Dự án Luật Trọng tài thương mại và sự tiếp cận các chuẩn mực quốc tế - Pdf 33

Dự án Luật Trọng tài thương mại và sự tiếp cận các chuẩn mực quốc tế
Theo dự kiến, tại Kỳ họp thứ 7 diễn ra đầu năm 2010, Quốc hội Khóa XII sẽ xem xét, thông
qua Dự án Luật trọng tài thương mại. Đây là dự án Luật có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta. Để góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện dự án
Luật, bài viết đề cập đến quá trình hình thành, thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt
Nam, những hạn chế, nguyên nhân và yêu cầu, định hướng hoàn thiện nhằm tiếp cận các chuẩn
mực trọng tài thương mại quốc tế.
1. Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam
1.1. Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh TTTM 2003), ở Việt Nam
tồn tại hai loại hình trọng tài, đó là trọng tài kinh tế nhà nước và trọng tài phi chính phủ. Trọng tài
kinh tế nhà nước là mô hình trọng tài do Nhà nước thành lập ra, có chức năng giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, thực
chất, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh
tế, vừa thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước
(1). Mô hình này được hình thành đầu tiên bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14/4/1960. Sau đó,
được nâng lên bằng Pháp lệnh Trọng tài kinh tế nhà nước năm 1990, theo đó, trọng tài được tổ
chức ở ba cấp, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước, Trọng tài kinh tế tỉnh và Trọng tài kinh tế huyện.
Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống tòa án kinh tế theo Luật sửa đổi
một số điều của Luật Tổ chức tòa án năm 1993. Bắt đầu từ thời điểm này, các tòa án kinh tế sẽ
giải quyết các tranh chấp kinh tế.
Đối với trọng tài phi Chính phủ, tồn tại hai mô hình khác nhau. Mô hình thứ nhất ra đời từ năm
1963 bằng Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Hội
đồng Trọng tài ngoại thương. Tiếp sau đó, ngày 5/10/1964, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị
định số 153/CP về việc thành lập Hội đồng Trọng tài hàng hải. Đến ngày 28/4/1993, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 204/TTg về việc thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế
Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất
Hội đồng Trọng tài ngoại thương và Hội đồng Trọng tài thương mại hàng hải. Mô hình trọng tài
thứ hai là các trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày
05/09/1994 của Chính phủ. Có 05 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định này (02
Trung tâm tại thành phố Hà Nội, 01 Trung tâm tại thành phố Hồ Chí Minh, 01 Trung tâm tại Cần

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 quy định việc tòa án sẽ trả lại đơn kiện
trong trường hợp “sự việc đã được các bên thoả thuận trước là giải quyết theo thủ tục trọng tài”.
Tuy nhiên, quy định này cũng có nhiều bất cập, chỉ đề cập một cách chung chung là tòa án phải
từ chối giải quyết tranh chấp khi các bên đã có thoả thuận trọng tài, nhưng đã bỏ sót một vấn đề
quan trọng là hiệu lực pháp lý của thoả thuận trọng tài.
Trong thực tế, các bên có thỏa thuận sử dụng trọng tài, khi thể hiện bằng một điều khoản
trọng tài trong các hợp đồng. Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết hoặc do sơ suất nên các bên đã ký
những thoả thuận trọng tài không chính xác. Điều đó làm cho các thỏa thuận trọng tài trở nên
không có giá trị pháp lý hoặc không thể thực hiện được. Các điều khoản trọng tài không rõ ràng
tồn tại rất nhiều trong thực tế. Ví dụ, VIAC nhận được nhiều điều khoản trọng tài chỉ quy định
“tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết bằng trọng tài”, “tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết
bởi trọng tài kinh tế Việt Nam” hoặc “tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết bởi hội đồng trọng
tài do các bên chỉ định” v.v.. Rõ ràng, những điều khoản trọng tài này rất khó áp dụng khi tranh
chấp xảy ra (2), bởi nó không xác định tên của một tổ chức trọng tài cụ thể, hoặc các bên đã lựa
chọn trọng tài adhoc (trọng tài vụ việc), một phương thức không được pháp luật Việt Nam thừa
nhận vào thời điểm đó.


Và với những điều khoản trọng tài không rõ ràng nêu trên, nếu khởi kiện ra tòa án thì tòa án
cũng sẽ từ chối giải quyết vì các bên đã có thoả thuận trọng tài (3). Như vậy, tranh chấp có phát
sinh trong thực tế nhưng không được cơ quan nào giải quyết. Đây là điểm bất cập lớn của hệ
thống pháp luật về trọng tài trước đây.
Ngoài ra, giải quyết tranh chấp cũng đòi hỏi phải có một số biện pháp bảo đảm cần thiết để
bảo vệ lợi ích của các bên tranh chấp như ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, triệu tập
nhân chứng v.v.. Do hạn chế về thẩm quyền, nhất là quyền đối với bên thứ ba, trọng tài không
thể ra lệnh áp dụng các biện pháp này. Trong trường hợp này, pháp luật các nước đều có quy
định vai trò hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài. Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp,
nếu thấy có nguy cơ tài sản là đối tượng của vụ tranh chấp bị tẩu tán, thì một bên có quyền yêu
cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo cho việc thi hành quyết định trọng
tài sau này. Sẽ vô cùng rủi ro khi các bên chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp mà không biết

này đã phá bỏ nguyên tắc giải quyết của trọng tài là quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm,
làm cho pháp luật trọng tài Việt Nam hoàn toàn khác biệt với pháp luật trọng tài các nước, đồng
thời làm triệt tiêu tính ưu việt của phương thức trọng tài là tính chung thẩm. Trọng tài vốn được
các bên ưu tiên lựa chọn bởi thủ tục đơn giản, linh hoạt, thời gian ngắn. Trong khi đó, Nghị định
số 116/CP đã đi ngược lại nguyên tắc này, gây tốn kém thêm chi phí về thời gian và tiền bạc của
các bên.
Chính vì các quy định bất cập trên, trong suốt một thời gian dài từ năm 1994 đến năm 2003,
05 trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định số 116/CP hầu như không có việc
làm, có trung tâm từ ngày được thành lập đến khi Nghị định hết hiệu lực không nhận được bất kỳ
một đơn kiện nào.
1.2. Khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn
thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam. Có thể nói, hầu hết các bất cập trước đây đã được Pháp
lệnh khắc phục và về cơ bản phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là sự hoàn
thiện các quy định về vai trò hỗ trợ và giám sát của tòa án đối với trọng tài cũng như xác định
hiệu lực pháp lý của Quyết định trọng tài và cơ chế thi hành Quyết định trọng tài. Điều này làm
cho các doanh nghiệp tin tưởng lựa chọn và sử dụng trọng tài nhiều hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu việt nói trên, qua sáu năm thực hiện, Pháp lệnh TTTM 2003
đã bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập, cần được khắc phục bằng việc ban hành một đạo
luật mới về trọng tài thương mại (Luật Trọng tài thương mại) với những quy định hoàn thiện hơn.
Những vấn đề cần được giải quyết và hoàn thiện tại Pháp lệnh bao gồm: phạm vi thẩm quyền
giải quyết tranh chấp của trọng tài; chủ thể của các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài;
thỏa thuận trọng tài vô hiệu; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; việc triệu tập nhân
chứng; vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; việc hủy quyết
định trọng tài, vấn đề địa điểm tiến hành trọng tài; cách tính thời hiệu khởi kiện v.v..
2. Những điểm mới của Dự thảo Luật Trọng tài thương mại
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài hay còn gọi là vai trò hỗ trợ và giám sát của
tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp
Dự thảo đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng
này, theo đó trọng tài sẽ nhận được sự hỗ trợ kịp thời của tòa án nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc

chấp đưa ra trọng tài sẽ tăng.
Thứ ba, tiêu chuẩn trọng tài viên
Trên thực tế, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước không đưa ra tiêu chuẩn của Trọng tài
viên mà tôn trọng quyền tự quyết của các bên tranh chấp, trong đó có quyền lựa chọn cho mình
trọng tài viên phù hợp nhất để giải quyết tranh chấp, dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên
nghiệp, kiến thức chuyên môn, uy tín của cá nhân đó. Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam,
mức độ sàng lọc và khả năng tiếp cận đối với trọng tài còn hạn chế, Dự thảo đã đưa ra hai
phương án.
Phương án 1 được thiết lập trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh TTTM 2003 và xuất phát từ tình
hình thực tế tại Việt Nam. Theo phương án này, cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ
đại học và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên có thể là Trọng tài viên.
Phương án 2 được thiết lập theo mô hình trọng tài nước ngoài là không đưa ra yêu cầu về
bằng cấp mà chỉ nhấn mạnh tiêu chí chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn. Theo phương án này,
cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng
yêu cầu giải quyết tranh chấp có thể là trọng tài viên.


Ngoài ra, Dự thảo cho phép các Trung tâm trọng tài được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn khi
kết nạp vào danh sách trọng tài viên của Trung tâm mình. Đồng thời, nhằm khuyến khích hoạt
động của các Trọng tài viên, tạo điều kiện cho các Trọng tài viên nâng cao trình độ nghiệp vụ
trọng tài, bảo vệ các quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ, Dự thảo quy định việc thành lập Hiệp hội
Trọng tài mà thành viên có thể là các Trọng tài viên hoặc các Trung tâm trọng tài.
Thứ tư, quốc tịch trọng tài viên
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh TTTM 2003, Dự án Luật Trọng tài thương mại
không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa là người nước ngoài
cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức
trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng
cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ năm, Dự thảo đã nâng vị thế của Trọng tài một cách đáng kể thông qua việc cho phép
Hội đồng trọng tài được quyền ra quyết định áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời

thông lệ và kinh nghiệm lập pháp của nhiều nước mà mục đích là để khuyến khích ý thức tuân
thủ pháp luật và tính vô tư, khách quan của các trọng tài viên.
Cuối cùng, trên cơ sở tiếp thu Luật mẫu UNCITRAL cũng như pháp luật trọng tài của các
nước, Dự thảo đã xác lập nguyên tắc quan trọng là trong quá trình tố tụng trọng tài, nếu một bên
nhận thấy những quy định của Luật hoặc của thoả thuận trọng tài bị vi phạm, chẳng hạn như
thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực, không có thỏa thuận trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài
không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà không đưa ra phản đối trong thời hạn quy định
thì được coi là mất quyền khiếu nại tại Trọng tài hoặc Toà án. Quy định này nhằm ngăn chặn một
cách có hiệu quả các hành vi cơ hội trong tố tụng trọng tài, tránh tình trạng việc giải quyết vụ
tranh chấp bị kéo dài, xét xử nhiều lần.
Tóm lại, các quy định của Dự thảo đang tiếp cận các chuẩn mực của pháp luật và thực tiễn
trọng tài thương mại quốc tế hiện đại và có tính đến điều kiện thực tế của Việt Nam. Nếu được
Quốc hội thông qua, Luật Trọng tài thương mại sẽ là công cụ pháp lý hữu hiệu, thúc đẩy trọng tài
phát triển. Cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước có thêm niềm tin khi lựa chọn trọng tài
Việt Nam để giải quyết tranh chấp.
(1) Bộ Tư pháp, Trọng tài kinh tế - một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta, Đề
tài khoa học cấp trường, Mã số: LH 95 008.
(2) VIAC hoặc các trung tâm trọng tài khác chắc chắn sẽ phải từ chối đơn kiện, bởi điều
khoản trọng tài không chỉ rõ tên một tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Đối với
VIAC, theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng của mình, VIAC chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh
chấp khi các bên có thoả thuận chọn VIAC để giải quyết tranh chấp.
(3) Điều 32 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
(4) Rất nhiều quyết định trọng tài của VIAC được tuyên cũng chỉ có ý nghĩa về mặt giấy tờ, bởi
trong quá trình giải quyết tranh chấp, mặc dù biết các tài sản của vụ tranh chấp bị một bên tẩu
tán nhưng đành chấp nhận mà không thể nhận được sự trợ giúp của tòa án.
(5) Quy định tại các Điều 39; 40 (các khoản 4, 5); Điều 44(khoản 3); Điều 45; 47 (các khoản 3,
4); Điều 48 (khoản 8); Điều 64; 65; 67 của Dự thảo.
(6) Điều 64. Căn cứ huỷ phán quyết trọng tài.
Toà án ra quyết định huỷ phán quyết trọng tài nếu bên yêu cầu chứng minh được Hội đồng
Trọng tài đã ra phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status