Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Nguyên liệu, vật liệu là đối tượng lao động - một trong ba yêu tố cơ
bản không thể thiếu được của quá trình sản xuất. Nó là cơ sở vật chất chủ
yếu để hình thành lên sảm phẩm mới. Một doanh nghiệp muốn tiến hành sản
xuất thì nhất thiết phải có nguyên vật liệu. Mặt khác nguyên vật liệu chiếm tỉ
trọng lớn trong giá thành sản xuất sản phẩm nên nó cũng được tiết kiệm
trước tiên để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp được quyền
tự chủ trong sản xuất kinh doanh, chi phí nguyên vật liệu cũng được quan
tâm hơn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Trong
nền kinh tế hàng hoá, nguyên vật liệu được mua bán chủ yếu trên thị trường
với giá cả thoả thuận và chịu sự tác động của các quy luật kinh tế như: quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị… Chính vì vậy, việc ghi
chép, phản ánh tình hình thu mua, nhập, xuất và dự trữ nguyên vật liệu
chiếm một vị trí quan trọng trong việc cung cấp thông tin để ra các biện
pháp quản lý nguyên vật liệu cho đúng đắn.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Tàu cuốc và Xây dựng
Phát triển nông thôn Nam Định, so sánh giữa phần lý luận và thực tế tìm
hiểu được ở Công ty, em nhận thấy còn một số vấn đề khúc mắc trong công
tác hạch toán vật liệu tại Công ty. Vì vậy em xin đi vào Đề tài nghiên cứu
của Chuyên Đề thực tập tốt nghiệp: “Hạch toán vật liệu ở Công ty cổ phần
Tàu cuốc và Xây dựng Phát triển nông thôn Nam Định” để từ đó đưa ra
những đánh giá và kiến nghị phù hợp nhất.
Nội dung của Đề tài gồm các phần chính sau:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN THỨ NHẤT
Đặc điểm tình hình chung của Công ty Cổ phần Tàu cuốc và Xây dựng
Phát triển nông thôn Nam Định với hạch toán vật liệu
PHẦN THỨ HAI
Tình hình hạch toán vật liệu ở Công ty Tàu cuốc và Xây dựng Phát
cho việc gia cố đê.
Năm 1996, sau khi chia tách tỉnh Nam Hà, Xí nghiệp một lần nữa lại
được đổi tên thành Xí nghiệp Tàu cuốc Thuỷ lợi Nam Định.
Tháng 11 năm 1999, Công ty đổi tên thành Công ty Tàu cuốc và Xây
dựng Phát triển nông thôn Nam Định.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ năm 2004 đến nay cùng với sự hội nhập và xu thế phát triển của
nền kinh tế, Công ty chính thức mang tên Công ty cổ phần Tàu cuốc và Xây
dựng Phát triển nông thôn Nam Định.
Từ đó đến nay Công ty không ngừng đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, luôn
khẳng định được chỗ đứng của mình trong cơ chế thị trường. Điều này đã được thể
hiện ở sự không ngừng tăng trưởng và phát triển doanh thu qua các năm, năm sau
cao hơn năm trước, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng cải thiện và có thu
nhập ổn định.
Kể từ khi thành lập đến nay, trải qua một khoảng thời gian dài cùng
với những biến động lớn lao của thị trường và xã hội nhưng chức năng hoạt
động chính của Công ty vẫn luôn được giữ vững. Các hoạt động xây dựng
của Công ty vì thế luôn gắn với đối tượng lao động là nguyên vật liệu. Do đó
đi cùng với sự hình thành và phát triển của Công ty, công tác kế toán nói
chung và hạch toán vật liệu nói riêng cũng không ngừng được hoàn thiện và
ngày càng khẳng định được tầm quan trọng cũng như vai trò chủ đạo của
mình.
1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Là một Công ty lâu năm chuyên hoạt động trong lĩnh vực phục vụ nông
nghiệp nông thôn, Công ty đã tạo dựng được uy tín và luôn có được sự hợp tác
nhiệt tình của bà con nông dân và nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Công
việc chính của Công ty là nạo vét kênh mương luồng lạch, hệ thống tưới tiêu phục
vụ sản xuất nông nghiệp, gia cố đê điều bằng máy khoan phụt sữa. Đây là công việc
rất quan trọng đòi hỏi phải được làm thường xuyên và liên tục, đặc biệt là vào các
khoảng thời gian trước các vụ sản xuất và trước mỗi mùa mưa lũ. Trước đây khi
viên kế toán nắm bắt số liệu nhập - xuất - tồn của vật liệu một cách nhanh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chóng, chính xác để kịp thời phản ánh vào sổ và các báo cáo tài chính liên
quan.
Do đặc điểm vật liệu của Công ty khá đa dạng về chủng loại nên Công
ty đã áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán nghiệp vụ
nhập - xuất vật liệu và để phản ánh tổng hợp nhập - xuất. Công ty sử dụng
các tài khoản:
Tài khoản 152: “ Nguyên liệu - vật liệu”
Tài khoản 331: “ Phải trả người bán”
Tài khoản 111: “Tiền mặt”
Tài khoản 112: “ Tiền gửi ngân hàng”
Tài khoản 141: “ Tạm ứng”
………
Do đặc điểm sản xuất của Công ty mang tính chất đứt đoạn, sản phẩm
bàn giao nghiệm thu tính theo m
3
bùn hút, mét khoan sâu đê gia cố nên Công
ty không có chi phí dở dang cuối kì.
Về sổ sử dụng, Công ty hạch toán theo hình thức chứng từ ghi sổ nên
các sổ được sử dụng trong quá trình hạch toán tổng hợp sẽ gồm:
Sổ chi tiết số 2 “ Thanh toán với người bán”
Sổ chi tiết nguyên vật liệu
Bảng phân bổ số 2
Sổ chi tiết thanh toán tạm ứng
Sổ cái
1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty
Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đặt
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc và các thành viên trong Hội đồng
Quản trị. Hỗ trợ cho Giám đốc là 1 Phó giám đốc và 4 phòng chức năng bao
Chuyờn thc tp tt nghip
cui nm l 5075 triu. Doanh thu hot ng sn xut kinh doanh nm 2006
l 4576 triu, np thu cho nh nc 302,9 triu. Qua s liu cú th thy
c thu nhp nhỡn chung ca ngi lao ng cha tht cao. Nhng vi s
u t thờm mỏy múc thit b hin i tỡnh hỡnh trờn ang dn c ci thin
v d bỏo s tng hn na trong tng lai khụng xa.
B mỏy hot ng ca cụng ty cú th c khỏi quỏt qua s chc
nng sau:
S 1: C cu b mỏy qun lý ca Cụng ty
T nhng c im t chc kinh doanh v t chc qun lý nh ó nờu
trờn, ũi hi cụng tỏc t chc b mỏy K toỏn Cụng ty cng phi phự hp
nhm t hiu qu cao nht. Vic b trớ cỏc Phũng, Ban chc nng nh trờn
ó m bo mt b mỏy y , bao quỏt ton b hot ng thng xuyờn
ti Cụng ty. Vic hch toỏn vt liu c thc hin ti Phũng K toỏn vỡ l
ú cng luụn m bo c s gn kt v h tr t cỏc Phũng, Ban khỏc
mt cỏch hiu qu nht.
Hội đồng Quản trị
- Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm
Giám đốc
- Phó Giám đốc
- Ban Kiểm soát
Phòng
Tổ chức Hành
chính
Phòng Kế
hoạch và Kỹ
thuật
Phòng
Kế toán Thống
vận dụng linh hoạt và tuân theo đúng quy định của Nhà nước.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Về tổ chức vận dụng chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán áp dụng cho
doanh nghiệp thực hiện theo đúng nội dung, phương pháp lập, kí chứng từ
theo quy định của Luật Kế toán và Nghị định của Chính phủ Số
129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004. Hệ thống biểu mẫu kế toán áp dụng cho
doanh nghiệp bao gồm các chỉ tiêu: lao động tiền lương, hàng tồn kho, chỉ
tiêu tiền tệ và chỉ tiêu TSCĐ… Trong đó chứng từ về lao động tiền lương
bao gồm: bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, bảng thanh toán tiền
thưởng, giấy đi đường, bảng thanh toán tiền thuê ngoài, bảng phân bổ tiền
lương và bảo hiểm xã hội… Chứng từ về hàng tồn kho bao gồm: phiếu nhập
kho, xuất kho, biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, bảng phân
bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… Chứng từ về tiền tệ bao gồm: phiếu
thu, phiếu chi, giấy đề nghị tạm ứng, giấy đề nghị thanh toán, biên lai thu
tiền, bảng kê chi tiền… Và các chứng từ về TSCĐ như: biên bản giao nhận
TSCĐ, biên bản thanh lý TSCĐ, biên bản kiểm kê TSCĐ, bảng tính và phân
bổ khấu hao TSCĐ. Ngoài ra còn có các chứng từ khác như: hoá đơn thuế
giá trị gia tăng, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ…
Các chứng từ về tiền lương được lập nhằm theo dõi tình hình sử dụng
thời gian lao động, các khoản phải thanh toán với người lao động và một số
vấn đề khác có liên quan đến người lao động. Các chứng từ này được lập bởi
kế toán tiền lương sau đó được tổng hợp lại dùng làm căn cứ tính giá thành
sản phẩm và các chi phí khác.
Đối với các chứng từ về hàng tồn kho và TSCĐ sẽ được đảm nhận bởi
kế toán vật tư và TSCĐ. Mỗi khi có sự cố xảy ra như vật tư, công cụ, dụng
cụ không đủ số lượng hoặc không đúng quy cách so với chứng từ hoá đơn
nhiệm vụ của kế toán phần hành này sẽ phải lập thêm một liên nữa kèm theo
chứng từ liên quan gửi cho các bên có liên quan để giải quết. Các chứng từ ở
mảng này rất quan trọng đòi hỏi phải được ghi chép cẩn thận để làm căn cứ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi.
- Hoá đơn mua bán
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, bảng phân bổ
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ…
Về tổ chức vận dụng tài khoản kế toán: Tài khoản (TK) kế toán là
những ghi chép cho mỗi loại tài sản và nguồn hình thành của tài sản thể hiện
tất cả các lần tăng giảm qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tài khoản là
cách thức phân loại, hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh riêng biệt
theo từng đối tượng ghi của hạch toán kế toán nhằm phục vụ cho yêu cầu
quản lý của các loại chủ thể quản lý khác nhau. Một tài khoản kế toán loại
đơn giản nhất chỉ gổm 3 yếu tố: tên (bao gồm tên của tài sản, nguồn vốn ),
bên trái gọi là bên Nợ, bên phải gọi là bên Có. Đây được gọi là tài khoản
chữ T và được sử dụng thông dụng hiện nay. Bất kỳ một tài khoản nào cũng
phải xuất phát từ nội dung và đặc điểm của đối tượng hạch toán, phải đáp
ứng nhu cầu thông tin cho quản lý, tiện lợi cho việc hạch toán cũng như
quyết toán định kỳ. Có những tài khoản khác nhau để phản ánh tính đa dạng
của tài sản và nguồn vốn. Chúng cũng phải thể hiện được tính hai mặt đối
lập và thống nhất giữa tài sản và nguồn vốn. Đồng thời đảm bảo phản ánh
được tính vận động của các tài sản trong quá trình kinh doanh. Đối với Công
ty Cổ phần Tàu cuốc và Xây dựng Phát triển nông thôn Nam Định do quy
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mô công ty chưa thực sự lớn, nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhiều do đó
hệ thống tài khoản sử dụng trong công ty tập trung vào một số tài khoản chủ
yếu như: Tài khoản 111 (Tiền mặt), Tài khoản 131 (Phải thu khách hàng),
Tài khoản 133 (Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ), Tài khoản 152 (Nguyên
vật liệu), Tài khoản 153 (Công cụ, dụng cụ), Tài khoản 211 (Tài sản cố
định), Tài khoản 214 (Khấu hao TSCĐ), Tài khoản 311 (Nợ ngắn hạn phải
trả), Tài khoản 334 (Lương phải trả công nhân viên), Tài khoản 411 (Vốn
góp), Tài khoản 511 (Doanh thu), Tài khoản 621 (Chi phí nguyên vật liệu)…
Đối với hạch toán vật liệu, các tài khoản được sử dụng chủ yếu bao
toán phải tuân thủ nguyên lý kết cấu nhất định có nội dung ghi chép theo
thời gian hoặc theo đối tượng nhất định, hoặc chi tiết hoặc tổng hợp để phản
ánh và hệ thống hoá các thông tin đã được chứng từ hoá một cách hợp pháp
và hợp lý. Sổ kế toán có nhiều tác dụng với công tác kế toán. Bằng việc
phân loại số liệu kế toán chứng từ vào hệ thống các loại sổ kế toán theo mục
đích ghi chép của mỗi loại sổ sẽ cung cấp thông tin cho chỉ đạo hoạt động
kinh doanh hàng ngày. Công đoạn ghi sổ kế toán sẽ cho biết thông tin cần
quản lý về một sổ đối tượng như: thu chi tiền mặt; xuất nhập vật tư, hàng
hoá; tăng giảm TSCĐ; doanh thu bán hàng; chi phí hoạt động sản xuất. Cuối
kỳ lập báo cáo dựa trên thông tin đã hệ thống hoá trên sổ kế toán có thể xử
lý và lựa chọn thông tin có ích để lập báo cáo, phân tích tài chính cung cấp
cho việc ra quyết định nội bộ hoặc cho những người bên ngoài có quan tâm.
Như vậy sổ kế toán có những tác dụng khác nhau trên nhiều lĩnh vực quản lý
cũng như thực hiện nghiệp vụ kế toán trước, trong và sau quá trình hoạt
động kinh doanh thuộc một kỳ kế toán nhất định. Sổ kế toán có nhiều loại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khác nhau để phản ánh tính đa dạng và phong phú của đối tượng hạch toán.
Cần chọn cách mở sổ thích hợp để đảm bảo hiệu quả chung của công tác kế
toán trên sổ và trong các giai đoạn tiếp theo.
Sổ kế toán có thể được phân loại theo phương pháp ghi, tính chất hệ
thống hoá phản ánh số liệu ta có 3 loại sổ là sổ nhật ký, sổ cái và sổ nhật ký-
sổ cái. Nếu phân loại theo tiêu thức kết cấu bên trong cửa sổ ta có các loại:
kết cấu kiểu tài khoản, kết cấu một bên Nợ (hoặc Có) của tài khoản, sổ kết
cấu bàn cờ. Căn cứ hình thức bên ngoài ta có sổ quyển, sổ tờ rơi. Còn căn cứ
mức độ phản ánh số liệu trên sổ ta có sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng
hợp.
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp
vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và trình tự thời gian
có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện tại công ty
đang thực hiện quy định về sổ kế toán theo đúng Luật Kế toán và Nghị định
Tài khoản 141, thẻ TSCĐ …
Sử dụng sổ kế toán là một kỹ thuật nghiệp vụ để đảm bảo sự thống
nhất ngôn ngữ trong biểu diễn các thông tin trên sổ. Cũng cần phải quy định
các kỹ thuật: mở sổ, ghi sổ, sửa chữa sai sót trên sổ, chuyển sổ và khoá sổ.
Các kỹ thuật này phải đảm bảo tính chính xác, thống nhất, làm cho số liệu kế
toán trên sổ trở thành ngôn ngữ của kinh doanh.
Như vậy để hạch toán vật liệu kế toán Công ty sử dụng các sổ (thẻ)
kế toán chi tiết: sổ chi tiết nguyên vật liệu, sổ chi tiết xuất nguyên vật liệu,
sổ chi tiết thanh toán với người bán, sổ chi tiết Tài khoản 141, thẻ kho… và
các sổ tổng hợp là Sổ Cái tài khoản, sổ Đăng kí chứng từ ghi sổ và sổ Chứng
từ ghi sổ.
Về mặt hình thức kế toán công ty áp dụng hình thức sổ kế toán là
Chứng từ ghi sổ. Đây là hình thức sổ thể hiện bước phát triển cao hơn trong
lĩnh vực thiết kế hệ thống sổ đạt mục tiêu hợp lý hoá cao nhất trong hạch
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
toán kế toán trên các mặt. Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ Chứng từ ghi
sổ thể hiện ở số lượng, kết cấu nội dung sổ, trình tự các bước ghi sổ từ
chứng từ gốc cho đến các báo cáo kế toán. Có thể tóm tắt hình thức chứng từ
ghi sổ qua sơ đổ sau:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 2: Trình tự hạch toán theo hình thức Chứng từ ghi sổ
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Chứng từ kế toán
Bảng tổng hợp
kế toán chứng
từ cùng loại
khớp đúng sẽ khoá sổ và lập Báo cáo kế toán.
Khi có sai sót trong việc ghi sổ xảy ra việc sửa chữa sổ được tiến hành
kịp thời nhằm khắc phục và hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả sau này. Để
đảm bảo cho công tác ghi sổ luôn chính xác kế toán viên của công ty được
khuyến khích tiến hành thêm thao tác là kiểm tra lại việc ghi chép vào cuối
mỗi ngày làm việc. Nhờ đó tình trạng ghi sổ sai rất hiếm khi xảy ra. Đây
cũng là một hành động thể hiện được tư chất cẩn trọng của một người làm
kế toán chuyên nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Về tổ chức vận dụng báo cáo kế toán: Báo cáo kế toán hay Báo cáo
tài chính là một trong những nội dung quan trọng của công tác kế toán.
Chúng dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh
doanh, các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp, của Nhà nước, của những người sử dụng để đưa ra các quyết định.
Ngày nay đó còn là thông tin quan trọng cho những nhà đầu tư muốn tìm
hiểu về hoạt động của công ty nhằm đầu tư vào Công ty. Báo cáo tài chính
cung cấp thông tin về: Tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu
nhập khác, chi phí, lãi, lỗ, phân chia kết quả kinh doanh, thuế và các khoản
phải nộp nhà nước, các luồng tiền... Ngoài các thông tin này Công ty còn
phải cung cấp các thông tin khác trong Thuyết minh báo cáo tài chính nhằm
giải trình thêm các chỉ tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp,
các chính sách kế toán đang áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính. Việc lập và trình bày báo cáo tài
chính được công ty tuân thủ nghiêm ngặt theo chuẩn mực kế toán của Bộ
Tài chính ban hành. Hệ thống báo cáo tài chính năm được áp dụng cho tất cả
các loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành và các thành phần kinh tế. Với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ như Công ty ngoài việc tuân thủ theo các qui
định chung còn phải tuân thủ theo những qui định hướng dẫn cụ thể phù hợp
với doanh nghiệp tại chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Do Công ty có quy mô trung bình các nghiệp vụ nhiều nhưng chuyên
doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm báo cáo, sổ kế toán tổng hợp; sổ, thẻ
kế toán chi tiết có liên quan, Bản thuyết minh báo cáo tài chính năm trước.
Trong nội dung của Bản thuyết minh báo cáo tài chính đặc điểm hoạt động
của doanh nghiệp được ghi là Công ty cổ phần, kinh doanh trong lĩnh vực
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xây dựng với kỳ kế toán năm với chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ
và hình thức kế toán là Chứng từ ghi sổ… Các chính sách kế toán áp dụng
gồm có nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho theo phương pháp tính nhập trước
xuất trước, phương pháp hạch toán kê khai thường xuyên, nguyên tắc ghi
nhận TSCĐ theo nguyên giá, phương pháp khấu hao TSCĐ theo đường
thẳng…
Như vậy Công ty lập và trình bày báo cáo tài chính năm. Việc lập và
trình bày này tuân thủ các yêu cầu qui định của chuẩn mực kế toán là: trung
thực hợp lý, lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán phù hợp với qui định
của từng chủng loại kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với
nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các thông
tin đáng tin cậy, trung thực, phản ánh đúng bản chất kinh tế, trình bày khách
quan, đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu. Việc lập và trình bày báo cáo tài
chính luôn được tuân thủ theo sáu nguyên tắc qui định tại Chuẩn mực kế
toán số 21 đó là: liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu, tập hợp, bù
trừ và có thể so sánh. Trong việc thuyết minh báo cáo tài chính luôn căn cứ
vào yêu cầu trình bày thông tin qui định trong các chuẩn mực kế toán. Các
thông tin trọng yếu cũng luôn được giải trình để giúp người đọc hiều đúng
thực trạng tình hình tài chính của Công ty.
Khi kết thúc năm tài chính đơn vị tiến hành nộp báo cáo tài chính cho
cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan đăng ký kinh doanh tại địa phương
đăng ký kinh doanh. Sự chính xác của các báo cáo được lập phụ thuộc rất
nhiều vào công tác hạch toán vật liệu bới đây là nghiệp vụ chính trong công
tác kế toán của toàn Công ty. Vì vậy các số liệu được phản ánh trong các
báo cáo này liên quan đến công tác hạch toán vật liệu phải luôn được ghi
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công tác kế toán cần thiết phải thực hiện và cơ cấu lao động kế toán có trong
đơn vị. Khi phân công lao động kế toán cần phải tôn trọng các điều kiện có
tính nguyên tắc như: nguyên tắc bất vị thân, bất kiêm nhiệm, hiệu quả và tiết
kiệm, chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động… Trong bộ máy kế toán mỗi
nhân viên phần hành và Kế toán tổng hợp đều có chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn riêng về khối lượng công tác kế toán được giao. Các kế toán phần
hành có thể chuyên môn hoá theo từng phần hành hoặc có thể kiêm nghiệm
một số phần hành theo nguyên tắc chung của tổ chức khoa học lao động kế
toán. Kế toán phần hành có trách nhiệm quản lý trực tiếp, phản ánh thông tin
kế toán, thực hiện sự kiểm tra qua ghi chép, phản ánh tổng hợp đối tượng kế
toán phần hành được đảm nhiệm từ giai đoạn hạch toán ban đầu tới các giai
đoạn kế toán tiếp theo. Các kế toán phần hành phải có trách nhiệm liên hệ
với kế toán tổng hợp để hoàn thành ghi sở tổng hợp hoặc lập báo cáo định
kỳ chung ngoài báo cáo phần hành. Như vậy các kế toán phần hành có quan
hệ ngang với nhau. Kế toán tổng hợp là lao động kế toán mà chức năng
nhiềm vụ cơ bản là thực hiện công tác kế toán cuối kỳ, giữ Sổ Cái tổng hợp
cho tất cả các phần hành và ghi Sổ Cái tổng hợp, lập báo cáo nội bộ hoặc
cho bên ngoài đơn vị theo định kỳ báo cáo hoặc theo yêu cầu đột xuất.
Bộ máy kế toán có thể được tổ chức theo kiểu trực tuyến (nghĩa là kế toán
trưởng trực tiếp điều hành các nhân viên kế toán phần hành không thông qua
khâu trung gian nhận lệnh. Với cách tổ chức này mối quan hệ phụ thuộc trong
bộ máy kế toán trở nên đơn giản), theo kiểu trực tuyến tham mưu (bộ máy kế
toán được hình thành bởi mối quan hệ trực tuyến như phương thức trực tuyến và
mối liên hệ có tính chất tham mưu giữa kế toán trưởng với các kế toán phần
hành và giữa kế toán trưởng với các bộ phận tham mưu) hay theo kiểu chức
năng (bộ máy kế toán được chia thành những bộ phận độc lập đảm nhận những
hoạt động riêng rẽ. Kế toán trưởng chỉ đạo kế toán nghiệp vụ thông qua các
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trưởng ban kế toán). Trong Công ty đặc biệt là những Công ty có qui mô lớn kế