TM2.NT2.8. Công ty cổ phần M do bà P, phó Giám đốc làm đại diện (được
ông Q, Giám đốc kiêm chủ tịch Hội đồng quản trị chấp thuận ủy quyền qua
điện thoại) ký hợp đồng số 01/HĐ bán vật liệu xây dựng cho công ty TNHH
N. Ngoài những nội dung chi tiết khác, trong hợp đồng các bên có thỏa
thuận: "Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ
được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài thương mại có thẩm quyền tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật".
Sau khi hợp đồng đã được ký kết, ông Q gửi công văn thông báo cho
công ty N với nội dung công ty M sẽ không thực hiện hợp đồng số 01/HĐ,
với lý do: hợp đồng này vô hiệu toàn bộ (do phó Giám đốc công ty M ký hợp
đồng không có giấy ủy quyền bằng văn bản của Giám đốc công ty). Công ty
N yêu cầu công ty M phải thực hiện hợp đồng theo đúng thỏa thuận, nhưng
công ty M không thực hiện. Sau khi thương lượng không thành, công ty N đã
làm đơn khởi kiện công ty M tại Tòa án.
Yêu cầu: Anh (chị) hãy cho biết:
- Việc giao kết hợp đồng số 01/HĐ của bà P có đúng thẩm quyền hay
không? Tại sao?
- Thỏa thuận trọng tài của các bên trong hợp đồng số 01/HĐ có giá
trị pháp lý hay không? Tại sao?
Mục Lục
Việc giao kết hợp đồng số 01/HĐ của bà P có đúng thẩm quyền hay
không? Tại sao?
Để xem xét việc giao kết hợp đồng số 01/HĐ của bà P có đúng thẩm
quyền hay không, ta cần làm rõ các vấn đề sau đây: (1) việc giao kết hợp
đồng thương mại của công ty cổ phần M do ai có thẩm quyền ký kết ? và (2)
việc giao kết hợp đồng thương mại của công ty có thể được ủy quyền hay
Nếu trong các loại văn bản trên không có quy định cụ thể nào về thẩm
quyền của bà P trong vấn đề này, ta sẽ phải căn cứ vào các quy định của
pháp luật để xem xét. Cụ thể, theo quy định của pháp luật, giám đốc là người
đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nên giám đốc mới có tư cách đứng
ra ký các hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự nhân danh doanh nghiệp đó.
Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng như pháp luật doanh nghiệp cũng quy định
về chế độ ủy quyền. Theo đó, người nhận ủy quyền sẽ được thực hiện các
công việc thuộc về quyền hạn của người ủy quyền. Trong doanh nghiệp, nếu
giám đốc ủy quyền cho phó giám đốc thì phó giám đốc sẽ có một số quyền
mà giám đốc đã giao phó. Điều 142 BLDS có quy định về trường hợp đại
diện theo ủy quyền như sau:
“1. Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền
giữa người đại diện và người được đại diện.
2. Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp
luật quy định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản.”
Như vậy, hình thức ủy quyền có thể do các bên thỏa thuận, có thể
bằng văn bản, lời nói hay hành vi cụ thể. Đến đây, để giải quyết vấn đề việc
giao kết hợp đồng số 01/HĐ của bà P có đúng thẩm quyền hay không, thì
cần xét hợp đồng ủy quyền giữa ông Q và bà P có hiệu lực hay không, tức
hình thức có hợp pháp hay không (nội dung ủy quyền coi như đã hợp pháp).
Cụ thể cần xét đến các trường hợp sau:
• Hình thức ủy quyền không hợp pháp: đây là trường hợp mà: (1) Điều
lệ hoặc các văn bản của công ty có quy định việc ủy quyền trong trường
hợp như này cần phải bằng văn bản; hoặc (2) việc ủy quyền là vì lí do ông
Q đi nước ngoài trên 30 ngày, trường hợp này luật quy định bắt buộc ông Q
phải “uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ
công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp
luật của công ty” (Điều 95 Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều 16 Nghị định
thuận trọng tài đã được xác lập trước khi có tranh chấp - là một điều khoản
trong hợp đồng được ký kết giữa Công ty cổ phần M và Công ty TNHH N.
• Trước hết, xét trường hợp vụ tranh chấp trên đây xảy ra trước ngày
01/01/2011 (khoảng thời gian Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 vẫn
còn hiệu lực thi hành), như vậy cần áp dụng Pháp lệnh trọng tài thương mại
năm 2003 để giải quyết tranh chấp này:
Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài thương mại thì thoả
thuận trọng tài vô hiệu trong 6 trường hợp, trong đó có một trường hợp liên
quan đến tình huống này đó là:
“…4. Thoả thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối
tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp
mà sau đó các bên không có thoả thuận bổ sung;”
Trong tình huống nêu trên, hai bên trong hợp đồng đã thỏa thuận rằng
“mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải
quyết tại Trung tâm Trọng tài thương mại có thẩm quyền tại Việt Nam theo
quy định của pháp luật”. Như vậy, có thể khẳng định rằng đây là một thỏa
thuận trọng tài mà hai bên đã không rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp và đồng thời các bên cũng không có thoả thuận bổ sung
(mà một bên – công ty N – thậm chí đã kiện thẳng ra Tòa). Có thể thấy, thỏa
thuận trọng tài này chưa giúp các bên xác định chính xác một tổ chức trọng
tài cụ thể nào có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp phát sinh. Do đó,
chiếu theo khoản 4, Điều 10 nêu trên, thỏa thuận trọng tài giữa công ty M
và công ty N bị vô hiệu. Trong trường hợp này, căn cứ quy định tại Điều 5
Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 thì một trong các bên có thể đưa tranh
chấp ra Toà án giải quyết (đây là việc mà bên công ty N đã làm).
Tóm lại, nếu vụ tranh chấp nêu trên xảy ra trong khoảng thời gian Pháp
lệnh Trọng tài thương mại 2003 đang có hiệu lực, thì có thể kết luận rằng
thỏa thuận trọng tài của các bên trong hợp đồng số 01/HĐ không có giá trị
thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh
chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn”. Đây là một quy định rất
tiến bộ của luật so với pháp lệnh cũ, sẽ ngăn chặn và giảm bớt được tình
trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào
giải quyết tranh chấp.
Như vậy, theo các quy định mới của Luật Trọng tài thương mại 2010,
thỏa thuận “mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ
được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài thương mại có thẩm quyền tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật” của hai bên công ty sẽ không bị coi là vô
hiệu giống như quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 nữa. Tuy
nhiên, luật mới quy định các bên phải tiến hành thỏa thuận lại về hình thức
trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Còn nếu
không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải
quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn – tức theo yêu
cầu của công ty TNHH N.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trường hợp hợp đồng giữa hai công ty bị vô
hiệu do vi phạm thẩm quyền kí kết như phân tích ở câu a, thì các điều khoản
thỏa thuận trọng tài vẫn giữ nguyên hiệu lực. Bởi theo quy định tại Điều 19
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì: “thoả thuận trọng tài hoàn toàn
độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô
hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận
trọng tài”.
Danh mục tài liệu tham khảo
• Bộ luật Dân sự năm 2005
• Luật Doanh nghiệp năm 2005
• Luật Thương Mại năm 2005