Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lí học cho sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trưởng tỉnh bắc kạn - Pdf 33

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
……..….***…………

Phạm Hương Giang

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ ĐỊA LÍ HỌC
CHO SỬ DỤNG HỢP LÍ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TỈNH BẮC KẠN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

Hà Nội - 2015


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
……..….***…………

Phạm Hương Giang

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ ĐỊA LÍ HỌC
CHO SỬ DỤNG HỢP LÍ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TỈNH BẮC KẠN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
Chuyên ngành : Địa lý Tự nhiên
Mã số

: 62 44 02 17


1.1.1. Các công trình khoa học về cơ sở địa lí theo tiếp cận cảnh quan
1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng hợp lí tài nguyên và
bảo vệ môi trường
1.1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến Bắc Kạn
1.2. Một số vấn đề lí luận nghiên cứu cảnh quan miền núi
1.2.1. Bản chất của cơ sở địa lí học theo tiếp cận cảnh quan
1.2.2. Cảnh quan miền núi và một số vấn đề ứng dụng có liên quan
1.3. Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu

1
1
2
3
3
3
3
3
4
5
5
5
14
22
26
26
28

c. Khí hậu

32

2.1. Đặc điểm và vai trò của các nhân tố thành tạo cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
2.1.1. Nhân tố vị trí địa lí
2.1.2. Nhân tố tự nhiên
a. Địa chất
b. Địa hình


2.2. Đặc điểm cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
2.2.1. Hệ thống phân loại cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
2.2.2. Đặc điểm cấu trúc, động lực mùa và chức năng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
2.2.3. Trạng thái biến đổi cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
2.2.4. Tính đặc thù trong sự phân hóa, khai thác cảnh quan tỉnh Bắc Kạn và ý
nghĩa đối với vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường của tỉnh
2.3. Phân vùng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
2.3.1. Mục đích, nguyên tắc và phương pháp phân vùng cảnh quan
2.3.2. Hệ thống và chỉ tiêu phân vùng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
2.3.3. Đặc điểm các tiểu vùng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Tiểu kết chương 2
Chương 3: Đánh giá cảnh quan cho sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ
môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn
3.1. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và quy trình đánh giá thích nghi
sinh thái cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
3.1.1. Mục tiêu, nội dung đánh giá cảnh quan
3.1.2. Phương pháp và quy trình đánh giá cảnh quan
3.2. Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn
3.2.1. Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn
3.2.2. Đánh giá cảnh quan cho phát triển lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn
3.2.3. Tổng hợp kết quả đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp
tỉnh Bắc Kạn
3.3. Đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

93
95
95
99
103
105
105
107
111
111
124
134
134
138
148
149
151


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CQ
CQH

: Cảnh quan
: Cảnh quan học

BVMT

: Bảo vệ môi trường


: Phát triển bền vững

NLKH

: Nông lâm kết hợp

NLN

: Nông lâm nghiệp

SDHL

: Sử dụng hợp lí

TBTN

: Tai biến thiên nhiên

TNTN

: Tài nguyên thiên nhiên

TVCQ

: Tiểu vùng cảnh quan

VQG

: Vườn quốc gia


46
46
57
62

5

Bảng 2.5. Khái quát đặc điểm tự nhiên các phụ lớp cảnh quan tỉnh Bắc
Kạn

67

6
7

Bảng 2.6. Đặc điểm các nhóm loại cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

70
71

8

Bảng 2.8. Chỉ số khô hạn theo mùa tại tỉnh Bắc Kạn
Bảng 2.9. Lịch thời vụ gieo trồng một số loại cây trồng nông

9
10
11
12


Bảng 3.2. Ví dụ về phương pháp xác định trọng số bằng ma trận
tam giác
Bảng 3.3. Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho phát triển
cây hàng năm của tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.4. Kết quả về mức độ thích hợp của các loại cảnh quan đối
với phát triển cây hàng năm của tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.5. Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho phát triển
cây lâu năm của tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.6. Kết quả về mức độ thích nghi của các loại cảnh quan đối
với phát triển cây lâu năm của tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.7. Phân cấp chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho phát triển rừng
phòng hộ tỉnh Bắc Kạn

86
87
93
94
96
96
98
98
100


Bảng 3.8. Kết quả về mức độ ưu tiên của các loại cảnh quan đối với
phát triển rừng phòng hộ tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.9. Phân cấp chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho phát triển rừng sản
xuất tỉnh Bắc Kạn

100


xói mòn tiềm năng của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
28

Bảng 3.14. Phân cấp các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững chống xói
mòn thực tế của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

107

29

Bảng 3.15. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn
tiềm năng của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.16. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn
thực tế của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.17. Trích lục so sánh kết quả đánh giá mức độ bền vững chống xói
mòn tiềm năng và thực tế của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.18. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn
của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn phân theo tiểu vùng cảnh quan
Bảng 3.19. So sánh kết quả đánh giá cảnh quan với hiện trạng sử dụng
đất nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn năm 2014
Bảng 3.20. So sánh kết quả đánh giá cảnh quan với quy hoạch sử dụng
đất nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020
Bảng 3.21. Trích lục đề xuất định hướng sử dụng hợp lí hợp lí tài nguyên
và bảo vệ môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp theo các loại cảnh
quan tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.22. Tổng hợp định hướng sử dụng các loại cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.23. So sánh định hướng sử dụng cảnh quan của đề tài với quy
hoạch sử dụng đất cho phát triển nông lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn
năm 2020


132
133


40
41
42

43
44

Bảng 3.26. Điều tra hiện trạng các mô hình kinh tế sinh thái nông hộ
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.27. Thống kê mức độ xuất hiện nhiều nhất các mô hình kinh tế
sinh thái theo các tiểu vùng cảnh quan
Bảng 3.28. Thu nhập của mô hình KTST trang trại chuyên canh cây ăn
quả kết hợp với trồng rừng ở tiểu vùng núi thấp xen đồi cao tỉnh Bắc
Kạn trong một năm
Bảng 3.29. Thu nhập của mô hình KTST nông hộ RVC ở tiểu vùng núi
thấp xen đồi cao tỉnh Bắc Kạn trong một năm
Bảng 3.30. Thu nhập của mô hình KTST nông hộ VAC ở tiểu vùng núi
thấp xen đồi cao tỉnh Bắc Kạn trong một năm

137
137
141

144
146

Hình 2.4. Bản đồ sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.5. Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.6. Bản đồ thảm thực vật tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.7. Bản đồ cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.8. Lát cắt cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.9. Sơ đồ hệ thống phân loại cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.10. Nhịp điệu mùa cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.11. Bản đồ phân vùng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.1. Quy trình đánh giá cảnh quan
Hình 3.2. Bản đồ đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển cây hàng
năm của tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.3. Bản đồ đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển cây lâu năm
của tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.4. Bản đồ đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển rừng
phòng hộ của tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.5. Bản đồ đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển rừng sản
xuất của tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.6. Bản đồ đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn tiểm năng
của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.7. Bản đồ đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn thực tế của
cảnh quan tỉnh Bắc Kạn
Hình 3.8. Bản đồ định hướng không gian sử dụng hợp lí tài nguyên

Trang
38
40
41
44
47
50

vực có quỹ sinh thái lãnh thổ hết sức đa dạng và có nhiều tiềm năng để phát triển các
ngành kinh tế. Đồng thời, vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên (TNTN) cho sản xuất
ở nhiều nơi của miền núi do chưa hợp lí và đúng với quy luật tự nhiên đã làm các
nguồn tài nguyên đang dần bị suy thoái và cạn kiệt, môi trường và các hệ sinh thái
ngày càng bị mất cân bằng và ô nhiễm nặng, trong khi đó hiệu quả kinh tế đạt được
vẫn rất thấp và đời sống người dân vẫn nghèo nàn.
Đứng trước những thách thức nêu trên của miền núi, cần có các nghiên cứu mà
cách tiếp cận của nó phải mang tính tổng hợp, thể hiện rõ các đặc tính không gian và
thời gian của lãnh thổ, để có thể giải quyết đồng thời các nhiệm vụ cấp bách mà thực
tiễn đặt ra đó là mối quan hệ hài hòa giữa phát triển và môi trường, giữa nâng cao hiệu
quả sản xuất với vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT) các
lãnh thổ. Trong các hướng nghiên cứu của khoa học địa lí hiện nay, đáp ứng tốt nhất
cho mục tiêu PTBV miền núi chỉ có thể là tiếp cận cảnh quan (CQ). Bởi thông qua
nghiên cứu CQ sẽ xác định đúng được các đặc điểm cơ bản về cả tự nhiên, KT - XH,
cùng với các quy luật phân hóa đặc thù của thiên nhiên bất cứ lãnh thổ nào. Mặt khác,
mỗi đơn vị CQ được phân chia ra theo kiểu loại và theo vùng CQ đều chứa đựng các
đặc trưng riêng về quỹ sinh thái và tài nguyên không gian. Làm rõ được các nội dung
khoa học này chính là một trong những căn cứ quan trọng để tiến hành định hướng các
không gian khai thác, sử dụng tài nguyên phù hợp nhất với yều cầu phát triển của các
ngành sản xuất, các địa phương mà không làm tổn hại đến môi trường. Nói theo một
cách khác, đây chính là nghiên cứu xác lập cơ sở địa lí học theo hướng tiếp cận CQ
cho sử dụng hợp lí tài nguyên và BVMT các vùng lãnh thổ. [29,48]
Tỉnh Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa của vùng Đông Bắc song có
một vị trí quan trọng về mặt kinh tế và an ninh quốc phòng. Quốc lộ 3 chạy dọc theo
chiều dài lãnh thổ của tỉnh giúp Bắc Kạn có thể dễ dàng giao lưu với các tỉnh trong và
ngoài vùng (gồm Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, xa hơn là Hà Nội
và Vân Nam của Trung Quốc). Không chỉ có vị trí địa lý và địa chính trị quan trọng,
Bắc Kạn còn là tỉnh có nhiều điều kiện tự nhiên (ĐKTN) và TNTN thuận lợi để phát
triển một nền kinh tế toàn diện như là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, tài
nguyên nước và tài nguyên rừng. Tuy nhiên, cho đến nay Bắc Kạn vẫn là một tỉnh

Xuất phát từ những lí do nêu trên, cùng với mong muốn được góp phần xây dựng
địa phương phát triển bền vững, nghiên cứu sinh (NCS) đã lựa chọn đề tài: “Nghiên
cứu xác lập cơ sở địa lý học cho sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trường tỉnh Bắc Kạn” để thực hiện.
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu:
Xác lập cơ sở địa lí dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho định
hướng không gian sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong
phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện các nội dung chính sau đây:
- Xác lập cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho định
hướng không gian sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong
phát triển nông lâm nghiệp miền núi tỉnh Bắc Kạn;
- Phân tích đặc điểm cấu trúc, động lực mùa và chức năng của cảnh quan tỉnh
Bắc Kạn;
- Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp và giảm thiểu nguy cơ xói
mòn đất tỉnh Bắc Kạn;

2


- Đề xuất không gian phát triển nông lâm nghiệp và bảo vệ môi trường tỉnh
Bắc Kạn;
- Đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái (KTST) cho các tiểu vùng cảnh
quan (TVCQ) núi thấp và đồi cao của tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá
cảnh quan.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Phạm vi không gian:
Được giới hạn trong lãnh thổ tỉnh Bắc Kạn, nằm ở tọa độ 21o48’B đến 22o44’B

hoạch định không gian phát triển sản xuất nông lâm nghiệp cho phù hợp, nâng cao
hiệu quả kinh tế, sử dụng hợp lí các nguồn TNTN và BVMT.

3


7. Cơ sở tài liệu của đề tài
Các tài liệu được sử dụng cho luận án bao gồm:
- Tài liệu bản đồ: Bản đồ địa hình tỉnh Bắc Kạn tỉ lệ 1/100.000, các bản đồ hợp
phần tự nhiên bao gồm: địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, sinh khí hậu, thảm thực vật,
bản đồ hiện trạng và quy hoạch đất, bản đồ TBTN ở cùng tỉ lệ.
- Tài liệu lưu trữ: các báo cáo về hiện trạng và quy hoạch các ngành sản xuất, về
tổng thể phát triển KT - XH, Niên giám thống kê của tỉnh, kết quả nghiên cứu của các
đề tài, dự án có liên quan trực tiếp đến tỉnh từ khi tách tỉnh đến nay.
- Tài liệu từ kết quả khảo sát, điều tra thực địa: thu thập các số liệu về ĐKTN,
KT - XH của địa phương giai đoạn 2000 - 2014, làm cơ sở phân tích, đánh giá CQ,
thành lập lát cắt CQ, định hướng sử dụng lãnh thổ và xây dựng mô hình hệ KTST.
8. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Đặc điểm cảnh quan tỉnh Bắc Kạn.
Chương 3: Đánh giá cảnh quan cho sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi
trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn.

4


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

và lựa chọn quan niệm về CQ là hết sức cần thiết. Hiện tại trên thế giới có 2 nhóm các
nhà khoa học xem xét CQ theo hai cách nhìn dưới góc độ chuyên môn của mình: các
nhà kiến trúc, du lịch... sử dụng kiến thức của địa lí xem “cảnh quan” như “phong
cảnh”, còn các nhà địa lí xem “cảnh quan” như một địa hệ thống. Các địa hệ thống này
bao gồm bộ phận có thể nhìn thấy và cảm nhận được (đơn vị nhìn thấy - visual unit) và
bộ phận không nhìn thấy (đơn vị tư duy - mental unit hoặc landscape of mind).

5


- Các công trình khoa học về quan niệm CQ như “phong cảnh”: Cảnh quan là
phần không gian xung quanh có thể quan sát và cảm nhận được (Grano, 1928). Đó là
sự kết hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình với lớp phủ trên đó. Quan niệm này
được thể hiện rõ trong công trình “Phong cảnh tự nhiên toàn cầu” của G. Bertrand
(1968) khi ông coi phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy của CQ. Vì
thế, thuật ngữ “phong cảnh” (paysage) được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “cảnh
quan”, đồng thời quan niệm này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực
quy hoạch kiến trúc đô thị và du lịch. Ở Việt Nam, quan niệm này cũng được sử dụng
trong tác phẩm về “Kiến trúc cảnh quan” của Hàn Tất Ngạn (2012). Ông quan niệm
CQ là những thiên nhiên và nhân tạo hiện ra trước mắt, mang đến cho con người
những cảm xúc và tâm trạng khác nhau.
- Các công trình khoa học về quan niệm CQ như một địa hệ thống (Ixatsenko A.
G., 1991) hay tổng hợp thể - holistic unit (Marc Antrop, 1981): Đây là quan điểm mang
tính khoa học phát triển mạnh ở Nga và một số nước châu Âu như Tiệp, Ba Lan, Bỉ,
Đức. Dưới góc độ địa lí học của trường phái Xô Viết, “cảnh quan” được hiểu theo 3
quan niệm khác nhau:
i) Quan niệm xem CQ là khái niệm chung: Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể lãnh
thổ tự nhiên của một cấp bất kỳ. Tổng hợp thể tự nhiên (hay địa tổng thể tự nhiên)
được coi là một hệ thống không gian và thời gian của các hợp phần địa lí có quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân bố và phát triển như một thể thống nhất (A.G.

thấy (visual unit) đồng nghĩa với “phong cảnh” và bộ phận không nhìn thấy gọi là đơn
vị tư duy (metal unit hay landscape of mind) (M. Antrop, 1981, 1997). [144]
c) Các công trình khoa học về động lực mùa và chức năng cảnh quan
- Động lực mùa của CQ: đa số các nhà địa lí Nga đều cho rằng động lực mùa của
CQ là một nội dung không thể thiếu trong nghiên cứu đặc điểm CQ của một lãnh thổ.
Vì thế, S.V. Kalesnik (1959) đã xếp động lực mùa của CQ vào các đặc điểm cấu trúc
của CQ và ông gọi đó là cấu trúc thời gian, để chỉ sự biến đổi trạng thái của CQ theo
thời gian trong năm mà không liên quan đến sự biến đổi về cấu trúc không gian của nó
(bao gồm cấu trúc đứng và cấu trúc ngang). Theo ông vật hậu học là một bộ môn khoa
học địa lí có nhiệm vụ nghiên cứu về động lực mùa của CQ. Còn với A.I. Peralman
(1960, 1973), động lực mùa của CQ là một trong những chỉ tiêu quan trọng để phân
loại CQ, nhất là các cấp lớn như cấp hệ, phụ hệ và kiểu. Song để có những chỉ tiêu rõ
ràng và mang tính định lượng trong khi phân loại và phân tích cấu trúc CQ. A.G.
Ixatsenko (1953, 1991) cho rằng cần phải có những số liệu đo đạc cụ thể và liên tục
trong nhiều năm về sự thay đổi nhiệt - ẩm của CQ theo mùa. Vì vậy, ông đã tiến hành
đo đạc và tính toán về sự thay đổi nhiệt - ẩm tại 33 địa điểm thuộc các đới khác nhau
của đồng bằng Nga khi nghiên cứu về động lực mùa của CQ khu vực này. Và cho đến
nay, các quan điểm nêu trên vẫn luôn có ý nghĩa và được vận dụng khi nghiên cứu đặc
điểm CQ của các vùng lãnh thổ ở các nước trên thế giới. [65]
- Chức năng CQ: Forman và Godron (1986) đã định nghĩa chức năng CQ như là
“mối tương tác giữa các yếu tố không gian, dòng chảy vật chất và năng lượng cùng
sinh vật trong tự nhiên”. Khoa học ở Trung Âu lại cho rằng chức năng CQ chính là xác
định quá trình sinh địa hóa trong CQ. De Groot (1992) coi các chức năng CQ như là
“khả năng của các quá trình vật chất và năng lượng trong tự nhiên cùng các thành phần
của chúng có thể cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của con người”.
Theo đó, có thể chia chức năng của một đơn vị CQ ra 3 nhóm chức năng chính là:
Chức năng tự nhiên, chức năng sản xuất và chức năng xã hội (De Groot, 1992, 2006;
Bastian và Roder, 2002). Quan điểm này được nhiều nhà nghiên cứu CQ tiếp nhận,
trong đó nhấn mạnh chức năng theo nghĩa “tiềm năng.” [132,134,136]
Như vậy, dưới góc nhìn hệ thống, CQ được xem xét đồng thời ở cả 3 khía cạnh:

chung các nhà khoa học CQ nước ta đều cho rằng CQ là một địa tổng thể, là đơn vị tự
nhiên thể hiện đặc điểm và sự phân hóa lãnh thổ, đồng thời là đối tượng lao động, là
không gian diễn ra các hoạt động sản xuất của con người. Khi nghiên cứu CQ của một
lãnh thổ, nhất thiết phải nghiên cứu cấu trúc, chức năng và động lực CQ, bởi nó là nền
tảng lí luận của CQ học ứng dụng.
e) Các công trình khoa học về các hướng tiếp cận trong nghiên cứu bản chất
của cảnh quan
Nghiên cứu bản chất của mối tác động giữa các yếu tố thành tạo CQ và giữa các
đơn vị CQ chính là xem xét đặc tính các dòng di chuyển vật chất và năng lượng trong
CQ, nghiên cứu sự biến đổi CQ do tác động của con người, nhất là trong giai đoạn
phát triển kinh tế vừa theo chiều rộng ở các nước đang phát triển và vừa theo chiều sâu
ở các nước phát triển.
Các công trình nghiên cứu di chuyển vật chất theo trọng lực, theo con đường di
chuyển hóa học các nguyên tố được nghiên cứu theo tiếp cận địa hóa trong tác phẩm tiêu
biểu về “Địa hóa cảnh quan” của Perelman (1974). Ở Việt Nam, chỉ có một công trình
duy nhất nghiên cứu theo hướng này dưới một dự án được thực hiện vào những năm 1980
của thế kỉ XX bởi Trung tâm Địa lí và Tài nguyên (nay là Viện Địa lí - Viện Hàn lâm
KH&CN Việt Nam. Từ đó đến nay, hầu như không có các công trình nào đề cấp đến.

8


Các công trình nghiên cứu về trao đổi nền nhiệt ẩm trong CQ theo tiếp cận “Địa
vật lí cảnh quan” (Armand, 1983). Cách tiếp cận này đã được áp dụng ở Việt Nam khi
nghiên cứu hệ sinh thái cà phê Đắc Lắc vào thời gian 1982 - 1984 (Phạm Quang Anh
chủ biên, 1985). [2,3]
Hướng tiếp cận sinh thái CQ được xem xét trong chính bản thân CQ chứa đựng
các yếu tố sinh thái, trong mối quan hệ với sinh vật (Mikhailov, Trupakin, Luxenko,...).
Sinh thái CQ có nhiệm vụ quan trọng nghiên cứu mối quan hệ giữa các quần xã sinh vật
trong phạm vi của CQ ở các quy mô khác nhau (Carl Troll, 1939). [145]

bản đã được vận dụng nhiều hơn cho các mục đích phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh
quốc phòng (Nguyễn Đăng Hội và Nguyễn Cao Huần, 2010, 2014). [48,49,50,53]

9


f) Các công trình khoa học về phân loại và phân vùng cảnh quan
* Hệ thống phân vị phân loại cảnh quan
Tùy thuộc vào lãnh thổ nghiên cứu và quan niệm của từng tác giả mà hệ thống
phân loại CQ được hình thành với số lượng và thứ tự các cấp bậc phân vị khác nhau
như: Hệ thống phân loại của A.G. Ixatsenko (1961, 1991) với 8 cấp đơn vị phân loại
(nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại); hệ thống phân loại
của N.A. Gvozdexki (1961) gồm 5 cấp đơn vị phân loại (lớp, kiểu, phụ kiểu, nhóm,
loại); hệ thống phân loại của Nhicolaev (1973, 1996) gồm 11 đơn vị phân loại (thống,
hệ, phụ hệ, lớp, phụ lớp, nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu, hạng, phụ hạng, loại), có thể phân
loại cho các vùng lãnh thổ lớn nhỏ khác nhau. Ngoài ra, còn có rất nhiều hệ thống
phân loại khác như: hệ thống phân loại CQ của Minkov, B.B. Polunov, P.W. Mitchell
và I.A. Howard,… [27,34,46,64]
Ở các nước châu Âu hiện nay có các công trình đề cập đến phân loại CQ theo
tiếp cận tổng hợp (holistic appoach) nhưng được đơn giản hóa để có thể dùng phương
pháp Cluster bằng GIS như Blankson E. J., Green B. H. (1991), Bastian Olaf (2000),
Neerle Van Eetvelde, Marc Antrop (2004, 2007). [131,146,147]
Sự khác biệt cơ bản giữa các hệ thống CQ của các tác giả là số lượng, vị trí cấp
phân vị và dấu hiệu phân loại. Tuy các nhóm có sự khác nhau nhưng đều có quan niệm
gần giống nhau về một số cấp phân vị và các dấu hiệu nhận biết, cụ thể là: lớp, phụ
lớp, loại CQ, dưới loại CQ là các đơn vị hình thái (dạng và diện CQ).
Ở Việt Nam, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu ở ngoài nước, nhiều hệ
thống phân loại CQ được xây dựng cho phù hợp với mục tiêu và lãnh thổ nghiên cứu.
Tiêu biểu có Vũ Tự Lập (1976) đã đưa ra hệ thống phân loại CQ địa lí miền Bắc Việt
Nam gồm 8 cấp (hệ, kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, nhóm, loại, thứ) với các chỉ tiêu kèm

nhiệt ẩm và đặc trưng riêng về tính nhịp điệu mùa trên nền chung của hệ/phụ hệ CQ
nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á. Vì vậy, các lớp và phụ lớp CQ nằm trong cấp kiểu
CQ, có đặc trưng riêng về thực vật và các quá trình tự nhiên.
Mặc dù số lượng các cấp phân vị trong các hệ thống phân loại nêu trên có sự
khác nhau tùy thuộc vào lãnh thổ và mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, hầu hết các hệ
thống phân loại đều có chỉ tiêu hết sức rõ ràng và khá thống nhất với nhau về tiêu chí
và thứ tự trên dưới của một số cấp phân loại như lớp, phụ lớp, loại.
* Hệ thống phân vị phân vùng cảnh quan
Nguyên tắc của phân vùng CQ chủ yếu dựa trên việc xem xét các nhân tố địa đới
và phi địa đới, song do quan niệm về vai trò của hai quy luật phân hóa tự nhiên (địa
đới và phi địa đới) của các nhà địa lí có sự khác nhau nên xuất hiện nhiều hệ thống
phân vùng CQ. Hiện nay, các hệ thống phân vùng CQ được chia thành 3 nhóm chính
sau: (dẫn theo Vũ Tự Lập, 1976): [70]
- Nhóm chính thứ nhất lại loại bỏ hoàn toàn quy luật địa đới và chỉ coi nhân tố
phi địa đới (địa chất - địa mạo) mới là nhân tố chủ đạo phân hoá các địa tổng thể. Mọi
tính chất khác của địa tổng thể như khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật đều chỉ
xem xét trong mối tương quan trực tiếp, trong khung cảnh sẵn có với cơ sở địa chất,
địa mạo. Hệ thống đơn vị này bao gồm : Lục địa - Xứ - Miền - Vùng (Xontxev, 1958,
1960; G.D. Rikhter, 1964).
- Nhóm chính thứ hai coi nhân tố địa đới và phi địa đới có giá trị ngang nhau
trong sự hình thành hệ thống phân vị nhưng có một số khác biệt cơ bản dẫn tới sự hình
thành 3 nhóm phụ:
i) Nhóm phụ thứ nhất coi 2 quy luật địa đới và phi địa đới có sự luân phiên nhịp
nhàng với đại diện là F.N. Minkov (1956, 1959): “Vòng - Xứ - Đới - Khu - Dải Vùng”.
ii) Nhóm phụ thứ hai coi 2 quy luật địa đới và phi địa đới có sự luân phiên không
nhịp nhàng với đại diện A.A. Grigoriev: “Vòng - Ô - Đới - Miền - Khối - Vùng Cảnh”, V.B. Xotsava: “Vòng - Miền - Đới - Khu - Khối - Vùng - Nhóm dạng - Dạng”.
iii) Nhóm phụ thứ ba xem xét đồng thời các nhân tố địa đới và phi địa đới ở tất cả
các cấp phân vị nên không có sự luân phiên. Tuy nhiên trong thực tế, có lúc, có nơi,

11

tương đối rõ ràng cho từng cấp phân vị . Đến năm 1978, Vũ Tự Lập đưa ra một hệ thống
phân vùng tự nhiên ngắn gọn hơn cho lãnh thổ đất liền Việt Nam, gồm 3 cấp: đới (2) ->
miền (3) - khu (13). Đây là những công trình có ý nghĩa lớn trong công tác điều tra và sử
dụng lãnh thổ của đất nước trong giai đoạn xây dựng XHCN ở miền Bắc. [71,98]
Kế thừa có chọn lọc các kết quả phân vùng địa lí tự nhiên đã thực hiện, Trung
tâm địa lí tài nguyên - Viện KHCN Việt Nam (1992) đã xây dựng hệ thống phân vùng
CQ Việt Nam gồm: Đới (1) - á đới (2) - miền (9) - á miền (2) - vùng (42). Năm 1997,
tác giả Phạm Hoàng Hải cùng với các cộng sự đã “Nghiên cứu các nguyên tắc và hệ
thống phân vị cảnh quan Việt Nam”, để tiến đến “Phân vùng cảnh quan Việt Nam”
thành 2 á đới, 8 miền và 66 vùng CQ trên bản đồ tỉ lệ 1/100.000. Ngoài ra, còn phải kể
đến hệ thống phân vùng CQ của một số nhà địa lí khác như Nguyễn Cao Huần (1992,
2010), Trương Quang Hải (1991)... [29,34,51,59]

12


g) Các công trình khoa học về đánh giá cảnh quan cho các mục đích thực tiễn
Đánh giá các địa tổng thể nói chung và CQ nói riêng nhằm mục đích xác định
mức độ thuận lợi hoặc khó khăn của các mục tiêu thực tiễn cụ thể.
Trên thế giới: các nguyên tắc, phương pháp và quy trình đánh giá tổng hợp thể tự
nhiên phục vụ các mục đích thực tiễn được trình bày một cách khá đầy đủ và logic
trong công trình của L. I. Mukhina (1973). Tiếp đó, một loạt các nghiên cứu đánh giá
tổng hợp cho các vùng lãnh thổ khác nhau như đánh giá KT - XH của Kunhixki
(1973), đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN cộng hòa Ucraina của A.M.Marinhic
(1976)… [29,57,87]
Ở Anh, đánh giá CQ được sử dụng như là một cơ sở khoa học quan trọng để tạo
ra tính khách quan trong nghiên cứu tổng hợp các lãnh thổ. Theo Appleton (1975),
đánh giá CQ nên sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp với sự đánh giá
của các chuyên gia. Ngoài ra, Ukwin đề xuất và mô tả quy trình đánh giá CQ gồm 3
giai đoạn: xác định CQ, giá trị CQ và đánh giá CQ. Mặc dù, các giai đoạn đánh giá CQ

dụng lãnh thổ cần tiến hành đánh giá các điều kiện địa lí nói chung và đánh giá CQ nói
riêng. Về lí luận và thực tiễn của đánh giá CQ được trình bày trong các công trình của
Nguyễn Cao Huần (2005), Phạm Hoàng Hải (1997),... Theo đó, các phương pháp được
ứng dụng trong đánh giá CQ ở nước ta có: phương pháp đánh giá kinh tế sinh thái các
CQ của Nguyễn Cao Huần (2005); phương pháp đánh giá đất đai FAO của Trần An
Phong (1993). Trong việc xác định một cách khách quan đối với các chỉ tiêu đánh giá,
hệ số tầm quan trọng để áp dụng kết hợp một số phương pháp mang tính chất định tính
và bán định lượng như: phân tích mối quan hệ sinh thái giữa điều kiện sinh thái và nhu
cầu sinh thái của đối tượng mục tiêu, phương pháp ma trận tam giác của Nguyễn Cao
Huần (2005), phương pháp phân tích nhân tố của Đặng Mai (1991), Nguyễn Thơ Các
(1999), Nguyễn Viết Thịnh (2002), Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh (2004),
phương pháp đánh giá ALES - GIS của Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Cao Huần, Phạm
Quang Tuấn (2004), phương pháp phân tích thứ bậc - AHP của Phạm Hoàng Hải,
Nguyễn Ánh Hoàng (2010),... [44,55,57]
Nhìn chung, các nghiên cứu về phương pháp đánh giá CQ ở nước ta ngày càng
mang tính chất định lượng nhiều hơn, giúp giảm thiểu tính chủ quan trong đánh giá, vì
thế kết quả đánh giá và định hướng không gian sử dụng cho các mục đích, các lãnh thổ
có tính chính xác và hiệu quả hơn.
1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng hợp lí tài nguyên và
bảo vệ môi trường dựa trên tiếp cận cảnh quan
a) Các công trình về định hướng không gian phát triển sản xuất gắn với sử
dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
* Trên thế giới
Nghiên cứu lí luận và khoa học đánh giá CQ là cơ sở cho sự phát triển hướng
nghiên cứu CQ học ứng dụng. Các mục đích nghiên cứu CQ ứng dụng thường tập
trung vào các lĩnh vực KT - XH trong khai thác, sử dụng các đến ĐKTN và TNTN cho
phát triển nông lâm nghiệp, du lịch sinh thái, bảo tồn tự nhiên, phân bố dân cư, quy
hoạch đô thị,... Vì vậy, các lĩnh vực vừa nêu đều có liên quan trực tiếp đến vấn đề sử
dụng hợp lí tài nguyên gắn với BVMT các vùng lãnh thổ.
Tại Đức và Liên Xô cũ, nghiên cứu CQ chủ yếu được ứng dụng cho việc phát triển

Ở các nước châu Á, đặc biệt là Đông Á, số lượng các công trình nghiên cứu CQ
ứng dụng cũng tăng nhanh do sự phát triển không ngừng của dân số và nền kinh tế đã
làm thay đổi mạnh mẽ các CQ tự nhiên, gây cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi
trường, đòi hỏi phải có những căn cứ khoa học để đề xuất các định hướng sử dụng và
bảo vệ tài nguyên hợp lí, hướng tới sự phát triển lâu bền. Tiêu biểu là Nhật, họ quan
tâm nhiều đến việc sử dụng hợp lí các lưu vực sông, hồ. Bằng cách tái hiện và so sánh
cấu trúc CQ cũ và mới ở các lưu vực sông, họ cho rằng những thay đổi của CQ có liên
quan chặt chẽ đến những thay đổi các loại hình sử dụng đất, như công trình của
Fujihara M. Và Kikuchi T. (2005) nghiên cứu cấu trúc CQ lưu vực sông Nagara,
Matsushita B. (2006) nghiên cứu cấu trúc hồ Kusumigaura. Ở Trung Quốc, hướng
nghiên cứu ứng dụng tập trung nhiều vào việc đề xuất không gian sử dụng hợp lí tài
nguyên đất ở các khu vực tự nhiên khác nhau, như công trình của Jun-Xi Wu (2006)
nghiên cứu CQ nông nghiệp đồng bằng sông Dương Tử; Zaizhi Zhou (2000) nghiên
cứu CQ nông trường Nam Hoa ở miền nam Trung Quốc; Lubo G. và nnk (2011)
nghiên cứu CQ đồi Gully ở cao nguyên hoàng thổ... [139,142,143,148]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu CQ ứng dụng xuất hiện ngày càng nhiều,
không chỉ ở các nước phát triển mà con lan rộng sang các nước đang phát triển. Mặc
dù chúng phục vụ cho các mục đích thực tiễn khác nhau, có nội dung, cách thức tiếp
cận khác nhau song các công trình đều cho thấy nghiên cứu CQ là hướng đi quan trọng
của địa lí tự nhiên hiện đại, là cơ sở khoa học tin cậy để giải quyết vấn đề sử dụng tài
nguyên và BVMT hiện nay ở tất cả các quốc gia.
* Ở Việt Nam

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status