ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------
DƢƠNG THỊ HUỆ
CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC KỸ THUẬT
Ở TRUNG QUỐC VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Đông Phƣơng học
Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
Hà Nội – 2015
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------
DƢƠNG THỊ HUỆ
CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC KỸ THUẬT
Ở TRUNG QUỐC VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
Ngành: Đông Phƣơng học
Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ...............................................................................28
CHƢƠNG 2 ....................................................................................................29
QUÁ TRÌNH VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC ......29
KỸ THUẬT TRUNG QUỐC .......................................................................29
2.1. Bối cảnh ra đời của cải cách ..................................................................29
2.2. Khái quát quá trình cải cách.................................................................31
2.2.1. Giai đoạn 1978-1985 ............................................................................. 32
2.2.2. Giai đoạn 1985-1996 ............................................................................. 33
2.2.3. Giai đoạn 1996-2006 ............................................................................. 37
2.2.4.Giai đoạn từ năm 2006 đến nay ............................................................. 39
iii
2.3. Nội dung cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ......................................42
2.4.Thành tựu, tồn tại và giải pháp cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
Trung Quốc ....................................................................................................46
2.4.1. Thành tựu .............................................................................................. 46
2.4.2. Những vấn đề còn tồn tại ...................................................................... 48
2.4.3. Giải pháp cải cách ................................................................................. 56
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ...............................................................................59
CHƢƠNG 3 ....................................................................................................60
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM ..........................................60
3.1. Thực trạng cơ chế chính sách quản lý, phát triển khoa học công nghệ
của Việt Nam trong những năm gần đây ....................................................60
3.1.1. Cơ chế, chính sách đầu tƣ tài chính cho khoa học công nghệ .............. 62
3.1.2. Cơ chế quản lý nhân lực khoa học công nghệ ...................................... 67
3.1.3. Cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ . 70
3.2. Những ý kiến gợi mở góp phần đổi mới cơ chế, chính sách quản lý
phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam.................................................72
3
Bảng 3.2: Ngân sách đầu tƣ cho khoa học công nghệ của
một số nƣớc năm 2011
6
3
Bảng 3.3: Tỷ lệ cơ cấu chi đầu tƣ phát triển KH&CN từ
NSNN theo khu vực
6
5
Bảng 3.4: Chi cho NC&PT của một số nƣớc theo nguồn
cấp và khu vực thực hiện năm 2011
6
6
Bảng 3.5: Nhân lực NC&PT theo thành phần kinh tế
và chức năng.
6
8
vi
PHẦN MỞ ĐẦU
toàn quốc, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh : “Bốn hiện đại hóa quan trọng nhất
là hiện đại hóa khoa học - kỹ thuật. Không hiện đại hóa khoa học - kỹ thuật
cũng không thể có nền kinh tế phát triển tốc độ cao”.1 Khi đó, địa vị chiến
lƣợc của khoa học kỹ thuật trong sự nghiệp hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa đặc
sắc Trung Quốc đã bắt đầu đƣợc xác lập.
Sau năm 1979 Đặng Tiểu Bình đã đƣa ra quan điểm “Khoa học - kỹ
thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu”2 nhƣng chƣa thực sự đi sâu vào cải
cách. Nhƣng từ cuối những năm 70 cho đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX,
Đặng Tiểu Bình đã hình thành và phát triển quan điểm “sự nghiệp hiện đại
hóa phải dựa vào khoa học và giáo dục”. Quan điểm ấy đã đặt cơ sở lý luận
vững chắc cho việc đề xuất và thực thi chiến lƣợc “Khoa giáo hƣng quốc”. Và
dựa theo tƣ tƣởng chiến lƣợc này, đến năm 1985 Đảng Cộng sản Trung Quốc
tuyên bố quyết định cải cách thể chế khoa học - kỹ thuật và cải cách thể chế
giáo dục, xác lập phƣơng châm chiến lƣợc “Phát triển kinh tế phải dựa vào
khoa học kỹ thuật, công tác khoa học kỹ thuật phải hƣớng tới phát triển kinh
tế” và “giáo dục phải phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục”. Năm 1995, Trung
ƣơng Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc đã đƣa ra “Quyết định của
Trung ƣơng Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc về việc tăng cƣờng
tiến bộ khoa học - kỹ thuật”, mở Đại hội Khoa học - kỹ thuật toàn quốc, lần
đầu tiên chính thức đề xuất thực thi chiến lƣợc “Khoa giáo hƣng quốc”. Tại
Đại hội Khoa học - kỹ thuật toàn quốc, Giang Trạch Dân chỉ ra rằng: “Khoa
1
四个现代化,关键是科学技术现代化。没有现代科学技术,就不可能建设现代农业,
现代工业,现代国防。没有科学技术的高速发展,也就不可能有国民经济的高速度发展
2
科学技术是第一生产力
3
Vì vậy, quốc gia nào thành công trong việc thu hút, phát triển nhân tài, quốc
gia đó sẽ giành đƣợc ƣu thế vƣợt trội trên trƣờng quốc tế. Là một đất nƣớc
đƣợc biết đến nhƣ một “điểm nóng” về nhân tài trong khu vực châu Á, Trung
Quốc đã ý thức từ rất sớm tầm quan trọng của vấn đề và đi đến nhận thức
“Nhân tài là nguồn tài nguyên số một”, “khai thác nhân tài là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu” trên con đƣờng thực hiện tham vọng trở thành siêu cƣờng thế
giới. Trong hai cuộc họp vào ngày 23 tháng 5 và 24 tháng 11 năm 2003 của
Bộ chính trị Trung Quốc đã đi đến xác định coi: khoa học kỹ thuật là lực
lƣợng sản xuất số một, phát triển nền kinh tế theo khuynh hƣớng chú trọng
vào chất nhằm tăng cƣờng sức sản xuất, làm nổi bật vị trí hàng đầu của phát
triển nhân tài đối với việc tăng cƣờng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao
vị thế cạnh tranh quốc tế. Tiếp theo, tại Hội nghị về công tác nhân tài diễn ra
trong hai ngày 19-20/12/2003, lần đầu tiên trong lịch sử quốc gia này kể từ
khi thành lập nƣớc, Trung ƣơng Đảng Cộng sản đã tổ chức Hội nghị về công
tác nhân tài diễn ra trên quy mô toàn quốc. Hội nghị đã thảo luận và đề xuất
thực thi chiến lƣợc “Nhân tài cƣờng quốc”. Theo đó, ngày 26 tháng 12 năm
2003, Quốc vụ viện, Trung ƣơng Đảng Cộng sản đã đƣa ra Quyết định về vấn
đề từng bƣớc tăng cƣờng công tác nhân tài. Điều này đã cho thấy Trung Quốc
đã sớm nhận ra tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển đất
nƣớc và việc xây dựng thể chế khoa học kỹ thuật phù hợp, tiến hành cải cách
thể chế khoa học kỹ thuật. Và cho đến những năm gần đây với sự phát triển
vũ bảo của khoa học kỹ thuật nhƣ Internet khiến cho các nhà lãnh đạo Trung
Quốc phải nhìn lại và phát triển hơn nữa các chính sách về khoa học kỹ thuật
và tiếp tục cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc.
Đứng trƣớc tình hình mới của thế giới, khu vực và những yêu cầu mới
đặt ra của cải cách mở cửa, Hội nghị Trung ƣơng 3 khóa 18 Đảng Cộng sản
5
xây dựng chiến lƣợc, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật tƣơng đối đa
dạng và mang tính đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp
với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia. Điều nổi bật rút ra
từ chiến lƣợc, chính sách của các nƣớc trên thế giới từ những nƣớc có nền
kinh tế phát triển đứng hàng đầu thế giới cho đến những nƣớc có nền kinh tế
chậm phát triển và lạc hậu, đó chính là quan điểm: “Sự phát triển khoa học và
kỹ thuật là một phƣơng hƣớng quan trọng mới, có tính quyết định trong việc
phát triển kinh tế quốc gia”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu cải cách thể chế
khoa học kỹ thuật của các nƣớc trên thế giới và trong khu vực để áp dụng và
phát huy một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của đất nƣớc mình có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng đối với các nƣớc trên con đƣờng công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nói chung và đối với Việt Nam nói riêng hiện nay.
Mục đích của luận văn là tìm hiểu và nghiên cứu quá trình cải cách thể
chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc; phân tích những thành tựu, hạn chế,
nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu quan niệm của Trung Quốc về thể chế khoa học kỹ thuật và
cải cách thể chế khoa học kỹ thuật;
- Phân tích nguyên nhân dẫn đến tiến hành cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật ở Trung Quốc;
-Tìm hiểu quá trình cải cách, nội dung của cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật ở Trung Quốc;
- Phân tích đánh giá những thành tựu, tồn tại và giải pháp của cải cách
thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc;
- Rút ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
hoàn thiện chính sách cơ chế quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng khoa học
công nghệ.
7
Viết về cải cách khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, Nguyễn Điền cho
công bố công trình “Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở
Trung Quốc trong thời kỳ cải cách”. Tác giả cũng đã tiến hành phân tích rõ
tình hình phát triển khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp qua từng
giai đoạn của thời kỳ cải cách. Từ đó, bài viết chỉ rõ những đóng góp to lớn
đáng khích lệ của khoa học kỹ thuật trong việc phục vụ nông nghiệp ở Trung
Quốc trong ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Công trình cũng chỉ ra rằng,
bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc vẫn
chƣa đủ đáp ứng yêu cầu đặt ra của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Tình hình nghiên cứu ở Trung Quố c
Các học giả Trung Quốc rất quan tâm đến vấn để cải cách
thể chế
khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t, điề u này thể hiê ̣n qua khá nhiề u công triǹ h với nhƣ̃ng đóng
góp nhất định . Tác giả Phƣơng Tâm 方新,关于深化科技体制改革的思考
,中国科学院院刊,北京, 2003 (Phƣơng Tâm, Suy nghĩ về việc đi sâu cải
cách thể chế khoa học kỹ thuật, Tạp chí Viện khoa học Trung Quốc, Bắc kinh,
2003). Bài viết chủ yếu khái quát và đánh giá quá trình cải cách thể chế khoa
học kỹ thuật hơn 10 năm qua của Trung Quốc. Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ
ra việc tăng cƣờng cải cách thể chế quản lý khoa học kỹ thuật vĩ mô đã trở
thành nhiệm vụ cấp thiết, đặc biệt là yêu cầu xây dựng hiện đại hóa đất nƣớc
đối với cải cách thể chế khoa học kỹ thuật. Bài viết chủ yếu đi sâu vào ba nội
dung chính sau: Nhìn lại khái quát về cải cách thể chế khoa học kỹ thuật;
lực đổi mới; Giai đoạn hai buộc chuyển đổi cơ cấu doanh nghiệp nghiên cứu
khoa học, đồng thời hạ thấp giá thành của thị trƣờng giao dịch kỹ thuật và
nghiên cứu nội bộ, ngành nghề hóa kỹ thuật, nâng cao rõ rệt hiệu quả đổi mới
doanh nghiệp, và mức vốn khoa học kỹ thuật, hiệu suất của cơ cấu nghiên cứu
khoa học tuy đã đƣợc nâng cao nhƣng vẫn thấp ở doanh nghiệp, nguyên nhân
là do hiệu suất của thiết bị và nhân công đều tƣơng đối thấp.
9
饶
毅, 谈谈中国科技体制改革, 民主与科学,北京, 2012 年
05 期 ( Nhiễu Nghị, Bàn về cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc,
Dân chủ và Khoa học, Bắc Kinh, kỳ 5/2012). Bài viết khái quát vai trò của
khoa học trên nhiều lĩnh vực nhƣ: y tế, giáo dục, kinh tế…để chứng minh tầm
quan trọng của nó đối với sự giàu mạnh của nhân dân và thịnh vƣợng quốc
gia. Bài viết chủ yếu xoanh quanh ba vấn đề chính: Khoa học là vấn đề đáng
đƣợc mọi ngƣời quan tâm chú ý đến; Trình độ khoa học của Trung Quốc vẫn
có rất nhiều không gian để phát triển; Thể chế nghiên cứu khoa học hiện nay
của Trung Quốc có thể đƣợc cải cách.
Trong một công trình khác (唐龙, 科技创新推动经济发展方式转变
的理论研究述评, 湖北经济学院学报,湖北,2013 年第 1 期(Đƣờng
Long, Bình luận nghiên cứu lý luận về đổi mới khoa học kỹ thuật nhằm thúc
đẩy chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, Học báo học viện kinh tế Hồ
Bắc, Hồ Bắc, kỳ 1/2013, tác giả đã nhận định rằng: Điều cốt lõi của việc đổi
mới khoa học kỹ thuật hỗ trợ cho chuyển đổi phƣơng thức phát triển kinh tế là
nâng cao sự đóng góp của tiến bộ và đổi mới khoa học kỹ thuật đối với tăng
trƣởng kinh tế, khiến nó trở thành động lực quan trọng nhất của tăng trƣởng
and
Technology:
Reform
and
Development(Beijing: China Intercontinental Press, 2004. Tác giả cho rằng
“Khoa học kỹ thuật của Trung Quốc đƣợc phát triển theo kế hoạch dài dạn
trong vòng 5 năm và phần đầu tiên của bản kế hoạch này đƣợc giới thiệu vào
năm 1956”.
Tại nước ngoài:
Các công trình nghiên cứu của học giả phƣơng Tây mà tác giả có cơ
hô ̣i đƣơ ̣c tiế p câ ̣n là không nhiề u . Có thể kể đến hai công trình tiêu biểu sau :
Martin L. Weitzman and Chenggang Xu 1994; “Chinese Township–Village
Enterprises as Vaguely Defined Cooperatives.” Dani Rodrik 2006. Trong
công trin
̀ h này, tác giả cho rằng “Chính sách cải cách của Trung Quốc thƣờng
không thích ứng với bản chất của chế độ cơ bản và thỉnh thoảng làm cản trở
việc phát huy tính ƣu việt của chế độ cơ bản”.
Công trình “Science anh technology policies, industrial reform and
technical progress in China” (Chính sách khoa học và công nghệ, cải cách
công nghiệp và sự tiến bộ trong khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc) của tác giả
Alberto Gabriele (tháng 8 năm 2001, tại United Nation Conference on Trade
and Development) cũng đƣợc đánh giá là một công trình có đóng góp cho
việc nghiên cứu những cải cách thể chế khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ cho
phát triển kinh tế ở Trung Quốc. Công trình đã đi vào phân tích các nhiệm vụ
11
5. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận: Luận văn đặt việc nghiên cứu cải cách thể chế khoa
học kỹ thuật trong toàn bộ tiến trình cải cách thể chế nói riêng và cải cách mở
cửa nói chung của Trung Quốc.
- Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu nhƣ tổng hợp, phân tích, lịch sử,...
6. Nguồn tài liệu sử dụng
6.1. Nguồn tài liệu cấp 1(tài liệu gốc) chủ yếu bao gồm:
- Các văn kiện gốc của Đảng và Nhà nƣớc Trung Quốc về cải cách thể
chế khoa học kỹ thuật.
- Các báo cáo của chính phủ, chính quyền các cấp về việc thực hiện
các cải cách thể chế khoa học kỹ thuật.
6.2. Nguồn tài liệu thứ cấp:
- Các công trình khoa học đã đƣợc công bố bao gồm các bài viết về
khoa học kỹ thuật, cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của các nhà khoa học
Trung Quốc, quốc tế.
- Các thông tin từ báo chí chính thống, các Website của Trung Quốc,
Việt Nam và các nƣớc khác.
7. Bố cục luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Nguyên nhân Trung Quốc tiến hành cải cách thể thế khoa
học kỹ thuật.
Chƣơng này tập trung giới thiệu các khái niệm có liên quan về thể chế
và cải cách thể chế khoa học kỹ thuật; phân tích các nguyên nhân bên trong và
bên ngoài dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc.
13
khoa học kỹ thuật đều chƣa đƣa ra đƣợc định nghĩa chính xác về thể chế khoa
học kỹ thuật. Nhƣng nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật là những nhận
thức hiểu biết chung mà các học giả nghiên cứu về thể chế khoa học kỹ
thuật đã đƣa ra. Trong bối cảnh nhƣ vậy, điều cần thiết là chúng ta cần phải
nắm bắt đƣợc nội hàm của khoa học kỹ thuật từ góc độ thực tiễn.
Cổ Tiêu Nhân (2003) cho rằng:“Về bản chất, thể chế là hình thái hiện
thực cụ thể của chế độ, bao hàm trong phạm trù chế độ”.3 Chính vì vậy, bản
chất của thể chế khoa học kỹ thuật là việc chế độ hóa của các hoạt động khoa
học kỹ thuật, cũng là hệ thống thể chế xã hội của khoa học kỹ thuật. Nội dung
của cải cách thể chế khoa học kỹ thuật chủ yếu bao gồm: Cơ cấu tổ chức khoa
học kỹ thuật, điều chỉnh pháp quy chính sách khoa học kỹ thuật và chuyển
dịch của cơ chế vận hành khoa học kỹ thuật. Cùng với đó, các học giả nghiên
cứu cũng cho rằng thể chế khoa học kỹ thuật bao gồm ba nội dung, đó là: Cơ
cấu tổ chức khoa học kỹ thuật, pháp quy chính sách khoa học kỹ thuật và cơ
chế vận hành khoa học kỹ thuật. Điều này phản ánh giới học thuật có nhận
thức chung nhất quán đối với nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật. Hiện tại,
3
“
从本质上讲,体制是制度的具体实现形态,包含在制度的范畴内”. 古标仁 (2003), “论转
型时期科技体制的变迁及其对经济发展的促进”。南宁:广西大学科学技术哲学硕士论文, 2 页.
15
chƣa có nhà nghiên cứu nào đi sâu tiến hành phân tích và mô tả chi tiết về các
khái niệm và nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật. Phƣơng Tâm Tại trong
bài viết “ Khung phân tích trong nghiên cứu thể chế khoa học” đã đƣa ra giới
dân trở thành chủ thể kinh tế kinh doanh tự chủ, nâng cao giá trị sản phẩm
nông sản, mở cửa thị trƣờng thành thị và nông thôn. Sau đó, ở thành thị thì
tiến hành thí điểm cải cách mở rộng quyền tự chủ kinh doanh xí nghiệp, giảm
bớt kế hoạch pháp lệnh đối với sản xuất và tiêu thụ…Những cải cách này có
hiệu quả thể chế rất rõ, kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị trở nên nhộn
nhịp, thu nhập của những ngƣời dân tăng lên đáng kể. Chính những điều này
đã thuyết phục mạnh mẽ đông đảo ngƣời dân chấp nhận cải cách thể chế kinh
tế theo hƣớng thị trƣờng.
Kinh tế thị trƣờng tạo động lực lao động tích cực, tự giác cho từng
ngƣời lao động thông qua cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy chuyên môn hóa ngày
càng sâu để phát huy tiềm năng nhiều mặt của ngƣời lao động, phối hợp, điều
tiết hành vi của mọi ngƣời một cách tự giác thông qua cơ chế trao đổi hàng
hóa một cách tự nguyện, thỏa thuận theo quy luật cung - cầu. So với cơ chế kế
hoạch hóa tập trung của Nhà nƣớc trong thời bao cấp, kinh tế thị trƣờng
không tốn chi phí lập và điều hành kế hoạch, mà lại phát huy đƣợc sức mạnh
của con ngƣời.
Cải cách kinh tế từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trƣờng đã góp
phần to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội. Trong đó vai trò nòng cốt của
khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế ngày càng đƣợc nhận thức rõ ràng.
Các thành tựu khoa học kỹ thuật là động lực chủ yếu cho phát triển kinh tế.
Yêu cầu đặt ra đối với cải cách thể chế khoa học kỹ thuật để phù hợp với sự
phát triển của kinh tế xã hội là đòi hỏi tất yếu đối với mỗi quốc gia trên con
đƣờng xây dựng đất nƣớc.
Để thúc đẩy sự phát triển đất nƣớc, một trong những điều quan trọng
nhất là phải cải cách thể chế khoa học kỹ thuật. Hiện nay, khoa học kỹ thuật
17
ngày càng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội cũng nhƣ sự
thuật nảy sinh nhiều vấn đề. Những vấn đề đó đƣợc cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, cơ chế vận hành đơn nhất. Sự vận hành của hệ thống khoa
học kỹ thuật ở Trung Quốc trƣớc đây chỉ đơn thuần là dựa vào kế hoạch mang
tính mệnh lệnh và tính hành chính để tiến hành quản lý, không coi trọng vai
trò của đòn bẩy kinh tế và cơ chế thị trƣờng, thiếu áp lực và động lực hƣớng
lên việc xây dựng kinh tế.
Thứ hai, sự tách rời giữa kinh tế và khoa học kỹ thuật. Tại Trung
Quốc, các kết quả nghiên cứu chƣa đƣợc ứng dụng rộng rãi, do thiếu sự kết
hợp giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu. Các tổ chức nghiên cứu thƣờng
chú trọng tính học thuật của các kết quả nghiên cứu khoa học mà không chú ý
đến ứng dụng các thành quả nghiên cứu đó vào thực tiễn đời sống. Bên cạnh
đó, chi phí về tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực cho các nghiên cứu về
khoa học kỹ thuật bị hạn chế nên thời gian hoàn thành luôn bị trì hoãn kéo
dài, không theo kịp xu hƣớng phát triển của kinh tế thị trƣờng. Điều đó ảnh
hƣởng đến tính ứng dụng trong thực tiễn của các nghiên cứu. Mặt khác, theo
thể chế truyền thống, khả năng nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật của
doanh nghiệp là rất yếu. Việc nghiên cứu, thiết kế và sản xuất lại càng thiếu
mối liên hệ mật thiết với nhau.
Thứ ba, các cơ quan nghiên cứu thiếu sức sống. Ở Trung Quốc đội
ngũ nhân viên, kinh phí, và nhiệm vụ nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu
thƣờng do cơ quan chủ quản quản lý, thành quả nghiên cứu do nhà nƣớc thu
nhận. Chính phủ Trung Quốc đã can thiệp quá sâu vào nhiều phƣơng diện
hoạt động của tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tổ chức nghiên cứu thiếu
quyền tự chủ cần có, và cũng thiếu trách nhiệm và áp lực kinh tế.
19