BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Đề bài: Căn cứ xác định nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng và việc thực
hiện nghĩa vụ riêng trong đời sống gia đình
Đặt vấn đề
Đời sống kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi các quy định của pháp luật cũng
cần thay đổi cho phù hợp với yều cầu của thực tế. Nhận thức được vấn đề này
các nhà làm luật đã biết khéo léo dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội hiện tại cùng
với tập quán truyền thống của gia đình Việt Nam, kế thừa và phát triển hệ thống
pháp luật hôn nhân và gia đình ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
đặc biệt là năm 2000 đã có những quy định rất mới về vấn đề tài sản riêng trong
đó có nói đến nghĩa vụ của vợ chồng đối với các tài sản này. Đây là một thành
công lớn bởi nó phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tạo sự linh hoạt khi thực
hiện quyền sở hữu chung và tính độc lập khi định đoạt tài sản riêng của vợ
chồng, vì lợi ích chung của gia đình; vùa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những
người khác có liên quan đến tài sản của vợ chồng. Ngoài ra những quy định này
còn tạo cơ sở pháp lý trong thực tế áp dụng khi Tòa án giải quyết các tranh chấp
về tài sản giữa vợ và chồng với nhau và với người khác.
Nhằm có một cách hiểu sâu rộng hơn những quy định về nghĩa vụ riêng về tài
sản của mỗi người và tầm quan trọng của vấn đề này đối với đời sống xã hội. Em
xin chọn đề tài: “Căn cứ xác định nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng
và việc thực hiện nghĩa vụ riêng trong đời sống gia đình”.
Nội dung
1. Căn cứ xác định nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng
Cuộc sống vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được xác lập đồi hỏi phải có một
khối tài sản trong đó tài sản riêng nhằm đảm bảo nhu cầu của gia đình và mỗi cá
nhân. Kế thừa và phát huy quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 về
1
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
những quy định có liên quan đến tài sản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã
dự liệu về căn cứ để thực hiện nghĩa vụ đối với các loại tài sản. Các quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề tài sản cụ thể, dễ vận dụng hơn
phải tự gánh chịu.
Cũng theo quy định tại Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình lật ngược lại vấn
đề ta sẽ thấy căn cứ thứ ba để xác định nghĩa vụ chung, hay nghĩa vụ riêng của
vợ chồng đó chính là việc vợ chồng dùng loại tài sản nào để thực hiện giao dịch.
Nếu dùng tài sản chung của vợ chồng đã được sự thỏa thuận của hai bên thì tất
nhiên đó là nghĩa vụ chung, còn nếu lấy tài sản riêng để thực hiện thì có thể xảy
ra hai trường hợp. Thứ nhất là tài sản riêng dùng vào mục đích riêng thì sẽ là
nghĩa vụ riêng, nhưng trường hợp thứ hai là tài sản riêng lại dùng để trang trải
cho cuộc sống gia đình thì nó lại là nghĩa vụ chung.
Tóm lại, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những căn cứ nhất định
trong việc xác định nghĩa vụ riêng đối với vợ, chồng. Những căn cứ này có ý
nghĩa quan trọng, là cơ sở pháp lí bảo đảm quyền và lợi ích của mỗi bên vợ,
chồng; giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản
trên thực tế.
2. Nội dung nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng
Vợ, chồng với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình, có quyền chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng đó một cách độc lập, không bị chi phối
bởi ý chí của người chồng, vợ kia (trừ trường hợp được quy định tại khoản 5
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000). Đồng thời, theo quy định, vợ,
chồng cũng phải thực hiện nghĩa vụ đối với hành vi của vợ, chồng liên quan đến
tài sản của mỗi bên.
3
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000, "tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu
của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng". Nói cách
khác, trường hợp cuộc sống chung của gia đình gặp nhiều khó khăn, tài sản
chung của vợ chồng không đủ bảo đảm cho những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu
hàng ngày của gia đình mà người vợ, chồng có tài sản riêng thì vợ, chồng có
nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu
2.1.2. Nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác
trong thời kỳ hôn nhân sử dụng vào mục đích riêng, không đáp ứng các nhu cầu
thiết yếu và lợi ích chung của gia đình.
Các khoản nợ trên đây vợ, chồng vay từ trước hoặc trong thời kì hôn nhân đã
chỉ bảo đảm cho quyền lợi riêng của vợ, chồng. Vì vậy, vợ, chồng phải thực hiện
nghĩa vụ trả nợ đó bằng tài sản riêng của mình, không thể buộc người chồng, vợ
kia phải liên đới thực hiện các nghĩa vụ này. Trước đây, Nghị quyết số 01/NQ-
HĐTP ngày 20/01/1988 cũng đã hướng dẫn: đối với các khoản nợ mà vợ, chồng
vay riêng tù trước khi kết hôn hoặc trong thời kì hôn nhân sử dụng vào mục đích
riêng thì có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tài sản riêng. Nếu tài sản riêng không
đủ trả nợ thì phải trích phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung của vợ
chồng (Theo Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986) để trả nợ.
2.1.3. Nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh trong quá trình quản lý, sử
dụng, định đoạt tài sản riêng. Trừ trường hợp, nợ phát sinh khi vợ, chồng đã tiến
hành khai thác các hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân mà vợ
chồng không có thỏa thuận những hoa lợi, lợi tức đó vẫn thuộc tài sản riêng của
vợ, chồng.
5
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Quá trình quản lí, sử dụng, bảo quản tài sản riêng của vợ, chồng trong thời
kì hôn nhân bằng các khoản chi phí mà vợ, chồng vay của người khác, theo
nguyên tắc, vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản riêng của
mình.
2.1.4. Nghĩa vụ phải trả các khoản nợ phát sinh dựa trên cơ sở vợ chồng
đã có hành vi tự mình tiến hành các giao dich dân sự liên quan đến tài sản chung
có giá trị lớn của vợ chồng là nguồn sống duy nhất của gia đình.
Khoản 3 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình: “Việc xác lập, thực hiện và
chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là
nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh
phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu
Người giám hộ có nghĩa vụ quản lý tài sản cảu người được giám hộ như tài
sản của chính mình. Người giám hộ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những
mất mát, hư tổn tài sản cảu người được giám hộ. Người giám hộ có nghĩa vụ bảo
vệ quyền và lợi ích của người giám hộ: cất giữ tài sản, trông nom, quản lý tài
sản.
Trường hợp vợ, chồng giám hộ cho người dưới 15 tuổi còn phải chăm sóc,
giáo dục người được giám hộ; vợ, chồng giám hộ cho người bị bệnh tâm thần
hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình còn
có nghĩa vụ chăm sóc, bảo đảm điều trị bệnh cho người được giám hộ. Người
giám hộ phải vì quyền lợi mọi mặt của người được giám hộ mà làm tất cả những
7
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
gì có thể kịp thời đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho người được giám hộ: ăn,
mặc, ở, đi lại, học tập, chữa bệnh… Về nguyên tắc, người giám hộ không phải bỏ
tài sản của mình để chăm sóc, giáo dục , đảm bảo việc điều trị bệnh cho người
được giám hộ. Chi phí cho những hoạt động này sẽ được lấy từ tài sản riêng của
người được giám hộ (nếu người được giám hộ có)
Trường hợp người được giám hộ gây thiệt hại cho người khác thì người giám
hộ có nghĩa bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Trong trường hợp người
được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người
giám hộ có nghĩa vụ lấy tài sản của mình để bồi thường cho đủ.
2.3.2. Nghĩa vụ cấp dưỡng mà vợ, chồng phải thực hiên liên đới đối với
các thành viên trong gia đình.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, theo luật định, được
thực hiện nhằm bảo đảm quyền được cấp dưỡng của các thành viên trong gia
đình. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác
để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan
hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người
chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy
nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc
bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.”
Nuôi dưỡng, giáo dục con là ngĩa vụ của cha và me. Vì vậy, dù rằng người
trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con không túng thiếu thì người không trực tiếp
nuôi dưỡng, giáo dục con vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tiền cấp dưỡng
nuôi con bao gồm những chi phí về nuôi dưỡng và học hành của con, Tòa án căn
cứ vào khả năng kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và khả năng
9
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
kinh tế của người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con mà quyết định mức cấp
dưỡng nuôi con với từng đứa con cho hợp lý (Điểm b Điều 11Nghị quyết số
02/2000/NĐ-HĐTP). Không nhất thiết chia đôi mức phỉ tổn nuôi dưỡng, giáo
dục con cho mỗi bên chịu một nửa để ấn định mức cấp dưỡng nuôi con. Nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con phải thực hiện cho đến khi con đủ 18 tuổi. Trường hợp
con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả
năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình thì việc cấp dưỡng nuôi con vẫn
tiếp tục cho đến khi người con có thể lao động để tự nuôi mình.
b) Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ
Khoản 2 Điều 36 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “2. Con có nghĩa vụ và
quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu tàn
tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm
sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”. Khi cha mẹ không có khả năng lao động, không có tài
sản để nuôi mình mà con không sống chung với cha mẹ thì con phải có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho cha mẹ.
c) Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em
Anh, chị, em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau trong những trường hợp nhất
định. Điểu 58: “1. Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có
khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã
thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành
niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng
hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 trước đây. Những quy định này
11
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
là cơ sở pháp lý cho việc xác định nghĩa vụ của vợ, chồng được thực hiện bằng
tài sản riêng hoặc theo thỏa thuận trong thực tiễn.
3. Thực hiện nghĩa vụ riêng trong đời sống gia đình
Thực tế cuộc sống đã chỉ ra có rất nhiều vụ tranh chấp có liên quan đến nghĩa
vụ tài sản riêng mà nếu như không có luật chúng ta sẽ không thể xử lí được.
Chẳng hạn:
Ví dụ : Chị A và anh B là hai vợ chồng. Sau khi kết hôn, chị A được cho một
căn nhà, và được đứng tên giấy chứng nhận sở hữu. Nay hai vợ chồng bất hòa,
dẫn tới ly hôn. Tài sản chung đã thỏa thuận xong, còn căn nhà được cho đó anh
B đòi chia với lý do - Tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân, làm thế nào để
chứng minh đó là tài sản riêng.
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng
gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh
doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài
sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Trong trường hợp không có
chứng cứ chứng minh tài sản có tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản
chung vấn đề này được quy định tại Điều 32 và 33 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000
Trong cuộc sống vợ chồng, có rất nhiều loại tài sản được hình thành trước và
trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên không phải tài sản nào cũng là tài sản chung
nếu hai bên không có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định khác…
Có thể thấy, trước khi kết hôn, chồng hoặc vợ có tài sản do cha mẹ để lại,
được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc do việc buôn bán riêng và được hình
thành trước khi kết hôn. Và sau khi kết hôn khối tài sản này không được vợ hoặc
chồng đồng ý nhập vào khối tài sản chung thì vẫn là tài sản riêng.
Ngoài ra, xuất phát từ nhu cầu kinh doanh riêng của từng người. Chế định
13
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
quyền sở hữu của vợ, chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp và
nguyên tắc chia tài sản chung giữa vợ chồng.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, việc quy định chế độ cộng đồng tạo sản giữa vợ chông đã tạo được sự linh
hoạt trong việc tạo dựng tài sản và thực hiện quyền sở hữu đối với các loại tài
sản trong gia đình; khuyến khích vợ, chồng sử dụng các loại tài sản đó vì lợi ích
chung của gia đình. Chế độ tài sản được quy định theo Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 vừa phù hợp với xu thế chung, vừa đảm bảo tính truyền thống
của gia đình Việt Nam.
Kết luận
Việc quy định nghĩa vụ riêng đối với tài sản giữa vợ, chồng có vai trò rất quan
trọng, nó có ý nghĩa pháp lí trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến
tài sản. Cuộc sống luôn biến đổi không ngừng các nhà làm luật cũng cần phải
xây dựng, thay đổi những quy định cho phù hợp với yêu cầu của thực tế nhằm
giúp giải quyết những vấn đề về tài sản chung, tài sản riêng của vợ và chồng
nhưng để có được điều đó cần phải dựa trên những căn cứ nhất định. Đó là
những thứ không thể thiếu bởi nếu thiếu luật không còn là luật với nghĩa tốt đẹp
nhất
14
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình việt nam, NXB Công An Nhân Dân,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam, Tập 1, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh,2002
3. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Nxb Chính tri quốc gia,
Hà Nội.
4. Luật Hôn nhân và gia đình và những văn bản có liên quan, Nhà xuất bản