sử dụng. Tỷ lệ tăng trởng
này còn đợc đánh giá qua một bảng dự toán cho thấy tại Anh 60% dân
số sẽ sử dụng điện thoại di động vào cuối năm 2000. Sự thành công về
mặt thơng mại của mạng điện thoại tế bào cũng để lại hậu quả là sự gia
đời của rất nhiều hệ thống không tơng thích với nhau dẫn đến việc các
thuê bao không thể sử dụng điện thoại của mình ngoài vùng đăng ký,
các nỗ lực đợc tập chung giải quyết vấn đề này đã dẫn đến sự ra đời của
hệ thống kỹ thuật số thế hệ thứ 2 tiêu biểu là hệ thống GSM ở Châu Âu
có khả năng chuyển vùng giữa các nớc. Mặc dù hệ thống tế bào đã cho
hiệu quả phổ cao nhng dung lợng thấp vẫn là vấn đề bức xúc và những
nỗ lực để nâng cao dung lợng vẫn đang đợc tiếp tục. Tại Mỹ dựa vào các
sóng mang của hệ thông AMPS đã giảm từ 300 KHz xuông còn 10khz.
Cách thứ hai là việc đa ra kỹ thuật nén âm kỹ thuật số dùng với TDMA
nhằm tăng dung lợng lên một bậc điều chế trải phổ với CDMA là một
cách khác nữa những ngời đề xuất phơng pháp này công bố rằng dung l-
ợng của CDMA bằng 10- 20 lần so với AMPS. Các hệ thống thông tin
cá nhân gần đây dựa trên công nghệ GSM và công nghệ trải phổ đợc gọi
là IS-136 hay D-AMPS. Hệ thống tế bào thế hệ thứ 3 dựa trên những
tiêu chuẩn chung đang đợc giới thiệu ở một số nớc Châu Âu và một số
nớc khác nhằm tạo ra tính đồng nhất trong thông tin di động thế giới, từ
đó mang lại lợi nhuận cho nhà khai thác, sản xuất cũng nh ngời sử dụng.
Ngời ta cũng hy vọng rằng hệ thống thông tin vệ tinh cũng trở thành
một thành phần của hệ thống rộng khắp này. Hệ thống này sẽ cung cấp
các dịch vụ băng tần với tính lu động lớn hơn.
I.1.2 Hệ thống thông tin vệ tinh :
3
Những thí nghiệm đầu tiên về thông tin di động đợc cơ quan hàng
không và không gian quốc gia Mỹ (Na Sa) chỉ đạo thực hiện. Một số dự
thể thực hiện chỉ trong 1 thập kỷ, chỉ một năm sau Motorola đã công bố
dự án hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp (LEO) cung cấp dịch vụ truyền âm
thanh qua máy điện thoại cầm tay điều này đã khởi nguồn cho một loạt
các hoạt động gây chấn động trong ngành thông tin vệ tinh và trong
vòng 3 năm sau hàng loạt các công ty và tổ chức đã công bố những dự
án tơng tự hầu hết đều tập trung vào việc sử dụng nhóm vệ tinh không
GEOs. Đang chú ý hơn cả trong các dự án này là hệ thống MEO của
Inmasat nhng do một công ty t nhân có tên là ICO Global systems
limied thực hiện và hệ thống LEO nổi tiêng vói thơng hiệu Globalstas
giữa những năm 90 các dự án điện thoại vệ tinh cầm tay sử dụng GEOs
đã đợc công bố. Những dự án này có kế hoạch triển khai hàng trăm trạm
thu phát với những máy phát có công suất lớn nhằm bù lại độ cao tơng
đối lớn của GEO có một điều thú vị rằng chỉ vài năm trớc hệ thống địa
tĩnh này đã bị từ bỏ. Tiếp đó là một loạt các hệ thống thông tin cá nhân
(PCSs) dùng mạng cố định với các sản phẩm FSS đã lấn áp hầu hết
mạng thuê bao của MSS. Hầu hết các hệ thống FSS đều hoạt động ở
băng tần 20-30Ghz và ở nhiều quỹ đạo. Phần lớn các nhà thiết kế của
các hệ thống vệ tinh này đều quan tâm đến lợi ích thu đợc từ sự hợp nhất
2 hệ thống vệ tinh và hệ thống mặt đất và việc kết nối này sẽ mở rộng
hơn nữa hệ thống mạng các tổ chức quốc tế đề ra các tiêu chuẩn và các
khái niệm cho các hệ thống mặt đất thế hệ thứ 3 bắt đầu xem xét vai trò
của các hệ thống vệ tinh trong các hệ thống tơng lai. Ngời ta cũng hiểu
rằng hệ thống tế bào vẫn đợc tập trung nhiều ở những vùng đông dân c
do đó những hệ thống tơng lai này sẽ kết hợp các giao diện để tạo nên
khả năng hoạt động rộng khắp của cả 2 hệ thống vệ tinh và mặt đất. Bên
cạnh đó vào những năm 90 công nghệ dẫn đờng vệ tinh cho cá nhân và
di động vẫn lớn mạnh không ngừng giá của các thiết bị dùng công nghệ
GPS giảm xuống thấp tới mức hầu hết mọi ngơi đều sử dụng đợc một số
ứng dụng khác kết kợp khả năng dẫn đờng và liên lạc cũng đợc phát
5
Mạng di
động mặt đất
Mạng cố
định mặt đất
Hình I.3 Các thành phần chính của một hệ thống thông tin vệ
tinh di động hiện đại
f
1
f
1
Vùng
phục vụ
Tần số tái
sử dụng
Tín hiệu
Đường
phục vụ
Thông tin kết nối
Kết nối với Anten
Vệ tinh
chuyển tiếp
Nh ta đã đề cập ở trên hệ thống vệ tinh thế hệ 1 và 2 đã cung xấp
các dịch vụ có liên quan đến các máy di động tơng đối lớn. Thế hệ thứ 3
còn có tên là hệ thống siêu địa tĩnh cung cấp các dịch vụ thoại hoặc
đa phơng tiện tới các máy cầm tay hay máy để bàn. Trạm điều khiển
mạng (WCS) quản lí lu lợng phát quảng bá thông tin mạng, quản lí thiết
lập cuộc gọi và các tài nguyên vô tuyến khi thu đợc yêu cầu gọi WCS
tìm và gán kênh từ tập kênh của nó khi hết cuộc gọi thì trả lại kênh. Bộ
ghi đơn vị thờng trú (HLR) và bộ ghi đơn vị tạm trú (VLR) quản lí sự di
7
thứ N
Hình I.4
Hình I.5a và I.5b biểu diễn các thành phần chính của hệ thống lu rồi
phát với các bộ đệm trên mặt đất kết cấu của hệ thống vệ tinh bị ảnh h-
ởng bởi các yêu cầu dịch vụ và một số các vấn đề kỹ thuật có liên quan
một số đợc tóm tắt nh sau
+ Quỹ đạo
Quỹ đạo đợc phân loại theo độ cao độ nghiêng độ lệch tâm độ cao
quyết định diện tích phủ sóng của vệ tinh, vệ tinh ở độ cao hơn thì bao
chùm một diện tích rộng hơn. Độ nghiêng ảnh hởng đến phạm vi bao
phủ lớn nhất, nhỏ nhất trên mặt đất là hai đầu cực của độ nghiêng quỹ
đạo là xích đạo có độ nghiêng là 0 và một cực quỹ đạo có độ nghiêng 90
một quỹ đạo xích đạo.
9
t= 0
Cơ quan
Tin nhắn M
Vệ tinh
t= t
1
t= t
2
Lưu giữ Lưu giữ Lưu giữ
Tin nhắn M
Trạm cố
định
a)
Constellation
Lưu giữ
Vùng cố định A Sở chỉ huy
giờ là chấp nhận đợc trong việc gửi e-mail thời gian trễ cho phép ảnh h-
ởng đến vài đặc tính của hệ thống vệ tinh di động.
Hệ thống thời gian không thực sử dụng chuyển mạch gói trong đó
các gói và bản tin đợc lu tại các bộ đệm của các nút trung gian của đờng
liên kết và đợc truyền đi khi có điều kiện thích hợp Inmasat-c và
Eutltracs hệ thống địa tĩnh sử dụng cấu trúc nh thế. Hệ thống ORBCOM
là loại hệ thống LBO (quỹ đạo thấp) lu rồi truyền
- Đối với hệ thống địa tĩnh thời gian thực bỏ qua tắc nghẽn liên kết RF
do che chắn tầm nhìn của vệ tinh không bị gián đoạn khi ngời dùng hoạt
đọng trong phạm vi phủ sóng của nó biên giới của các vùng phủ là mờ
nhạt, kéo dài hàng chục km điều đó dẫn đến sự giảm dần chất lợng tín
hiệu đối với các phơng tiện di chuyển chậm. Vì thế những phơng tiện
dịch chuyển chậm không cần chuyển tín hiệu cuộc gọi cho một chùm tia
khác kế cận khi ngời dùng tiêu tốn một khoảng thời gian đáng kể tại
khu vực mờ nhạt này nơi mà tín hiệu giảm cấp dần dần. Tuy nhiên sự
chuyển giao là cần thiết đối với các phơng tiện di chuyển nhanh nh máy
bay chẳng hạn trong hệ thống vệ tinh không địa tĩnh tầm nhìn biến đổi
theo các vùng phủ động vì thế ngời dùng có vẻ sử dụng nhiều chùm tia
khác nhau trong một cuôc gọi tạo lên sự chuyển giao cần thiết trong
mạng
+ Tính kết nối
Mạng phải có khả năng định vị một di động bị gọi và đinh tuyến
các tín hiệu giữa các bên hiệu quả nhất có thể và duy trì cuộc gọi trong
11
hệ thống GSM mỗi máy di động đợc đăng ký một cơ sở dữ liệu gọi là
đăng ký định vị thờng trú (HLR). Nếu máy di chuyển ra ngoài lãnh thổ
đăng ký thờng trú tự bản thân máy đăng ký với bộ ghi định vị tạm trú
(VLR), VLR thông báo vị trí của máy khách tới HLR vì thế làm ổn định
trạng thái định vị của máy bất cứ khi nào một cuộc gọi đợc gửi đến máy.
Trung tâm chuyển mạch di động sẽ kiểm tra HLR của máy để định vị
cỡ của máy.
Một phần dữ liệu dễ dàng Capsat Messenger cũng cung cấp âm
thanh trung thực và các dịch vụ Fax nó dễ dàng đợc di chuyển tới vùng
đợc coi là xa xôi nhất dễ dàng cài đặt và sử dụng.
+ Truy cập vệ tinh
Trong môi trờng MSS hàng ngàn ngời chia sẻ nguồn vệ tinh và vì
thế truy cập vệ tinh có hiệu quả là rất quan trọng phân quyền (DA), nhất
kênh (SCPC) tần số hoặc sự phối hợp TDMA nơi mà nhóm trực kênh đ-
ợc chia sẻ bởi tất cả ngời dùng trong mỗi cuộc gọi hoặc gói cơ bản đa ra
một giải pháp hiệu quả cho liên lạc mạch hoặc kiểu gói . Trực kênh có
thể đợc điều chỉnh bởi cả trung tâm hoặc thiết kế phân phối trong một
trung tâm thiết kế, một trực kênh đợc điều tiết trung tâm, trong khi ở
thiết kế phân phối kênh phân phối đợc ổn định cho mỗi trạm tham gia
cố định tự vận hành.
Kiểu CDMA đa ra một sự tiến bộ trong lĩnh vực giao thoa và đa
tuyến giảm dần chuyển nhịp nhàng và một số hệ thống hiện đại hỗ trợ
CDMA. Truyền dữ liệu có xu hớng biểu lộ nhiều đặc tính xếp thành
hàng từ chùm vô tuyến đến các dòng liên tục, do đó biểu đồ truy cập đ-
ợc kết hợp đặc biệt với đặc tính truyền tải truy cập thông thờng đợc sử
dụng cho giao tiếp dữ liệu.
Trong những năm gần đây cùng với sự ra tăng của các ứng dụng dữ
liệu, một sơ đồ đợc biết đến nhng không đồng nhất kiểu truyền tải ATM
điều đó cho phép sự kết hợp linh hoạt của rất nhiều kiểu dữ liệu ở các
mức liên kết đã đợc giới thiệu khi ATM lần đầu tiên đợc đệ trình cho hệ
13
thống cố định nỗ lực lớn đã đợc mở ra trong việc áp dụng sơ đồ cho truy
cập không dây bao gồm cả hệ thống vệ tinh.
Giao thức Intermet (IP) hoạt động ở mức ứng dụng này đợc sử dụng
rộng nhiều hệ thống băng thông rộng tơng lai có xu hớng sử dụng IP
thay ATM để kết hợp với TDMA hoặc CDMA nh một cơ cấu vận
mở rộng để lựa chọn các loại hình dịch vụ và mong đợi của ngời dùng ở
khía cạnh chấp nhận trễ đờng truyền, giảm tín hiệu.... Thiết kế thi công
đợc phát triển do nhận thức sâu sắc các yêu cầu từ trớc thị trờng và sở
thích của ngời dùng.
I.1.5 Những quan tâm điều chỉnh
Một trong các linh hoạt động đầu tiên khi triển khai một dự án là
cấp phép hoạt động và tần số rõ ràng từ phía nhà quản lý của các khu
vực dịch vụ có thể bao gồm một nhóm. Thủ tục này có thể đòi hỏi
khoảng thời gian đáng kể vì rất nhiều lý do nh hệ thống hành chính,
chính sách điều tiết, các sự kiện chính trị. Các quan tâm khác bao gồm
việc chuẩn bị các hiệp định đầy tranh cãi với các nhà hoạt động khác.
Những điều đó và hàng loạt các chủ đề liên quan khác.
I.1.6 Những quan tâm
Những quan tâm hoạt động Vận hành và bảo dỡng hệ thống MSS
khó khăn bao gồm các hoạt động phức tạp, nh phóng và duy trì vệ tinh,
quản lý mạng, chạy thử thiết bị đầu cuối mới kiểm tra liên tục kênh kinh
doanh và kế hoạch dài hạn. Mức độ nỗ lực khi quy mô của mạng lớn
hơn.
Bớc đầu của một hệ thống là quan trọng vì một sự cần thiết cài đặt các
hoạt động, kỹ thuật chạy thử, quan hệ khách hàng. Trong khi duy trì
dòng tài chính và tạo ra lợi nhuận. Thế hệ đầu tiên của hệ thống phi mặt
đất là để thống nhất về rủi ro do tài chính vì thị trờng không ổn định .Sự
giới thiệu thiết kế hệ thống cha đợc thử nghiệm, thiếu kinh nghiệm vận
hành và sức ép để giới thiệu các dịch vụ trong giới hạn nghiêm ngặt.
Sự triển khai một chùm vệ tinh mới tốn nhiều thời gian vì nó bao
gồm một loạt các đợt phóng trong nhiều tháng hơn thể nữa các vệ tinh
15
thờng bao gồm một số công nghệ mới giúp cho hệ thống đáng tin cậy
hơn với những thất bại trớc đó. Hệ thống Iridum gồm 66 vệ tinh đợc
triển khai trong vòng 12 tháng trong đó 10% vệ tinh thất bại do các vấn
khi lỗi của hệ thống phụ tới hạn nh hệ thống quản trị tần số mạng, biểu
thị chính nó gián tiếp nh một sự mất trong liên lạc mạng vì thế việc quan
sát dòng thông tin qua mạng là cần thiết, dự đoán đợc sử dụng trong kế
hoạch phát triển theo các lí thuyết giả định và giả thuyết và có thể đợc
sàng lọc trong quá trình hoạt động theo hớng dữ liệu thực.
+ ITU đã nhận thấy giao tiếp di động cá nhân theo yêu cầu tiềm năng to
lớn và các yêu cầu kỹ thuật duy nhất GMPCS là phạm vi cố định của
MSS nhằm hỗ trợ giao tiếp cá nhân đến các cá nhân bằng các máy cầm
tay giống nh điện thoại nhỏ hoặc máy cầm tay GMPCS có thể đợc phân
loại bằng rất nhiều cách nh quỹ đạo và dịch vụ. Các hệ thống vệ tinh lớn
LEO triển khai các vệ tinh lớn phức tạp và mạnh trong LEOs hoặc
MEOs có khả năng đáp ứng giao tiếp thời gian thực nh giọng nói, Fax
đến các phơng tiện giao tiếp cầm tay. Hệ thống vệ tinh nhỏ thực hiện
các bớc đơn giản hơn và giá rẻ hơn hoạt động trong phạm vi thấp hơn
của quỹ đạo và đợc thiết kế để cung cấp dịch vụ nhắn tin thời gian thực
và phi thời gian thực có bít thấp nh các báo cáo và nhắn tin tới các thiết
bị đầu cuối bỏ túi hệ thống siêu GEO là những hệ thống GEO hiện đại
nó triển khai một số lợng lớn các chùm tia (>100) tăng dịch vụ sử dụng
đầu cuối cho các thiết bị viễn thông nhỏ.
I.1.7 So sánh các hệ thống thông tin di động
Hệ thống di động rất lí tởng cho các vùng phục vụ kém bởi các hệ
thống mặt đất và chúng thờng bổ xung cho các hệ thống mặt đất. Trong
tơng lai, khi cuộc gọi MSS và giả thiết đầu cuối tính đến nh các hệ thống
mặt đất hiển nhiên rằng mức độ cạnh tranh giữa các nhà diều hành hệ
thống sẽ không thể tránh đợc trong một số ứng dụng. Tuy nhiên chúng
sẽ cùng nhau cung cấp cho ngời dùng giải pháp hỗ trợ cùng với một
phạm vi dịch vụ lớn hơn đáng kể. Ưu điểm của việc tích hợp giữa hệ
17
thống vệ tinh và trạm mặt đất đợc nhận thức rõ. Hệ thống GMPCS gần
đây nhất hỗ trợ các dịch vụ mặt đất thông qua các máy cầm tay hai chế
thời gian
Quan tâm của nhà điều hành tới
việc giảm thu nhập do 1 trễ nào đó
Các giải pháp thực tế khả thi
Bảng 1.8
Ngợc lại đến điểm chuyển giao của thiên niên kỷ, dịch vụ tơng tự
rất sẵn có từ các thiết bị đầu cuối cầm tay Laptop với chi phí thấp. Xu h-
ớng về việc tích hợp vệ tinh và các hệ thống tế bào tăng lên nh đợc
chứng minh bởi thế hệ đầu tiên của máy điện thoại cầm tay hai chế độ.
18
Thế hệ đầu tiên và thứ 2 sản phẩm MSS vẫn đợc sử dụng có xu hớng
các giao diện ngời với máy phức tạp, thờng yêu cầu đào tạo đặc biệt nh
vận hành đúng một số vấn đề đợc nhắc đến nh thiếu kiến thức cần thiết
về thiết bị, thờng thì công nhân ở những vùng xa sôi đợc trang bị điện
thoại di động vệ tinh mà không đợc hớng dẫn đầy đủ dẫn tới ít phổ biến.
Trong hầu hết các trờng hợp vẫn để xẩy ra do những lý do đơn giản nh
sạc pin và thiếu đồ dự phòng.
Thậm chí cuối năm 90 còn ít hiểu biết về khả năng và sự sinh lãi của
thông tin vệ tinh.
Thiếu kiến thức chung về lợi nhuận nh các lĩnh vực an toàn trong
liên lạc vệ tinh. Các dạng liên lạc cũ nh HF vẫn đợc sử dụng rộng rãi.
Ngời ta hy vọng rằng với việc giới thiệu các dịch vụ di động cầm tay và
quảng cáo nhiều phần lớn công chúng sẽ nhanh tróng nhận thức đợc lợi
ích.
Can nhiễu đối với các thiết bị đầu cuối trong một số vùng cụ thể
trên thế giới là có thể. Tần số vô tuyến sử dụng cho thông tin vệ tinh đợc
chia sẻ cùng với các hệ thống mặt đất tại nhiều nơi trên thế giới.
Đôi khi máy phát trong vùng lân cận của ngời dùng, ngay cả truyền
trong tần số băng tần khác cũng làm bão hoà phần cao tần của máy thu
vệ tinh gây ra sự giảm cấp chất lợng không chấp nhận đợc xác suất của
Trong những năm gần đây thiết bị thu của hệ thống vệ tinh hoa tiêu
và đặc biệt GPS trở thành phơng tiện giao tiếp cá nhân phụ do sự giảm
đáng kể giá của các thiết bị thu làm cho chúng trở thành một phần đồ
dùng thờng xuyên mang cùng các nhà thám hiểm du lịch quản lý đội
tầu, các tổ chức tập hợp.
Hệ thống hoa tiêu GPS đợc giới thiệu do quân đội mỹ năm 1978 một
chùm gồm 18 vệ tinh GPS có thể cung cấp liên tục diện tích bao phủ
vòng quanh thế giới sau đó tăng lên 24 vệ tinh có thể quan sát đợc 3 lần
diện tích trái đất. Các vệ tinh quay vòng quanh quỹ đạo ở độ nghiêng 63
độ và với độ cao 20200 km so với mặt biển và mất 12 h quay một vòng
quanh quỹ đạo.
20
Các vệ tinh truyền tín hiệu thời gian điều chỉnh tự động cùng với
tham số quỹ đạo của chúng nó đợc sử dụng bởi các thiết bị tiếp nhận
hàng dãy các dự toán. Hệ thống hoạt động trên nguyên tắc cơ bản tơng
tự nh hệ thống Loran oe Decca. Bộ thu AS tính toán phạm vi của nó
bằng cách đo đạc dãy từ 3 (hoặc 4) vị trí thuận lợi của vệ tinh cùng một
lúc và giải quyết 3 (hoặc 4) phơng trình đồng thời. Một hệ thống tơng tự
sử dụng dạng tín hiệu truyền khác nhau đợc USSR giới thiệu trong một
thời kỳ. Các hệ thống hoa tiêu hỗ trợ vệ tinh có thể đợc phân loại trên cơ
sở của nguyên tắc hoạt động cơ bản.
+ Một số các công trình nghiên cứu đã điều tra khả năng của việc truyền
phát vệ tinh vô tuyến trực tiếp tới các cá nhân khi chúng đem lại sự phủ
sóng diện rộng âm thanh chất lợng cao và các kênh chơng trình thích
hợp. Sự bất tiện hiện tại bao gồm sự đầu t vào công nghệ thu đắt tiền.
Đầu những năm 1990 ITU phân bố phổ cho phát âm thanh trong
băng thông S. Từ đó một số lợng hệ thống thơng mại đợc đa ra và ít nhất
một hệ thống chuyên phục vụ quảng bá.
Hệ thống vô tuyến vệ tinh yêu cầu máy phát vệ tinh mạnh, sự điều
biên mạch, mã và hiệu ứng màn chắn, biện pháp đo lờng và quan trọng
trong quá trình phát triển cho đến khi tìm đợc giải pháp chấp nhận đợc.
Các mối liên hệ bên trong giữa các thực thể này là rất phức tạp và không
rõ ràng, yêu cầu có sự phán đoán, suy xét của con ngời, và do đó dẫn
đến có nhiều giải pháp khác nhau. Phần quan trọng nhất và phần đắt tiền
nhất của hệ thống MSS là phần không gian. Vợt qua chớng ngại này,
việc phát triển hệ thống cũng phải tiếp tục đối mặt với các vấn đề khác
nh : lập kế hoạch tài chính của dự án, thiết kế hệ thống chi tiết, phát
22
triển cơ sở hạ tầng, triển khai hình thành chòm vệ tinh và cuối cùng là
công tác vận hành hệ thống. Thành phần thiết yếu nhất của mạng MSS
là đờng truyền dịch vụ, đờng truyền không dây cho phép sự di động. Vai
trò của mạng lới là nhằm đảm bảo rằng kết nối thực hoặc ảo đợc duy trì
trong suốt quá trình cuộc gọi và cuộc gọi có thể đợc kết nối tới thuê bao
di động trong các điều kiện bình thờng. Kết nối trong quá trình cuộc gọi
có thể yêu cầu phải có chuyển giao giữa các búp sóng, giữa các vệ tinh
hoặc các trạm mặt đất. Trên thực tế yêu cầu tối thiểu hoá phần đoạn mặt
đất nhằm giảm chi phí thuộc thành phần dới mặt đất trong cớc phí cuộc
gọi. Sự kết nối bên trong giữa các thực thể của hệ thống cũng đợc thảo
luận và giải thích lại nhng tập trung vào vấn đề liên quan đến phần
không gian. Khi hệ thống MSS đợc triển khai và đi vào hoạt động thì
ngời vận hành phải thực hiện vận hành và quản lý mạng lới một cách có
hiệu quả để đảm bảo đạt đợc các mục đích đề ra, các mục tiêu về thơng
mại cũng phải đợc nghiên cứu, xem xét kỹ lỡng. Các vấn đề chính liên
quan đến vận hành và quản lý mạng MSS bao gồm quản lý các tài
nguyên vô tuyến không gian, phân tích các xu hớng lu lợng, giám sát
phổ và đánh giá chất lợng dịch vụ. Ta bắt đầu bằng việc xem xét các vấn
đề liên quan đến tối u hoá hệ thống, giao diện và kết nối mạng. Tếp theo
giải thích về các quan hệ chức năng giữa các phần tử của mạng. Phần
cuối cùng trình bầy về một nội dung rất quan trọng là vận hành và quản
lý mạng.
- Môi trờng truyền dẫn không tốt;
EIRP và G/T của vệ tinh bị hạn chế bởi công nghệ. Trong hai thập kỷ
qua đã có sự tiến bộ vợt bậc về công nghệ đã làm cho khả năng của dịch
vụ MSS đợc cải thiện. Trong những năm cuối của thập kỷ 70 các vệ tinh
địa tĩnh có thể có đờng truyền tốt nhất với EIRP ~30dBW, trong khi đó,
các vệ tinh đợc phóng trong những năm đầu của thập kỷ 90 có thể
truyền với mức EIRP hơn 43dBW. Tơng tự hệ số G/T của tầu vũ trụ
cũng có cải tiến trong việc giảm kích thớc búp sóng đơn là chuẩn, nhng
khoảng một thập kỷ sau đã có các vệ tinh địa tĩnh có tới 140 búp sóng đ-
24
ợc phóng lên quỹ đạo, hệ số G/T tăng lên tơng ứng từ 10dB/K đến
15dB/K.
25
GGL
ISL
FL MMSL
Chuyển
mạch
Quản lý tài nguyên
sóng vô t tuyến
GL2
Quản lý sự
di động
GL3
Quản lý
mạng
(phần
không
gian)
NML