So sánh đi sâu cải cách thể chế kinh tế nông thôn ở Trung Quốc và ở Việt
Nam
1. Điểm tương đồng trong phương hướng cải cách kinh tế nông thôn ở Trung
Quốc và Việt Nam
Mục tiêu cải cách kinh tế nông thôn của Trung Quốc và của Việt Nam đều là phát
triển kinh tế nông thôn, nâng cao mức thu nhập của nông dân, cuối cùng tiến hành
hiện đại hóa nông nghiệp.
Trải qua cải cách mấy năm trước đây, kinh tế nông thôn ở Trung Quốc và Việt
Nam đều có được sự phát triển với những mức độ khác nhau, đã giải quyết được
vấn đề lương thực cho nông dân và vấn đề cung ứng nguyên liệu cho ngành chế
biến nông sản. Nhưng kinh tế nông thôn của hai nước còn phải đối mặt với rất
nhiều vấn đề giống nhau, như kinh tế nông thôn phát triển chậm, thu nhập của
nông dân thấp, thị trường nông thôn phát triển không tốt.Những vấn đề này đã hãm
sự phát triển của kinh tế nông thôn hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Tiếp đó,
xoay quanh vấn đề hiện đại hóa nông nghiệp, hai nước đều phải áp dụng biện pháp
thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, tăng thu nhập cho nông dân, vực dậy thị
trường nông thôn, đi sâu cải cách kinh tế nông thôn.
Phân tích từ tổng thể, phương hướng cải cách kinh tế nông thôn của Trung Quốc và
Việt Nam có những điểm tương đồng sau:
1.1. Tiếp tục điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Căn cứ vào đề án kế hoạch 5 năm lần thứ 10, phát triển kinh tế- xã hội Trung
Quốc, nguyên tắc điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn là hướng ra
thị trường, dựa vào khoa học kỹ thuật, lấy nông hộ và xí nghiệp kinh doanh chuyên
môn hóa nông nghiệp làm chủ thể, không ngừng hướng sản xuất theo chiều sau và
chiều rộng. Lấy những sản phẩm có ưu thế, nâng cao chất lượng, và tăng hiệu quả
làm trung tâm, tích cực điều chỉnh cơ cấu ngành trồng trọt, cơ cấu sản phẩm và cơ
cấu chất lượng sản phẩm, phát triển nhanh ngành chăn nuôi, đến năm 2005, tỷ
trọng giá trị sản phẩm của ngành chăn nuôi đạt khoảng 33% trong tổng sản phẩm
nông nghiệp.
Tăng cường xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng nông nghiệp, hệ thống kiểm
tra chất lượng và hệ thống thông tin thị trường, áp dụng rộng rãi tiêu chuẩn quốc
rõ, 5 năm tới, làm tốt việc duy trì và xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ và vừa ở
nông thôn như hệ thống tưới tiêu đồng ruộng, tiếp tục xây dựng và cải cách đồng
bộ những khu tưới tiêu loại hình loại hình lớn với mục tiêu là tiết kiệm nước.
Việt Nam cũng coi trọng việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn.
Hàng trăm đầu tư cho xây dựng thủy lợi đều tăng. Nhà máy thủy điện Hòa Bình-
công trình thủy lợi nổi tiếng ở Việt Nam không chỉ cung cấp điện cho sản xuất cho
các ngành kinh tế và điện sinh hoạt cho dân cư, mà còn có đóng góp quan trọng
trong việc thoát nước chống lũ cho nông nghiệp, bảo đảm những mùa vụ bội thu.
2. Điểm khác biệt
2.1. Quyền lợi đối với đất đai của nông dân Trung Quốc và Việt Nam hiện
nay không giống nhau, nên nội dung và hình thức cải cách cũng khác
nhau
Quyền lợi đối với ruộng đất mà nông dân hai nước Trung Quốc và Việt Nam được
hưởng là khác nhau.
Đề án kế hoạch 5 năm lần thứ 10 phát triển kinh tế-xã hội Trung Quốc nêu rõ,
“trên cơ sở ổn định lâu dài quan hệ khoán ruộng đất, khuyến khích các vùng có
điều kiện tích cực tìm tòi cải cách chế độ chuyển nhượng quyền kinh doanh đất”.
Qua đó, có thể thấy, từ nay về sau, Trung Quốc còn cần tăng cường cải cách chế độ
chuyển nhượng quyền kinh doanh đất đai.
Luật đất đai đã được sửa đổi, bổ sung và công bố năm 1998 của Việt Nam quy
định, nông dân được hưởng 5 quyền đối với ruộng đất.
Quyền lợi về ruộng đất mà nông dân Việt Nam được hưởng nhiều hơn so
với nông dân Trung Quốc.
2.2. Hình thức tổ chức sản xuất khác nhau
ở Trung Quốc vẫn khẳng định lấy nông hộ và xí nghiệp kinh doanh chuyên môn
hóa nông nghiệp làm chủ thể. Khuyến khích xí nghiệp chế biến nông sản, xí nghiệp
tiêu thụ và các cơ quan nghiên cứu khoa học kéo nông hộ tham gia thị trường, và
cùng với nông hộ hành thành nên cơ chế có lợi cùng hưởng, rủi ro cùng chịu.
ở Việt Nam, có nhiều mô hình trang trại, nhưng phổ biến nhất là mô hình trang trại
gia đình. Ngoài ra có ba loại mô hình trang trại khác nhưng số lượng tương đối ít.
Sáu là, nâng cao cải cách quản lý hành chính. Tăng cường phân cấp quản lý, phối
hợp phân công, xây dựng cơ chế điều hòa, tập hợp phương án kế hoạch của Nhà
nước ở khu vực này, để phát huy tính chủ động, tính sáng tạo của địa phương.