BÀI tập LUẬT THƯƠNG mại CÓ ĐÁP ÁN - Pdf 22

I.1. Những ai có thể là thành viên công ty?
1. Chúng ta đã có dịp nói về các thành viên sáng lập công ty ở chương thứ nhất
trong đó có đề cập đến những người không thể đứng ra sáng lập- đồng nghĩa với
thành viên của công ty dù bất cứ loại hình nào. Những quy định này tất nhiên cũng
được áp dụng cho loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Riêng việc góp vốn, chú ý đến hai thành phần sau:
- Đối với công chức:

Luật cán bộ công chức quy định cán bộ không được làm
những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật
phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc
khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền
1
- Đối với viên chức: Viên chức được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều
hành công ty trách nhiệm hữu hạn trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy
định khác
2
.
- Đối với Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng
tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
mình
3
.
* Tài liệu tham khảo
Tài liệu 1: Cán bộ, công chức, viên chức có bị pháp luật cấm mua cổ phần,
phần vốn góp không?
Trường hợp 1
Ông Nguyễn Văn M có 70% phần vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn giữ chức vụ
Chủ tịch Hội đồng thành viên. Sau đó, ông M trở thành công chức. Ông M có được
giữ lại 70% phần vốn của mình tại công ty trách nhiệm hữu hạn này không? Ông
M có phải bỏ chức vụ Chủ tịch Hội đồng thành viên không?

gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư,
trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác”.
Việc ông A mua phần vốn góp của ông B và trở thành thành viên công ty, tức là
ông A trở thành thành viên Hội đồng thành viên. Với tư cách là thành viên Hội
đồng thành viên, ông A chắc chắn có tham gia biểu quyết tại Hội đồng thành viên.
Mà Hội đồng thành viên lại là cơ quan quản lý công ty trách nhiệm hữu hại hai
thành viên trở lên. Như vậy, có ý kiến cho là ông A đã “tham gia quản lý, điều
hành”. Mà hành vi “tham gia quản lý, điều hành” của công chức như ông A đã bởi
cấm bởi điểm b khoản 1 điều 37 Luật phòng chống tham nhũng 2005.
Tuy nhiên, cũng lại có ý kiến cho rằng nếu ông A không giữ chức vụ Chủ tịch Hội
đồng thành viên hoặc Giám đốc công ty mà chỉ là thành viên thông thường thì ông
A không thực hiện hành vi “tham gia quản lý, điều hành” vì theo khoản 13 điều 4
Luật doanh nghiệp 2005 thì thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn không phải là
người quản lý doanh nghiệp, mà đã không phải là người quản lý doanh nghiệp thì
không thể thực hiện hành vi “tham gia quản lý, điều hành” được. Ngoài ra giả sử
ông A sở hữu vốn góp nên có cơ hội biểu quyết tại Hội đồng thành viên nhưng điều
này không đủ để chứng minh được ông H đã biểu quyết tại Hội đồng thành viên.
Tài liệu 2: Xác định tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên- Góc nhìn từ thực tiễn xét xử của Tòa án
Một câu hỏi đặt ra nhưng chưa thể tìm được câu trả lời thuyết phục từ quy định của
pháp luật hiện hành đó là: tư cách thành viên công ty phát sinh khi nào? Việc xác
định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty có ý nghĩa quan trọng trong
việc xác định thời điểm hưởng các quyền lợi cũng như gánh vác các nghĩa vụ của
thành viên. Và trong một số trường hợp, việc xác định thời điểm phát sinh tư cách
thành viên (mới) của công ty gắn liền với việc xác định thời điểm chấm dứt tư cách
thành viên (cũ) là căn cứ cho việc phân định việc hưởng quyền và gánh vác nghĩa
vụ liên quan đến phần vốn góp trong công ty cũng như việc phân định thẩm quyền
xét xử, giải quyết các tranh chấp liên quan khi có tranh chấp xảy ra. Trong phạm vi

ngân hàng hay chi cho việc thành lập công ty theo thỏa thuận của các thành viên
góp vốn. Đến tháng 5/2006, ông Mai Thanh Bình được tuyển làm kế toán trưởng
đã thống kê lại chi thu quỹ tiền mặt trong tháng 4/2006, ông Lộc thấy các khoản
chi tiêu không rõ từ phía bà Lan, ông Minh nên nhiều lần nhắc nhở kiểm quỹ,
quyết toán đối chiếu nhưng hai người không làm. Đến ngày 25/5/2006, bà Lan
tuyên bố không thành lập công ty Đắc Phúc và chỉ đạo di dời, tẩu tán tài sản cũng
như trả nhà thuê, trốn tránh việc trả lại vốn góp cho các thành viên.
Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Lộc yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Lan (người
dự kiến là chủ tịch Hội đồng thành viên công ty Đắc Phúc) và ông Trần Công Minh
phải hoàn trả số tiền góp vốn là 220.000.000đ (đã trừ chi phí thành lập công ty
30.000.000đ), vì ngay từ lúc thỏa thuận góp vốn, bà Lan đã xác định chịu trách
nhiệm về thủ quỹ mà mình giới thiệu.
Quyết định của bản án : Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn (ông
Nguyễn Tấn Lộc) buộc ông Trần Công Minh có trách nhiệm phải trả cho ông
Nguyễn Tấn Lộc 155.000.000đ.
Trong thực tiễn, không ít trường hợp tại thời điểm thỏa thuận góp vốn thành lập
công ty, những người góp vốn đã thực hiện việc góp tài sản như thỏa thuận (ví dụ
những người góp vốn cùng thỏa thuận mở một tài khoản rồi chuyển số tiền góp
vốn vào đó, khi công ty được thành lập thì toàn bộ số tài khoản này sẽ được
chuyển sang cho công ty). Nhưng thực tế là công ty vẫn chưa được thành lập, tư
cách pháp nhân của công ty vẫn chưa phát sinh, tài sản vẫn chưa được chuyển giao
sang cho công ty. Vậy nên, tại thời điểm công ty chưa được thành lập, mặc dù đã
thực hiện nghĩa vụ góp vốn theo thỏa thuận nhưng tư cách thành viên công ty của
người góp vốn vẫn chưa phát sinh. Và đó là căn cứ quan trọng để xác định thẩm
quyền xét xử của Tòa án. Với vụ việc nêu trên theo quy định tại điểm a khoản 1
điều 33, điểm a khoản 1 điều 35, điểm h khoản 1 điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ
án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận hoặc Tòa án nhân dân
quận 1 chứ không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Bởi vì, tại thời điểm này công ty chưa được thành lập, vì vậy tư cách thành viên
công ty chưa thể phát sinh. Mặc dù luật cho phép các thành viên được quyền ký

Thứ ba, trường hợp tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được
công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp là trở thành thành viên công ty ?
Tương tự như biên bản giao nhận tài sản góp vốn, luật cũng quy định những nội
dung chủ yếu, cần phải ghi trong giấy chứng nhận phần vốn góp tuy nhiên luật
cũng không xác định cụ thể giá trị pháp lý của giấy chứng nhận này. Điểm khác
biệt chính giữa giấy chứng nhận và biên bản giao nhận đó là giấy chứng nhận phần
vốn góp được công ty cấp cho thành viên tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp,
đối với toàn bộ số tài sản mà thành viên góp thì chỉ được cấp một giấy chứng nhận
phần vốn góp, còn biên bản giao nhận thì có thể được lập nhiều lần tùy theo số lần
giao nhận thực tế. Tuy nhiên, khi có tranh chấp liên quan đến việc góp vốn của
thành viên góp vốn thì bản thân giấy chứng nhận phần vốn góp, biên bản giao nhận
chưa đủ để chứng minh việc hoàn thành nghĩa vụ góp vốn của thành viên. Nếu hai
loại giấy trên được lập với các nội dung chủ yếu như luật định và có chữ ký của
người đại diện theo pháp luật của công ty kèm theo việc đóng dấu của công ty thì
thường đủ căn cứ để chứng minh là thành viên nào đó đã góp vốn vào công ty.
Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp, biên bản giao nhận được lập giữa cá
nhân người góp vốn với đại diện theo pháp luật của công ty mà không sử dụng con
dấu của công ty, ngoài ra trong sổ sách kế toán không thể hiện việc tài sản góp vốn
được đưa vào trong công ty thì thực tế xét xử Tòa án thường xem đây là giao dịch
cá nhân giữa người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty (hoặc
người nhận tài sản thông qua biên nhận nhận tài sản). Như vậy, bản thân giấy
chứng nhận phần vốn góp không có giá trị xác định thời điểm phát sinh tư cách
thành viên công ty. Nó chỉ có giá trị xác định việc thành viên đã hoàn tất nghĩa vụ
góp vốn còn tư cách thành viên đương nhiên được xác lập và phát sinh theo giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh mà không cần phải có giấy chứng nhận phần vốn
góp.
Trong quá trình hoạt động của công ty, nếu như để chứng minh về việc góp vốn
thành viên có giấy chứng nhận công ty chưa được thành lập, biên bản giao nhận thì
bản thân phía công ty lại lưu giữ thông tin về thành viên và việc thực hiện nghĩa vụ
góp vốn thông qua Sổ đăng ký thành viên. Nếu như trong công ty cổ phần, người ta

Quyết định giám đốc thẩm số 06/2009/KDTM-GĐT ngày 15/7/2009 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp giữa các thành viên
công ty
NHẬN THẤY
Các nguyên đơn trình bày: Chị Đặng Thị Dịu (là con gái ông Đặng Tất Lộc –
nguyên giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Long; ông Lộc đã chết
tháng 11/2004) là thành viên có ghi danh, có ý định chiếm đoạt tài sản Công ty nên
đã triệu tập Hội nghị thành viên Công ty, bầu cử người trong gia đình không phải
là thành viên Công ty, chiếm quyền quản lý cơ sở kinh doanh của Công ty, chiếm
đoạt con dấu, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ngăn cản không cho các thành
viên khác vào Công ty đến cơ sở kinh doanh để làm việc và quản lý tài sản của
Công ty. Các nguyên đơn khởi kiện với yêu cầu Toà án buộc chị Đặng Thị Dịu trả
lại cho tập thể con dấu, Giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh khách sạn Hoàng Long, trả lại toàn bộ giấy tờ, sổ sách của danh nghiệp mà
chị Dịu đang chiếm giữ; không chấp nhận tư cách Chủ tịch Hội đồng thành viên
kiêm giám đốc Công ty Hoàng Long của chị Đặng Thị Dịu; việc cấp lại Giấy đăng
ký kinh doanh cho Công ty là không hợp pháp phải thu hồi, huỷ bỏ.

Bị đơn – Chị Đặng Thị Dịu trình bày: Công ty Hoàng Long thành lập và hoạt động
từ năm 1993; chị Dịu là thành viên chính thức của Công ty từ khi thành lập cho
đến nay. Ngày 29/11/2004, ông Đặng Tất Lộc – Giám đốc Công ty ốm chết; trước
khi chết ông Lộc không để lại di chúc.
Ngày 16/4/2005, ông Bùi Hữu Cần nhân danh Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu
tập cuộc họp Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng thành viên, bổ nhiệm chị
Hoàng Thị Hương làm Giám đốc Công ty; số người tham gia cuộc họp chỉ chiếm
24,82% tổng số vốn góp của các thành viên Công ty.
Không chấp nhận kết quả cuộc họp nói trên, ngày 24/4/2005 các thành viên Công
ty Hoàng Long chiếm 75,77% vốn điều lệ đã triệu tập Đại hội thành viên Công ty;
số thành viên chiếm 24,82% vốn điều lệ không tham gia Đại hội. Đại hội đã bầu
chị Đặng Thị Dịu làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc Công ty Hoàng

thành viên Công ty.
- Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có sự gian lận nên đề nghị
xử huỷ bỏ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cấp lại.
Tại Quyết định số 04/2009/KN-KDTM-TKT ngày 10/02/2009, Chánh án Toà án
nhân dân tối cao kháng nghị Bản án kinh doanh thương mại số 31/2006/KDTM-PT
ngày 14/02/2006 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao và đề nghị Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng
huỷ Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 31/2006/KDTM-PT ngày
14/02/2006 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Bản án kinh
doanh, thương mại sơ thẩm số 04/2005/KDTM-ST ngày 18/10/2005 của Toà án
nhân dân tỉnh Quảng Ninh; giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại điện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý
kiến nhất trí một phần nội dung kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
về việc Toà án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định: “Phòng đăng ký kinh
doanh… cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2202000999 ngày 24/6/2005
cho Công ty Hoàng Long (sau khi các đương sự đã khởi kiện vụ án) là hợp pháp,
có căn cứ pháp luật” nhưng lại kiến nghị với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng
Long và Phòng đăng ký kinh doanh… “xem xét lại tư cách thành viên Công ty của
chi Bùi Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Ngọc Lan và trả lời cho Toà án biết” là
không đúng pháp luật, vượt thẩm quyền” không đồng ý với các nội dung khác có
liên quan đến vấn đề về tư cách thành viên Công ty và vốn góp của chị Đặng Thị
Dịu; về tư cách thành viên Công ty của bà Lê Thị Hộ, chị Đặng Thị Thu Hương,
chị Đặng Thị Xuân; về yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn…
XÉT THẤY
1. Về tư cách thành viên Công ty Hoàng Long và vốn góp của chị Đặng Thị Dịu.
Căn cứ Biên bản cuộc họp ngày 06/6/1993 (bản sao không có chứng thực) và Điều
lệ Công ty năm 1993 (bản sao không có chứng thực), Giấy phép thành lập Công ty
trách nhiệm hữu hạn số 001113/GP/TLDN ngày 10/10/1993 của Uỷ ban nhân dân
tỉnh Quảng Ninh cấp cho Công ty Hoàng Long, Giấy chuyển nhượng khoản vốn

Lộc; nhưng họ đã chính thức trở thành thành viên Công ty theo đúng quy định của
Luật doanh nghiệp 1999 hay chưa thì chưa đủ căn cứ khẳng định vì ngày
20/4/2005 bà Hộ, chị Xuân, chị Hương lại có đơn đề nghị công nhận thành viên
Hội đồng Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Long.
3. Về yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn và việc việc giải quyết của Toà án các
cấp
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/6/2005 các chị Nguyễn Thị Ngọc Lan, Bùi Thị
Thanh Hương, Hoàng Thị Hương đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh buộc
chị Đặng Thị Dịu phải trả lại cho tập thể con dấu, giấy phép kinh doanh, giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh khách sạn Hoàng Long để các sáng lập viên tổ
chức lại toàn bộ sổ sách giấy tờ của doanh nghiệp; do ông Lộc đã chết, vì vậy buộc
Công ty phải thực hiện lập lại báo cáo tài chính từ năm 1993 đến nay (BL01).
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2005 ông Bùi Hữu Cầu (đại diện theo uỷ
quyền của chị Bùi Thị Thanh Hương) giữ nguyên yêu cầu trên; ngoài ra, còn cho
rằng chị Dịu có tên trong danh sách thành viên sáng lập nhưng không góp vốn (BL
218).
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2005, ông Cầu, ông Chính, chị Hoàng Thị
Hương đều không thừa nhận chị Dịu có góp vốn vào Công ty; không thừa nhận tư
cách thành viên Công ty của bà Hộ, chị Dịu, chị Hương, chị Xuân; không đồng ý
với việc xác định vốn góp của các thành viên Công ty tại biên bản họp ngày
8/3/1998; không thừa nhận kết quả Đại hội thành viên Công ty ngày 24/4/2005 (BL
260-262).
Với các căn cứ nêu trên, việc Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý đơn khởi
kiện của các nguyên đơn để giải quyết bằng vụ án kinh doanh, thương mại tranh
chấp giữa các thành viên của Công ty với nhau là đúng quy định tại khoản 3 Điều
29 Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao tại điểm b tiểu mục 3.5 mục 3 phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ.HĐTP
ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, do
chưa đủ căn cứ vững chắc để xác định phần vốn góp của chị Đặng Thị Dịu như nêu
trên và về tư cách thành viên của bà Hộ, các chị Xuân, Hương cũng chưa có đủ căn

;
- Được quyền khiếu nại hoặc khởi kiện Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi không
thực hiện đúng nghĩa vụ, gây thiệt hại đến lợi ích của thành viên hoặc công ty theo
quy định của pháp luật
5
;
- Trong những trường hợp luật định, được yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành
viên khi xét thấy quyền lợi bị xâm phạm
6
.
2._ Quyền liên quan đến tài chính
- Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế
và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên
Nghị định 102/2010/NĐ-CP vẫn dành tỷ lệ quyền được hưởng lợi nhuận cho công
ty khi quy định “Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số
phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ
trường hợp Điều lệ công ty quy định khác”
7
nhưng mọi điều khoản tước bỏ hay hạn
chế quyền được chia lợi nhuận được thể hiện tại Điều lệ dành cho thành viên được
chỉ định nào đó đều vô hiệu;
- Được thu hồi vốn góp tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá
sản
8
trên cơ sở giá trị tài sản còn lại của công ty;
- Được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ
9
;
- Được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để thừa kế,
tặng cho và cách khác một phần hay toàn bộ phần vồn vốn góp theo quy định của

Hai quy định này của Luật doanh nghiệp 2005 tạo ra một hệ quả pháp lý là: Kể cả
trong trường hợp thành viên không góp đủ vốn thì thành viên vẫn phải chịu trách
nhiệm trong phạm vi số vốn đã cam kết góp. Ngoài ra giả sử thành viên không góp
đủ vốn đúng hạn thì số vốn chưa góp vẫn được coi là nợ của thành viên đối với
công ty. Như vậy, trách nhiệm của thành viên không giới hạn trong phạm vi số vốn
đã thực góp mà được giới hạn bởi phạm vi số vốn cam kết góp nên về nguyên tắc
quyền lợi của thành viên cũng phải được tính toán dựa trên số vốn cam kết góp
mới đảm bảo tính công bằng và hợp lý. Do đó, nếu thành viên chưa góp đủ vốn
theo cam kết góp mà phần góp thiếu chưa được góp thay thì thành viên được phân
chia lợi nhuận và biểu quyết theo số vốn cam kết góp.
Tình huống
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn điều lệ là 40 tỷ đồng
thành lập tháng 10/2006, trong đó có bốn thành viên mỗi người cam kết góp 10 tỷ
đồng. Các thành viên thỏa thuận thời hạn góp vốn là một năm kể từ ngày công ty
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi hết thời hạn trên, hai
thành viên góp đủ, hai thành viên còn lại mới góp được mỗi người 5 tỷ đồng. Hai
năm sau, công ty làm ăn có lãi và tiến hành chia lợi nhuận. Câu hỏi được đặt ra là
hai thành viên chưa góp đủ vốn được chia lợi nhuận và biểu quyết theo số vốn
thực góp hay số vốn cam kết góp?
Theo phân tích ở trên thì hai thành viên góp thiếu vẫn là thành viên với phần vốn
10 tỷ đồng cam kết góp. Do đó họ sẽ được chia lợi nhuận và biểu quyết theo tỷ lệ
phần vốn mà họ đã góp. Đối với số vốn mà họ chưa góp thì được coi là một khoản
nợ của họ đối với công ty.
Tuy nhiên, nếu các thành viên có thỏa thuận trong Điều lệ về việc chia lợi nhuận và
biểu quyết thì sẽ áp dụng quy định của Điều lệ. Trường hợp Điều lệ quy định rằng
các thành viên được hưởng lợi nhuận và biểu quyết theo số vốn thực góp thì sẽ
tuân theo quy định đó.
Tài liệu 2: Sử dụng phần vốn góp để trả nợ
Khoản 6 điều 45 Luật doanh nghiệp quy định thành viên công ty trách nhiệm hữu
hạn có quyền sử dụng phần vốn góp để trả nợ, người nhận thanh toán có thể trở

công nhận quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp là một loại
quyền tài sản được phép dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy
định chung của pháp luật thực định, thế chấp là giao dịch bảo đảm được áp dụng
đối với các quyền tài sản bởi hai lý do chính. Một là, quyền tài sản nói chung là các
tài sản vô hình và do đó không thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên nhận bảo
đảm nên không thể là đối tượng của cầm cố. Hai là, trong giao dịch bảo đảm có đối
tượng là quyền tài sản, bên thế chấp chỉ giao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của
bên thế chấp đối với tài sản cho bên nhận thế chấp và trong quá trình thế chấp, bên
thế chấp vẫn « nắm giữ » tài sản thế chấp[2] và được thực hiện một số quyền của
chủ sở hữu đối với quyền tài sản[3]. Tuy vậy chính việc điều 322 của Bộ luật dân
sự quy định về giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản đối với phần góp
vốn trong doanh nghiệp lại dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng chế định này bởi
tính chất khá chung chung của khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong
doanh nghiệp. Có thể hiểu quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp
gồm các quyền mà thành viên góp vốn có được sau khi thực hiện việc góp vốn vào
doanh nghiệp được quy định tại điều 41 của Luật doanh nghiệp (quyền biểu quyết
thông qua các quyết định của công ty, quyền được chia lợi nhuận, quyền được ưu
tiên góp thêm vốn,…). Tuy nhiên khi nhận thế chấp, sẽ chắc chắn hơn đối với ngân
hàng khi nhận phần vốn góp tức là nhận thế chấp tài sản góp vốn của một thành
viên góp vốn nhất định như tiền Việt Nam, quyền sử dụng đất, ngoại tệ tự do
chuyển đổi[4]…hơn là nhận các quyền của thành viên góp vốn vì pháp Luật doanh
nghiệp không quy định việc định đoạt quyền của thành viên góp vốn mà chỉ quy
định việc định đoạt phần vốn góp.

Đối tượng của giao dịch bảo đảm theo Luật doanh nghiệp
Khác với quy định của Bộ luật dân sự, điều 140 của Luật doanh nghiệp khi quy
định về quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn cho phép thành viên góp vốn
của công ty hợp danh được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách thế chấp,
cầm cố[5]. Tức là Luật doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch bảo đảm đối với
phần vốn góp. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp không nêu rõ việc thành viên góp vốn

Nhìn chung, các hệ quả pháp lý của việc thế chấp phần vốn góp tương đối phức
tạp. Tuy vậy, chừng nào chưa tiến hành xử lý tài sản bảo đảm, bên bảo đảm vẫn là
bên duy nhất được thực hiện đầy đủ các quyền của một thành viên góp vốn theo
quy định của pháp Luật doanh nghiệp. Chẳng hạn, bên bảo đảm vẫn được thực
hiện quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên với
số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp [9] hay vẫn được chia lợi nhuận
tương ứng với phần vốn góp. Về phần mình trong thời gian này, bên nhận thế chấp
có thể đứng trước một số rủi ro nhất định.
- Rủi ro liên quan đến việc sụt giảm giá trị của phần vốn góp: một rủi ro mà chúng
ta có thể nghĩ ngay đến là việc giá trị phần vốn góp được thế chấp bị giảm sút do
việc quản lý công ty không tốt hay trong tình huống xấu hơn do động cơ xấu của
bên bảo đảm vì bên bảo đảm vẫn thực hiện quyền biểu quyết nên vẫn tham gia vào
việc quản lý công ty. Giải pháp cho ngân hàng trong trường hợp này là cấp cho bên
nhận thế chấp một khoản tín dụng có giá trị thấp hơn giá trị phần vốn góp trên cơ
sở tính đến hệ số rủi ro này hoặc quy định trong hợp đồng thế chấp là bên thế chấp
phải bổ sung tài sản góp vốn trong trường hợp giảm giá trị phần vốn góp đã thế
chấp hoặc là trong trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức đến hạn thanh toán
(acceleration clause).
- Rủi ro liên quan đến việc thay đổi phần vốn góp : một rủi ro khác đối với bên
nhận thế chấp là việc phần vốn góp thế chấp biến mất do việc công ty giảm cố ý
vốn điều lệ nhằm làm vô hiệu hóa giao dịch thế chấp vì tài sản thế chấp không còn
sau đó lại thực hiện tăng vốn điều lệ. Có thể quy định trong hợp đồng là trong
trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức đến hạn thanh toán nếu bên thế chấp không
bổ sung tài sản thế chấp khác hoặc quy định phần vốn góp mới của bên thế chấp
vào công ty sẽ tự động trở thành đối tượng của hợp đồng thế chấp.

Một số gợi ý cụ thể hoàn thiện pháp luật về thế chấp phần vốn góp trong công ty
trách nhiệm hữu hạn
Nhìn chung, pháp luật thực định còn rất thiếu các quy định về thế chấp phần vốn
góp cả ở trên phương diện xác lập hợp đồng thế chấp lẫn xử lý tài sản thế chấp vì

ngày kể từ ngày chào bán[11]. Hơn nữa trong trường hợp thành viên sử dụng phần
vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán chỉ được trở thành thành viên của
công ty nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, nếu không sẽ bắt buộc phải
chào bán phần vốn góp đó[12]. Có thể thấy tinh thần của Luật doanh nghiệp là hạn
chế sự xuất hiện của thành viên mới trong công ty và tôn trọng quyết định chấp
thuận hay không chấp thuận thành viên mới của các thành viên còn lại. Để tránh
xung đột với các quy định này, nên quy định trong trường hợp xử lý tài sản thế
chấp là bên nhận thế chấp chỉ có thể trở thành thành viên của công ty thay cho bên
thế chấp nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, và nếu không được chấp
thuận thì sẽ có quyền chào bán phần vốn góp. Việc chấp thuận bên nhận thế chấp
có thể diễn ra ngay trong giai đoạn xác lập hợp đồng thế chấp thông qua việc gửi
dự thảo hợp đồng thế chấp đến công ty để các thành viên trong Hội đồng thành
viên xem xét quyết định và trong trường hợp này khi xử lý tài sản bảo đảm không
cần thiết phải xin chấp thuận bên nhận thế chấp như một thành viên thay thế bên
thế chấp trong công ty. Các ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp khi xử lý
tài sản thế chấp sẽ có xu hướng chuyển nhượng phần vốn góp hơn là trở thành
thành viên công ty. Quyền chủ động bán tài sản của ngân hàng (tìm đối tác, quyết
định giá và phương thức bán…) cần được tôn trọng. Cũng cần lưu ý thêm rằng
hiện nay theo quy định tại khoản 2, điều 70, Nghị định 163, trong trường hợp pháp
luật quy định việc chuyển quyền sở hữu tài sản phải có sự đồng ý bằng văn bản của
chủ sở hữu, thì hợp đồng thế chấp tài sản được dùng để thay thế giấy tờ đó, tức là
nếu trong trường hợp bên nhận thế chấp bán phần vốn góp cho bên thứ ba, để bên
mua có thể được đăng ký trở thành viên công ty, hợp đồng thế chấp có thể được
xem là bằng chứng về việc bên thế chấp đã đồng ý cho việc chuyển quyền sở hữu
sang bên thứ ba này.
Có thể thấy hiện nay quy định về giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp còn
chưa rõ ràng và đầy đủ. Đây là một điều đáng tiếc bởi vì thế chấp phần vốn góp
trong công ty trách nhiệm hữu hạn có chi phí thấp và hơn nữa phần vốn góp có thể
là tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của thành viên góp vốn là bên đi vay
ngân hàng nên vô tình chúng ta đang lãng phí loại hình tài sản thế chấp này.

[7] Khoản 6 điều 44, Luật doanh nghiệp.
[8] Nếu coi phần vốn góp là một loại quyền tài sản thì nó thỏa mãn đồng thời hai
điều kiện quy định tại điều 181 của Bộ luật dân sự : (i) là quyền trị giá được bằng
tiền và (ii) có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự.
[9] Công ty trách nhiệm hữu hạn nằm ở điểm giao thoa giữa công ty đối vốn (công
ty cổ phần) và công ty đối nhân (công ty hợp danh) nên vẫn mang một số nét đặc
trưng của công ty đối nhân, theo đó việc coi trọng tư cách cá nhân của chủ thể
(intuitus personae) kéo theo việc quyền biểu quyết phải được thực hiện bởi chính
các thành viên công ty chứ không phải bởi bên thứ ba.
[10] Khoản 1 điều 60, Luật doanh nghiệp : theo quyết định của Hội đồng thành
viên, công ty có thể tăng vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây:
- Tăng vốn góp của thành viên;
- Điều chỉnh tăng mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản tăng lên của công
ty;
- Tiếp nhận vốn góp của thành viên mới.
[11] Điều 44, Luật doanh nghiệp.
60._ Quyền được thông tin (Droit à être de communiqué)
- Được kiểm tra, xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục sổ đăng ký thành viên,
sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm, sổ
biên bản họp Hội đồng thành viên, các giấy tờ và tài liệu khác của công ty
12
;
- Được mời họp Hội đồng thành viên, được thông báo (Droit à être d’informé)
chương trình họp của Hội đồng thành viên cũng như nhận được các tài liệu sẽ được
sử dụng trong phiên họp nhất là khi liên quan đến quyết định về sửa đổi, bổ sung
Điều lệ công ty; phương hướng phát triển công ty; báo cáo tài chính hằng năm; tái
cơ cấu hoặc giải thể công ty. Tất cả những tài liệu này phải được gửi chậm nhất hai
ngày làm việc trước ngày họp. Thời hạn gửi các tài liệu khác do Điều lệ công ty
quy định
13

vấn đề thuộc thẩm quyền.

Trích đoạn Trường hợp thứ ba:thành viên cũ tặng cho phần vốn góp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status