MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
2
NỘI DUNG
I. Cơ sở pháp lý
2
2
1. Quyền học tập của trẻ em
2
2. Nghĩa vụ của cha mẹ trong việc đảm bảo quyền được học tập của
3
con
II. Thực trạng cha mẹ thực hiện nghĩa vụ đảm bảo quyền được học
4
tập của con trong gia đình hiện nay
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc cha mẹ thực hiện nghĩa vụ đảm
5
bảo quyền được học tập của con
1. Điều kiện kinh tế của gia đình
độc lập, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở
nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai
với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công
học tập của các em.”
Trải qua nhiều thập kỷ, câu nói trên của Bác vẫn có ý nghĩa vô cùng to lớn. Vì
thế, trong chiến lược phát triển kinh tế – xă hội của đất nước, chiến lược phát
triển con người được đặc biệt coi trọng, trong đó những ưu tiên cho trẻ em chiếm
vị trí hàng đầu. Sau khi phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Đảng và
Nhà nước ta đă ban hành nhiều văn bản nhằm thể chế hóa công tác bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật phổ cập
giáp dục tiểu học và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan tới Bảo vệ chăm sóc
và giáo dục trẻ em. Để quyền được học tập của trẻ em được đảm bảo thì nó phải
được đặt trong mối liên hệ của gia đình – nhà trường – xă hội. Mà trong đó yếu tố
quan trọng nhất, có tác động quyết định là mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái,
nên em xin chọn đề tài: “Xác định nghĩa vụ của cha mẹ trong việc đảm bảo
quyền được học tập của con.”
NỘI DUNG
I. Cơ sở pháp lý
1. Quyền học tập của trẻ em
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xă hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,
theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (25/2004/QH11-15/6/04), quy
định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”. Tuy nhiên, ở mỗi
nước, lại có những quan điểm khác nhau về độ tuổi trẻ em…nó phụ thuộc vào
quan điểm dựa trên những tính toán khoa học của các nhà làm luật về nhận thức
cũng như tầm phát triển khác nhau ở mỗi quốc gia. Như vậy, việc xác định rõ độ
tuổi giúp chúng ta phân biệt rõ để từ đó có chính sách hợp lí đối với việc phát
2
“Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc
học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức,
trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.”
– Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm
2000: Nghĩa vụ và quyền giáo dục con
1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con
học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa
thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và
các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.
2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham
gia hoạt động xã hội của con.
3. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ
quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.
II. Thực trạng cha mẹ thực hiện nghĩa vụ đảm bảo quyền được học tập của
con
Hệ thống giáo dục của Việt Nam là một hệ thống 5-4-3-4. Trẻ em bắt đầu đi
học lớp 1 lúc 6 tuổi nhưng một số học sinh lớp 1 lại lớn hơn đặc biệt là ở vùng
núi hoặc nông thôn. Tính chung cả nước có 98% dân số trong độ tuổi lao động
biết chữ và 60% trẻ em độ tuổi 11-15 học trung học cơ sở, số năm đi học bình
quân của dân cư 15 tuổi trở lên tăng lên tục từ 4,5 (vào năm 1990) lên 6,34 (vào
năm 2000) và đến năm 2005 là 7,3. Cùng với phong trào phổ cập giáo dục tiểu
học ở khu vực Đông Nam Á, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học của Việt Nam được
Quốc hội thông qua ngày 12/8/1991 đã giúp cho chênh lệch về tỷ lệ học sinh nam
- nữ trong tất cả các cấp, bậc học được thu hẹp. Tại Diễn đàn giáo dục thế giới ở
Dakar, Senegal, tháng 4/2000 Việt Nam cùng với chính phủ của 164 nước đã cam
4
Theo điều tra mức sống dân cư năm 2002 cho thấy chi phí trực tiếp cho giáo
dục ở Việt Nam khá cao so với thu nhập các hộ nghèo. Đây là một trong những
nguyên nhân chính khiến trẻ em nghèo ít đi học. Hiện nay phần tài chính do dân
đóng góp cho lĩnh vực đào tạo nước ta ở cấp tiểu học đã lên tới 44,5%, trung học
cơ sở là 48,7%, trung học phổ thông là 51,5%. Theo Tổng cục thống kê, bình
quân chi tiêu cho một học sinh ở thành thị là 1,298 triệu đồng/năm (tương đương
90 USD), ở nông thôn là 370.000 đồng (tương đương 23 USD). Với những điều
kiện như vậy, đôi khi các em thấy xấu hổ và muốn bỏ học giữa chừng. Chính
điều này khiến cho học sinh nữ thường bỏ học sớm hơn học sinh nam. Theo điều
tra của SAVY lý do chính khiến thanh thiếu niên không đi học là do gia đình
“không đủ tiền nộp học phí” (44,1%). Nghiên cứu của Belanger và Liu chỉ ra
rằng so với các gia đình nghèo, tỉ lệ đi học trong độ tuổi 11-18 của trẻ em gái
trong các gia đình giàu có đi học cao hơn gấp 28 lần, trong khi đó tỉ lệ này ở
nhóm trẻ em trai chỉ cao hơn 14 lần.
Ở những gia đình có nhiều con trong độ tuổi đến trường thì có một số em phải
hy sinh quyền lợi đến trường của mình cho những đứa trẻ khác trong gia đình.
Trong tình huống này các em gái là người trước tiên phải bỏ học để giảm gánh
nặng chi phí của gia đình. Thêm vào đó bố, mẹ của các em cho rằng con gái
chẳng bao giờ kiếm được nhiều tiền như con trai, người ta cần sức lao động của
con gái chỉ để đỡ đần gia đình, giúp việc nhà, và cả việc đồng áng (trẻ em nông
thôn)... Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt thân mật với Cộng đồng tài trợ
Quốc tế ở Hà Nội ngày 18/11/2003, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã
phát biểu: “đa phần trẻ em bỏ học sớm là em gái vì phải lao động giúp gia đình.
Ở một số vùng cao tỷ lệ em gái đến trường chỉ khoảng 15%”.
Mặc dù, việc sử dụng sức lao động trẻ em bị cấm đoán chính thức nhưng trẻ
em dưới 12 tuổi chiếm 6% của lực lượng lao động Việt Nam. Lao động trẻ em
đặc biệt phổ biến ở vùng nông thôn, nơi mà gần 1/3 trẻ em trong độ tuổi 6-14
phải làm việc và tỷ lệ nhập học của nhóm tuổi này chỉ là 78% thấp hơn mức trung
6
7
nhiều hơn tới từng đứa con của mình. Do vậy họ cũng không bị rơi vào trường
hợp phải lựa chọn cho đứa con nào đi học như những gia đình nghèo. Ở Việt
Nam, con cuả các bà mẹ có học vấn cao hơn thì có nhiều cơ hội đến trường và có
xu hướng học nhiều hơn.
3. Điều kiện điạ lý
Trường học thường tập trung ở các thành phố, giao thông thuận tiện và các
dịch vụ phục vụ cho học tập thuận lợi hơn. Chính điều này lại là một trong những
yếu tố ảnh hưởng tới việc đi học của trẻ em nhất là đối với con em gia đình
nghèo. Ví dụ, ở khu vực nông thôn của Guinea trung bình học sinh phải mất tới
47 phút để đến được trường tiểu học gần nhất trong khi ở thành thị học sinh chỉ
mất có 19 phút để đến trường13. Do vậy việc mất thời gian đi từ nhà đến trường
học làm cho chính bản thân các em thấy nản còn cha mẹ của các em thì không
yên tâm khi để con mình đi học với quãng đường xa như vậy.
Với các gia đình khá giả thì có thể cho các em đi học ở các trường nội trú
nhưng với những gia đình khó khăn thì không thể trang trải nổi chi phí cho việc
học nội trú nên các em muốn đi học thì vẫn phải băng rừng, lội suối mà đi học.
Với những vùng miền núi các em phải vượt qua quãng đường dài để tới lớp nhất
là những em học cấp 2 trở lên và con đường đến trường càng trở nên khó khăn
hơn vào mùa mưa. Trong Nhật ký của Mai được đăng trên trang Web của United
Nations Việt Nam ngày 12/3/2007, khi viết về Điện Biên có đoạn “Đường Điện
Biên Đông ngoằn nghèo, lên đèo, xuống dốc. Trời mưa thường làm khoảng cách
giữa các bản và trường học xa hơn. Trẻ em dân tộc Mông phải bơi qua sông Mã,
từ địa phận Mường Nhà sang Lúa Ngạm để tới trường… Thế mới biết khoảng
cách đến trường không thể tính bằng cây số được”. Điều này cho thấy khoảng
cách từ nhà đến trường là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định các em có
được đi học hay không nhất là đối với các em gái.
Có thể nói cho đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong.
của cha mẹ trong việc thực hiện quyền được học tập của con cái.
9
KẾT LUẬN
Quyền được học tập của trẻ em là một trong những quyền cơ bản nhất của trẻ,
giúp trẻ có được trí tuệ để cống hiến cho Tổ quốc sau này. Trong chiến lược phát
triển kinh tế của đất nước cũng nhưu bảo vệ Tổ quốc thì trẻ em luôn đóng một vai
trò quan trọng. Nhận thức được rõ tầm quan trọng việc học tập trẻ, những bậc
làm cha, làm mẹ cần tự giác, tự nguyện trong việc đảm bảo quyền được học tập
của con chứ không làm việc này chỉ vì nghĩa vụ.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Huế, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003.
3. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000.
4. http://khotailieu.com/
5. http://www.gopfp.gov.vn/
11