LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới toàn diện và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
ta theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang đặt ra yêu cầu ngày càng
cao đối với vấn đề nhận thức xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội và đặc biệt
là đối với nhân tố con người.
Cùng với sự phát triển của xã hội, đất nước ta đã đặt con người vào vị
trí trung tâm và là yếu tố hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế, tri
thức. Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục tri thức và hướng nghiệp cho
con cái là yếu tố rất cần thiết đối với lớp trẻ khi bước vào xã hội. Đó cũng là
nội dung được trình bày trong luận văn "Vai trò của cha mẹ trong việc định
hướng bậc học và nghề nghiệp cho con ở các gia đình đô thị hiện nay" qua
khảo sát tại phường Tràng Tiền - thành phố Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo trong khoa Xã hội học,
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt, thày giáo Phạm Văn
Quyết đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này.
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng song đề tài khó tránh khỏi những
hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong được sự chỉ bảo của các thày cô cùng với
những ý kiến đóng góp của các bạn.
Hà Nội, ngày 20 -5 - 2001
Sinh viên : Nguyễn Thị Phương Dung
1
MỤC LỤC
Phần I: Mở đầu .........................................................................................4
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................4
2. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài...............................................6
2.1. Ý nghÜa khoa häc.......................................................................6
2.2. ý nghÜa thùc tiÔn........................................................................6
3. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................7
2
2.2.2. Khuyến nghị..............................................................46
Tài liệu tham khảo...................................................................................48
Phụ lục ....................................................................................................49
3
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Mỗi người chúng ta đều trải qua lứa tuổi ngồi trên ghế nhà trường. Tùy
điều kiện, hoàn cảnh của từng người mà trong giai đoạn này kết quả học tập
của mỗi người khác nhau. Khi giai đoạn đi học kết thúc, mọi người đều phải
tính đến chuyện làm việc để sống tự lập. Những vấn đề: Chọn nghề gì? Liệu
có đủ điều kiện để theo đuổi nghề đó không? Nghề đó có phù hợp với ta
không?... đều là những vấn đề không dễ trả lời.
Bước vào thế kỷ 21, nghề nghiệp trong xã hội có những chuyển biến
nhiều so với giai đoạn trước đây. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
đang tạo điều kiện để nhân loại tiến từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh
tế tri thức. Đó là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và
sử dụng tri thức, thông tin, trong đó máy tính và các công nghệ truyền thông
viễn thông là những yếu tố chiến lược. Nghị quyết IV Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII đã xác định nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là phát huy
nội lực, cần kiệm để xây dựng đất nước... Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện
nay, để đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần một lực lượng lao động có đủ
trình độ năng lực và làm chủ được công nghệ kỹ thuật của đất nước, đủ điều
kiện đảm bảo hoàn thành tốt công việc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nếu chúng ta không chiếm hữu được tri thức, không sáng tạo và sử dụng
được thông tin trong các ngành sản xuất thì không thể thành công trong sự
cạnh tranh quyết liệt của thị trường. Chính vì vậy việc nâng cao trình độ học
vấn, trình độ văn hóa cho nhân dân, đặc biệt là việc định hướng bậc học và
những công việc phù hợp với khả năng của họ. Muốn được như vậy thì người
làm cha, làm mẹ phải có nhận thức đúng đắn đồng thời phải tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho việc học tập của con để con mình bước vào xã hội một cách
vững vàng.
5
Chính vì vậy, qua khảo sát tại phường Tràng Tiền - thành phố Hà Nội,
tôi chọn đề tài "Vai trò của cha mẹ trong việc hướng nghiệp cho con ở các gia
đình đô thị hiện nay" để nghiên cứu trong luận văn của mình.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài :
2.1. Ý nghĩa khoa học :
Giáo dục nói chung và giáo dục gia đình nói riêng được nhiều ngành
nghề khoa học quan tâm nghiên cứu như: Tâm lý học, Giáo dục học, Đạo đức
học. Bên cạnh những ngành khoa học đó thì Xã hội học cũng khẳng định
được vị trí, vai trò của mình với tư cách là một ngành khoa học độc lập trong
hệ thống khoa học xã hội. Theo cách tiếp cận Xã hội học, đề tài nghiên cứu,
xem xét, nhìn nhận vấn đề một cách khoa học để có thể lý giải và chứng minh
một số quan điểm và khía cạnh dưới góc độ xã hội học, phân biệt với cách
nhìn của một số ngành khoa học xã hội khác.
Bằng phương pháp nghiên cứu xã hội học, đề tài nghiên cứu đã góp
phần làm phong phú thêm kho tàng nhận thức lý luận xã hội học, nâng cao
nhận thức về vai trò chức năng của lý thuyết xã hội học cho bản thân và
những người quan tâm. Đồng thời đề tài còn vận dụng một số lý thuyết phạm
trù cơ bản của xã hội học vào nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh về
chức năng giáo dục của gia đình. Cụ thể là vận dụng các lý thuyết xã hội học
thực nghiệm để nghiên cứu các đặc trưng của cha mẹ tác động đến việc
hướng nghiệp cho con cái trong điều kiện hiện nay.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn :
Vai trò của cha mẹ trong việc hướng nghiệp cho con cái là một vấn đề
nghiên cứu có ý nghĩa xã hội rất lớn. Nó nhằm nâng cao nhận thức của mọi
7
4.3. Mẫu khảo sát :
Mẫu khảo sát tập trung tiến hành tại phường Tràng Tiền ở thành phố
Hà Nội. Mẫu được chọn ngẫu nhiên với cơ cấu mẫu như sau:
• Cơ cấu giới tính:
Nam: 53,6%
Nữ: 46,4%
• Cơ cấu tuổi:
Các bậc cha mẹ được phỏng vấn có độ tuổi từ 39 đến 68 tuổi.
• Cơ cấu trình độ học vấn:
Phổ thông cơ sở: 20,9%
Phổ thông trung học: 16,4%
Trung học chuyên nghiệp: 10,4%
Cao đẳng - Đại học và trên Đại học: 52,3%
• Cơ cấu nghề nghiệp:
Công nhân: 12,4%
Giáo viên: 13,4%
Buôn bán dịch vụ: 16,4%
Kỹ sư: 20,9%
Bác sĩ: 8,5%
Bộ đội, công an: 6,0%
Không nghề: 7,5%
Khác: 14,9%
• Cơ cấu mức sống:
Số gia đình có mức sống khá giả: 22,4%
Số gia đình có mức sống trung bình: 67,2%
Số gia đình có mức sống khó khăn: 10,4%
8
các vai trò trong quá trình xã hội hóa. [3]
Trong phạm vi gia đình, gia đình là một trong những thiết chế cơ bản
của xã hội. Ngoài việc đảm nhận chức năng tái sản xuất con người, gia đình
còn tái sản xuất cả đời sống tình cảm, văn hóa, tức là xã hội hóa - quá trình
biến đứa trẻ từ một sinh vật người thành con người xã hội. Đặc điểm của quá
trình xã hội hóa là các cá nhân không phải lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội
ngay một lúc mà dần dần. Gia đình là môi trường vi mô có vai trò quan trọng
nhất trong giai đoạn xã hội hóa ban đầu. Nhưng chức năng xã hội hóa của gia
đình không chỉ dừng lại ở giai đoạn xã hội hóa ban đầu mà nó diễn ra trong
suốt cả cuộc đời con người với tư cách là một quá trình liên tục: từ giai đoạn
tuổi ấu thơ đến lứa tuổi thiếu niên, trưởng thành và đến giai đoạn tuổi già,
giai đoạn cuối cùng của chu trình sống. Gia đình có vai trò quan trọng trong
việc tổ chức và hướng dẫn các hoạt động của lớp trẻ. Ở lứa tuổi ấu thơ, gia
đình giúp trẻ đào luyện các thói quen. Ở lứa tuổi thiếu niên khi các em bước
đầu hình thành những giá trị, những chuẩn mực, thiết lập quan hệ với những
người xung quanh, gia đình giúp cho các em những kinh nghiệm xã hội trong
quan hệ ứng xử. Ở lứa tuổi trưởng thành, khi cá nhân phát triển bản sắc cái
tôi, hình thành những kinh nghiệm xã hội ổn định, chuẩn bị bước vào những
tổ chức xã hội hay cộng đồng mới. Ở giai đoạn này, nhân cách về cơ bản đã
được định hình. Lúc này gia đình giúp các cá nhân định hướng các vấn đề
như: lựa chọn nghề nghiệp (định hướng nghề nghiệp), lựa chọn lối sống (định
hướng giá trị)...
Quá trình xã hội hóa dễ dàng nhận thấy ở những xã hội đang diễn ra sự
biến đổi mạnh mẽ. Xã hội hóa là một chức năng xã hội quan trọng của gia
đình. Nó có vai trò lớn trong việc hình thành nhân cách của thế hệ tương lại.
Xã hội hóa gia đình góp phần tạo ra sự bình ổn của sự phát triển xã hội. [12]
10
5.2. Phương pháp cụ thể:
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Các đặc trưng của cha mẹ như trình độ học vấn, nghề nghiệp cũng
như điều kiện kinh tế của gia đình có ảnh hưởng nhất định trong việc định
hướng bậc học và nghề nghiệp cho con cái.
- Trong định hướng bậc học và nghề nghiệp không có sự khác biệt giữa
con trai và con gái.
6.2. Khung lý thuyết :
"Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học và nghề nghiệp cho
con ở các gia đình đô thị hiện nay"
Khung lý thuyết trên được tạo dựng trên cơ sở mô hình lý thuyết mà cụ
thể là lý thuyết vai trò nhằm lý giải vấn đề nghiên cứu và mối liên hệ giữa các
biến số (mối liên hệ giữa nguyên nhân - kết quả) và nó tuân theo quy tắc logic
nhất định. Vấn đề nghiên cứu ở đây là vai trò của các bậc cha mẹ trong việc
định hướng bậc học và nghề nghiệp cho con. Xét trong điều kiện nhất định là
bối cảnh kinh tế - xã hội của đô thị (thành phố Hà Nội) đang trong quá trình
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, các đặc trưng của gia đình và của cha mẹ
12
Điều kiện
kinh tế - xã hội
Các đặc trưng của gia
đình và của cha mẹ
Định hướng bậc học và
nghề nghiệp cho con
được coi là biến số độc lập hay được coi là nguyên nhân để dẫn tới kết quả là
việc định hướng bậc học và nghề nghiệp cho con - biến số phụ thuộc. Khung
lý thuyết trên được hình thành trên cơ sở kết hợp các biến số theo nguyên tắc
lý thuyết nhất định nhằm đo lường được mối liên kết giữa các biến số, hay nói
cách khác thông qua việc liên kết các biến số chúng ta xác định được sự thay
đổi của biến số độc lập sẽ có liên quan ở mức độ nào đến sự thay đổi của biến
số phụ thuộc. Kết quả của việc định hướng bậc học và nghề nghiệp cho con
cải cách hệ thống giáo dục nhằm vào tương lai với trọng tâm là giáo dục cho
mọi người, sau đó là giáo dục nghề, giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học
giáo dục. Ông đặc biệt nhấn mạnh vào vai trò giáo dục thường xuyên, phải
biết tập trung vào giáo dục cho mọi người, tạo mặt bằng dân trí để tăng cường
hiệu quả giáo dục ở thế kỷ 21, nâng cao hiệu quả học tập cho lớp trẻ, thức
tỉnh tiềm năng sáng tạo to lớn của mỗi người, cho phép chúng ta phát triển
tiềm năng sẵn có của bản thân, đóng góp tốt hơn cho xã hội mà chúng ta đang
sống.
Hiện nay vấn đề định hướng bậc học và nghề nghiệp không chỉ là vấn
đề riêng của mỗi gia đình mà nó thực sự là vấn đề của cả cộng đồng và mỗi
14
quốc gia. Vì vậy cha mẹ cần phải có những cách nhìn đúng đắn và thấu hiểu
về vấn đề này để giúp thế hệ trẻ có thể hòa nhập chung được với thế giới.
Ở nước ta vấn đề gia đình và giáo dục gia đình ngày càng thu hút được
sự quan tâm chú ý của nhiều ngành nhiều cấp như Viện xã hội học, Trung
tâm nghiên cứu khoa học xã hội... Vì vậy mà đã có nhiều công trình nghiên
cứu khoa học khác nhau về lĩnh vực này:
* Đề tài KX07-09 mang tên "Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình"
1994 của Trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ - Nhà xuất bản Khoa
học xã hội có những nội dung chủ yếu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về xã hội hóa con người, về chức
năng xã hội hóa của gia đình trong lịch sử và hiện đại.
- Phân tích vai trò của giáo dục gia đình trong sự hình thành và phát
triển nhân cách con người Việt Nam.
- Trách nhiệm và những điều kiện, biện pháp chính sách cần thiết nhằm
giúp gia đình làm tròn chức năng của nó.
* Tác phẩm: "Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa" của tác giả
Lê Ngọc Văn đề cập đến vai trò của gia đình trong việc thực hiện chức năng
xã hội hóa giáo dục cho các thành viên.
huyết thống hay là việc nhận con nuôi vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu
riêng tư của họ vừa nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội về về tái sản xuất dân
cư theo cả nghĩa thể xác và tinh thần". [8]
"Gia đình là tế bào của xã hội" [13]. Cách nói này nêu lên được tầm
quan trọng của gia đình đối với xã hội.
Trong gia đình vai trò của cha mẹ đều chiếm một vị trí rất quan trọng.
Cả cha và mẹ đều có vai trò, trách nhiệm trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con. Thiếu một trong hai người thì đều có ảnh hưởng không tốt đến
sự phát triển của trẻ em.
16
1.2.3. Khái niệm định hướng :
Định hướng là việc hoạch định trước một phương pháp, mục tiêu để
thực hiện nếu không có gì thay đổi. Sự định hướng này đã có sự cân nhắc kỹ
lưỡng trước khi ra quyết định. Mục đích cuối cùng của sự định hướng có đạt
được hay không còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan. [14]
1.2.4. Khái niệm giá trị :
Một trong những định nghĩa được chấp nhận rộng rãi trong khoa học xã
hội là coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng tới
hành vi lựa chọn. Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất kỳ cái gì tốt, xấu đều
là giá trị hay giá trị là điều quan tâm của chủ thể.
Vậy giá trị là cái mà ta cho là đáng có, mà ta ưa thích, ta cho là quan
trọng để hướng dẫn cho hành động của ta. Giá trị là cái có thực và tồn tại
trong hiện thực. Giá trị phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện kinh tế - xã hội của
từng xã hội, vì vậy phải xem xét giá trị trong những điều kiện kinh tế - xã hội
cụ thể. Mỗi xã hội, mỗi nền văn hóa có hệ giá trị khác nhau. Hệ giá trị của
một xã hội là phương hướng phấn đấu cho toàn xã hội. Mỗi cá nhân tùy thuộc
vào nhận thức, v.v... đều có hệ giá trị riêng của mình.
Theo nhà xã hội học Mỹ J.H. Fitcher: "Tất cả cái gì có ích lợi, đáng
ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có một giá trị".
2
. Trên địa bàn phường có gần 200 cơ quan
đơn vị của Trung ương, Thành phố và nhiều nhà hàng, khách sạn, đại sứ quán
và văn phòng đại diện của các nước. Có hầu hết các loại hình kinh doanh,
dịch vụ do đó lưu lượng khách qua lại địa bàn đông.
Cơ cấu diện tích đất đai ít biến động qua các năm
Diện tích đất cơ quan chiếm 50,53%
Diện tích đất giao thông chiếm 34,59%
Diện tích đất ở chiếm 14,19%
Diện tích đất của các di tích văn hóa lịch sử chiếm 0,46%
Diện tích đất phục vụ an ninh quốc phòng chiếm 0,23%
Về dân số: Địa bàn dân cư chia làm 7 khu phố với 60 tổ dân phố. Số
nhân khẩu thực tế của phường là 6517 nhân khẩu (theo số liệu điều tra dân số
ngày 1/4/1999) với 1727 hộ. Qua 10 năm (so với số liệu điều tra năm 1989)
dân số hầu như không đổi (chỉ tăng 137 người)
• Về cơ cấu lao động:
Số người trong độ tuổi lao động là 3933 người chiếm 60,34%. Chủ yếu
là cán bộ công nhân viên Nhà nước ngoài ra là lao động thương mại dịch vụ
chiếm tỷ lệ khoảng 30%.
• Về cơ cấu hành chính:
Phường có hội đồng nhân dân phường, có ủy ban nhân dân phường.
Bên cạnh đó còn có Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể thành viên
19
như: Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Người
cao tuổi, Hội chữ thập đỏ, Ban Thanh tra nhân dân, Chi hội luật gia.
• Về văn hóa:
Phường đã thực hiện thành công cuộc vận động "xây dựng nếp sống
văn minh, gia đình văn hóa". Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 96% năm 2000. Các
tổ dân phố đã triển khai và thực hiện qui ước về việc cưới, tang, mừng thọ, lễ
cha, một người mẹ, những người nuôi dưỡng chăm sóc ta bữa ăn giấc ngủ.
Khi ta lớn lên đến tuổi cắp sách tới trường thì vấn đề học tập của con cái là
một trong những mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ. Bất cứ bậc làm
cha, làm mẹ nào cũng muốn tương lai con em mình tốt đẹp... Ngoài việc rèn
luyện, tu dưỡng về đạo đức, nhân cách thì học tập là yếu tố không thể thiếu
được trong quá trình hoàn thiện của mỗi cá nhân. Chỉ có học tập tốt mới có
được một vị trí, một chỗ đứng trong xã hội vững vàng. Từ đó mới có thể
thăng tiến được trong xã hội và có những công việc phù hợp với khả năng của
mình, phát huy được năng lực và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Và để học tập tốt thì sự quan tâm giúp đỡ của cha mẹ là một
điều hết sức quan trọng.
Thời đại ngày nay là thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy
xã hội đang đòi hỏi có những nhà khoa học, nhà kỹ thuật, những chuyên gia
có tài năng, những chính trị gia linh hoạt, những nhà kinh doanh, nhà quản lý
giỏi và đội ngũ lao động có tay nghề cao. Một xã hội văn minh, hiện đại thì
tương ứng với nó con người phải có trình độ học vấn tiếp thu từ gia đình, nhà
trường và xã hội. Để thực hiện được mục tiêu cụ thể của xã hội xã hội chủ
nghĩa là: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" thì chúng ta
cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của tri thức khoa học. Khi khoa học đã
trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu thì trí tuệ là nguồn sức mạnh chiếm lĩnh
vực những vị trí quyết định trong quá trình sản xuất, quá trình kinh doanh và
quản lý xã hội. Phải có trình độ tri thức thì mới có thể áp dụng được khoa học
21
và công nghệ hiện đại vào trong sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
của xã hội. Chính vì vậy mà học vấn có vai trò quan trọng và đó là con đường
ngắn nhất để dẫn đến sự thành công.
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế xã hội ở trên mà việc định hướng
bậc học cho con của các bậc cho mẹ cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào
nhận thức, quan điểm của từng người cũng như điều kiện sống của mỗi gia
của mình, mong muốn con học giỏi, thi đỗ vào các trường chất lượng cao, có
uy tín... nên đã cố gắng đầu tư về vật chất một cách tốt nhất để con có điều
kiện học hành, có được tri thức hiểu biết. Khi được hỏi: Ông (bà) đã đầu tư
những phương tiện học tập nào cho con? Ông N. phường Tràng Tiền đã trả
lời: "...Gia đình tôi đã tạo điều kiện tốt nhất ở mức có thể cho việc học tập
của nó. Chúng tôi đầu tư cho việc học tập của con ngay từ những ngày đầu
mới vào cấp III, tìm lớp tìm thày giỏi để gửi con vào học, thậm chí mời thày
về nhà dạy riêng. Gia đình có máy vi tính và thường xuyên mua sách nâng
cao, sách tham khảo chỉ mong cho con có kết quả học tập tốt..." [Phỏng vấn
sâu số 1]. Bên cạnh đó cũng có những gia đình khó khăn, việc đầu tư cho con
cái học tập chiếm một phần rất lớn trong tổng chi tiêu của gia đình. "... Chi
phí cho học tập của con cái chiếm gần một nửa so với tổng chi tiêu trong gia
đình. Tuy vậy tôi cũng cố gắng chắt bóp, nhịn ăn, nhịn mặc một chút để nó
học hành đến nơi đến chốn" [Phỏng vấn sâu số 2]. Đó là sự hy sinh lớn lao
đáng được trân trọng của các bậc cha mẹ khi đã tạo mọi điều kiện cho con em
mình học tập.
Song dường như vẫn tồn tại một nghịch lý thể hiện ở thái độ đầu tư của
cha mẹ cho việc học tập của con cái. Có một số ít những gia đình khá giả thì
trường học không thực sự trở thành nơi thu hút sự đầu tư của cha mẹ. Với vị
trí thuận lợi là có nhà mặt đường để mở cửa hàng buôn bán, những gia đình
này thay vì khuyến khích cho con cái học lên cao họ lại có những tính toán
thực dụng hơn, ngầm "ủng hộ" con cái bỏ học để đi làm kiếm tiền. "... Thằng
23
út nhà tôi năm nay hết cấp III mà chẳng thấy nó học hành gì, suốt ngày ở
ngoài đường thôi. Xét cho cùng học hành cũng chỉ là để sau này kiếm tiền
nuôi thân chứ làm gì. Nhà tôi 3 đời sống bằng nghề buôn bán kinh doanh này
rồi, được cái nhà ở mặt đường nên làm ăn cũng thuận lợi. Tôi tính để nó tốt
nghiệp xong rồi phụ giúp gia đình trông coi cửa hàng. Có khi ở nhà tu chí làm
ăn thì lại ngoan chứ đến trường, bạn bè lôi kéo đâm ra hư hỏng..." [Phỏng vấn
tưởng sai lệch về vấn đề này. Con cái là niềm tự hào của cha mẹ, việc đầu tư
cho con về mặt vật chất ở mỗi gia đình là khác nhau tùy thuộc vào điều kiện
kinh tế nhưng sự quan tâm mà bất kỳ bậc làm cha làm mẹ nào cũng có thể đó
là việc dành thời gian để quan tâm tới việc học tập của con.
Bên cạnh đó 35,8% chỉ thỉnh thoảng mới chú ý tới việc học hành của
con và số rất ít không bao giờ quan tâm đến việc học hành của con cái. Liệu
có phải sự quan tâm của các bậc phụ huynh này chỉ ở nghĩa vụ bắt buộc, phải
chăng họ không lo lắng cho tương lai của con em họ? Khi tìm hiểu vấn đề này
được biết: "Con trai tôi học đến cấp III rồi nên giờ giấc học tập của nó để nó
tự giác là chính... Không phải tôi không quan tâm đến việc giáo dục con cái
nhưng công việc bán hàng bận rộn từ sáng sớm đến tối, nhà lại chỉ có hai mẹ
con nên không thể bảo ban, đôn đốc việc học cho nó được..." [Phỏng vấn sâu
số 3]. Qua ý kiến trên chúng ta thấy các bậc cha mẹ không phải là không quan
tâm tới việc học của con nhưng do hoàn cảnh gia đình nên việc quan tâm còn
bị hạn chế. Theo kết quả điều tra thì đối với những gia đình có cha mẹ làm
cán bộ viên chức nhà nước, mức độ quan tâm tới việc học tập của con thường
xuyên hơn so với những gia đình làm nghề buôn bán - dịch vụ. Bởi lẽ tính
chất công việc buôn bán đòi hỏi có nhiều thời gian chứ không chỉ đi làm 8
tiếng như cán bộ, viên chức nhà nước nên thời gian dành cho con cái bị hạn
chế là điều tất yếu. Đặc biệt đối với những gia đình thiếu khuyết do cha mẹ
chia tay hay do mất mát một trong hai người thì việc quan tâm chăm sóc
25