ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
LÝ THỊ HUỆ
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC
GIẢM THIỂU SỰ PHÂN CỰC GIÀU - NGHÈO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
LÝ THỊ HUỆ
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC
GIẢM THIỂU SỰ PHÂN CỰC GIÀU - NGHÈO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số
: 62.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
cực giàu - nghèo.................................................................................................................... 9
1.2. Những nghiên cứu về thực trạng Nhà nước thực hiện vai trò giảm thiểu sự phân
cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay.............................................................................. 16
1.3. Những nghiên cứu về các giải pháp đã được đề xuất nhằm nâng cao vai trò của
Nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay ......... 21
1.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án ..................................... 27
Chương 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC GIẢM THIỂU SỰ
PHÂN CỰC GIÀU - NGHÈO: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ............................ 30
2.1. Quan niệm về sự phân cực giàu - nghèo và giảm thiểu sự phân cực giàu nghèo................................................................................................................................... 30
2.2. Tính tất yếu khách quan và sự thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc giảm thiểu
sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay ............................................................... 42
2.3. Các nhân tố tác động đến vai trò của Nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân cực
giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay..................................................................................... 58
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................................... 66
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC GIẢM THIỂU SỰ
PHÂN CỰC GIÀU - NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ....................................................................................... 68
3.1. Sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay........................................................ 68
3.2. Thực trạng Nhà nước thực hiện vai trò giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo ở Việt
Nam hiện nay ...................................................................................................................... 79
1
3.3. Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng Nhà nước thực hiện vai trò trong việc giảm thiểu
sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay ............................................................. 104
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................................. 114
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC GIẢM THIỂU SỰ PHÂN CỰC GIÀU NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................................... 116
4.1. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc hoạch định các chính
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử xã hội loài người từ khi có sự phân chia giai cấp, luôn tồn tại người
giàu và người nghèo. Ngày nay, sự phân cực giàu - nghèo đã và đang lan rộng mang
tính toàn cầu. Theo trang Bloomberg View, từ năm 1980 đến năm 2012, thu nhập
thực tế của 90% dân số thế giới tăng không đáng kể, song thu nhập của những người
càng giàu thì càng tăng nhanh. Thu nhập của 1% dân số giàu nhất tăng 175%, còn thu
nhập của 1 phần vạn người giàu nhất (0,01% hay là 1% của 1% dân số) tăng lên
500% [154]. Còn theo đánh giá của Tổ chức quốc tế (Oxfam) trong bản báo cáo
Working for the Few được công bố ngày 20/01/2014, có 85 cự phú hàng đầu trên
hành tinh đang sở hữu toàn bộ số tài sản sánh ngang với một nửa dân số trái đất (3,5
tỉ người) và 1% đại cự phú đang sở hữu số tài sản có giá trị khoảng 110 nghìn tỉ đô la
Mỹ. Giá trị này lớn gấp 65 lần so với toàn bộ số tài sản của một nửa nhân loại nghèo
[156, tr.5]. Oxfam cũng cảnh báo tới năm 2016, 1% dân số thế giới gồm những người
giàu nhất sẽ nắm giữ số tài sản nhiều hơn tổng giá trị của cải của 99% còn lại [157].
Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, nếu như quốc gia nào không để xảy ra sự phân cực
giàu - nghèo thì quốc gia đó sẽ có được một nền chính trị - xã hội ổn định và một
nền kinh tế phát triển bền vững. Ngược lại, nếu quốc gia nào để xảy ra sự phân cực
giàu - nghèo trong xã hội thì đến một lúc nào đó nền kinh tế phát triển sẽ thiếu bền
vững và chính trị - xã hội sẽ bất ổn. Điều này đòi hỏi các quốc gia và cộng đồng
quốc tế phải coi cuộc đấu tranh nhằm giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo là một yêu
cầu bắt buộc về đạo đức, xã hội, chính trị và kinh tế của nhân loại.
Ở Việt Nam, sự phân hóa giàu - nghèo diễn ra ngay từ thời kỳ quản lý kinh tế xã hội theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Tuy nhiên, những biểu hiện của
sự phân hóa giàu - nghèo ở thời kỳ này chưa rõ nét, vì công bằng xã hội lúc này
đồng nghĩa với “chia đều sự nghèo khổ”. Nhưng kể từ khi Việt Nam chuyển đổi mô
hình kinh tế, thì sự phân hóa giàu - nghèo là “cái trục trung tâm của phân tầng xã
hội” [104, tr.14] đã bộc lộ rõ nét và ngày càng trở nên gay gắt dẫn đến phân cực
giàu - nghèo. Vì thế, hiện nay sự phân cực giàu - nghèo không phải là nguy cơ mà là
hiện thực Việt Nam phải đối mặt. Phân cực giàu - nghèo nếu không được kiểm soát
nhiều bị chi phối bởi những yếu tố thuộc về chủ quan, trong đó có sự phân chia lợi ích
nhóm phi pháp. Chính sự thao túng, lũng đoạn Nhà nước của một bộ phận không nhỏ
cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước đã khiến cho những nỗ lực thu hẹp khoảng
cách giàu - nghèo của Nhà nước chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Hiện tượng tái
5
nghèo hoặc nghèo tăng lên theo tiêu chuẩn mới là có thực. Nếu những băn khoăn của
giới nghiên cứu và dư luận xã hội là đúng, thì rõ ràng Nhà nước chưa làm tròn trách
nhiệm của mình về cả phương diện quản lý kinh tế lẫn điều tiết, phân phối công bằng
các nguồn lực và thành quả của phát triển. Điều này đòi hỏi cả hệ thống chính trị, đặc
biệt Nhà nước Việt Nam với tư cách yếu tố trung tâm của kiến trúc thượng tầng, cột
trụ của hệ thống chính trị cần phải thận trọng hơn, khoa học hơn trong các kịch bản và
các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần giảm thiểu sự phân cực giàu nghèo trong thời gian tới. Bởi, giảm thiểu được sự phân cực giàu - nghèo là cơ sở quan
trọng tạo sự đoàn kết và đồng thuận xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
bền vững, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.
Tuy nhiên, theo khảo cứu của chúng tôi, dường như chưa có một công trình
nghiên cứu nào bàn trực diện về sự phân cực giàu - nghèo Việt Nam hiện nay và vai
trò của Nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân cực đó (đặc biệt dưới góc độ triết
học). Đây là một “khoảng trống” cần được bổ khuyết. Do đó, làm sao để nâng cao
hơn nữa vai trò của Nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội trở nên cần thiết và cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì
vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Vai trò của Nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân
cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận chung về vai trò của Nhà nước trong việc giảm thiểu sự
phân cực giàu - nghèo, luận án phân tích, đánh giá thực thực trạng Nhà nước thực
hiện vai trò trong việc giảm thiểu sự phân cực ở Việt Nam hiện nay, cùng những
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
về khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa nghèo bền vững; giảm dần tình
trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư; thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, v.v.. Đồng thời, luận
án có kế thừa những thành tựu đạt được của một số công trình nghiên cứu khoa học
trong và ngoài nước đã được công bố có liên quan.
7
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các phương pháp lịch sử và lôgic, quy nạp và diễn
dịch, đối chứng và so sánh, đồng thời có sử dụng phương pháp liên ngành khoa học
xã hội để làm rõ nội dung nghiên cứu.
5. Đóng góp mới của luận án
- Đã đưa ra và làm sáng tỏ được các khái niệm, như: sự phân cực giàu - nghèo,
giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo và vai trò của Nhà nước trong việc giảm thiểu
sự phân cực đó.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam từ
khi đổi mới cho đến nay và thực trạng Nhà nước thực hiện vai trò trong việc giảm
thiểu sự phân cực đó cùng những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của
Nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Những vấn đề mà luận án đề cập và giải quyết, sẽ góp phần thiết thực vào việc
luận giải và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nâng cao vai trò của Nhà nước
Các tác giả cuốn Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội do Lê Hữu
Tầng chủ biên (1997) cho rằng, “sự phân cực giàu nghèo hiện đang diễn ra có
những nguyên nhân khách quan và chủ quan của nó, nhưng sự phân cực ấy chủ yếu
không bắt nguồn từ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất và một cách tương ứng,
chủ yếu không bắt nguồn từ sự bóc lột lao động làm thuê” [116, tr.87]. Do đó, các
hộ giàu và nghèo ở đây đều là những người lao động, đều tạo ra thu nhập chủ yếu
bằng sức lao động của chính mình, trong đó hộ nào có điều kiện, có nhiều sức lao
động, có kinh nghiệm và khả năng kinh doanh sản xuất sẽ giàu hơn. Vì thế, không
nên và không thể nôn nóng, muốn xóa bỏ mọi sự bất bình đẳng xã hội ngay lập tức,
mà chỉ có thể thực hiện mục tiêu cuối cùng đó dần dần. Công trình bước đầu đã có
những gợi mở về thuật ngữ sự phân cực giàu - nghèo.
Bài viết “Sự phân tầng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế theo cơ chế thị
trường” của Trịnh Duy Luân trong cuốn Những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế
thị trường ở Việt Nam (2000), khẳng định, phát triển kinh tế thị trường cũng sẽ dẫn
9
đến phân hóa giàu - nghèo trong các tầng lớp dân cư. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng “có thể gây nên những bất ổn định, tiêu cực và xung đột” [71,
tr.52] xã hội. Tuy dung lượng bài viết không dài, nhưng tác giả Trịnh Duy Luân đã
phác thảo hết sức sắc sảo về thực trạng của sự phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam
hiện nay và đưa ra những cảnh báo nguy hiểm cho đất nước nếu như Nhà nước không
có giải pháp thích hợp để khắc phục tình trạng trên.
Năm 2000, các tác giả cuốn Giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo ở các
nước và Việt Nam do Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa và Nguyễn Văn Áng đồng chủ
biên, đã dựa trên một số lý thuyết về sự phân hóa - giàu nghèo, tiêu chí, nguyên
nhân và ảnh hưởng của sự phân hóa giàu - nghèo trên thế giới để luận giải thực
trạng của sự phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam. Ngoài tiêu chí thu nhập, mức sống,
tư liệu sản xuất và tài sản chủ yếu, công trình còn đưa ra những tiêu chí mới, như
“giáo dục, văn hóa, việc làm và các lĩnh vực khác” [99, tr.114], v.v. để xem xét vấn
tế - xã hội (thu nhập, học vấn, uy tín nghề nghiệp); thứ ba, dựa vào việc sử dụng
quyền lực chính trị và quân sự, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng; thứ tư, dựa
trên cơ sở các nhân tố thuộc về văn hóa và vốn văn hóa; thứ năm, dựa trên sự đánh
giá chủ quan của một số người tự nhận mình thuộc thứ bậc nào trong xã hội. Công
trình có giá trị với tác giả luận án khi phân tích, đánh giá biểu hiện của sự phân cực
giàu - nghèo, mặc dù không trực tiếp bàn đến sự phân cực giàu - nghèo.
Trong cuốn Phân tầng xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (2012) [128], Lê Văn Toàn khi bàn đến
khái niệm phân hóa giàu - nghèo, đã cho rằng phân hóa giàu - nghèo là một dạng,
một hình thức của sự phân hóa xã hội về mặt kinh tế, dựa trên chỉ báo kinh tế. Tuy
nhiên, chúng tôi cho rằng, khái niệm sự phân hóa giàu - nghèo được xem xét chủ yếu
dưới góc độ kinh tế là chưa toàn diện. Bởi, ngoài góc độ kinh tế, khái niệm phân hóa
giàu - nghèo còn có chỉ báo phi kinh tế, vì thế nội dung của sự phân hóa giàu - nghèo
cần được nhìn nhận đa chiều hơn.
Năm 2013, trong cuốn Phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay: Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Bùi Thị Hoàn đã đưa ra khái niệm phân hóa giàu nghèo và khái quát cơ sở xác định phân hóa giàu - nghèo theo một số tiêu chí, như:
“sự khác nhau về quyền sở hữu, chiếm hữu các tư liệu sản xuất quan trọng; sự
11
chênh lệch về thu nhập, chi tiêu, mức sống, mức hưởng thụ; sự khác nhau về cơ hội
và điều kiện, việc làm; sự khác nhau về khả năng tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ xã
hội cơ bản; sự phân biệt về vị thế chính trị - xã hội; sự khác nhau về nhận thức,
quán triệt đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước” [53, tr.27]. Công trình đã
gợi mở cho tác giả luận án khi đưa ra khái niệm phân cực giàu - nghèo cũng với các
tiêu chí đánh giá sự phân cực đó.
Năm 2013, Oxfam đã công bố nghiên cứu Tóm lược gợi ý chính sách bất bình
đẳng gia tăng: Người dân nghĩ gì? Nghiên cứu này chú trọng tìm hiểu nhận thức của
các nhóm dân cư về mối quan hệ tương hỗ giữa bất bình đẳng gia tăng với dịch chuyển
đẳng giữa phụ nữ và nam giới” [156, tr.2]. Báo cáo phần nào gợi mở cho tác giả
luận án khi phân tích, đánh giá những hệ lụy của sự phân cực giàu - nghèo.
Năm 2014, trong bản báo cáo Income Inequality Significantly Damages
Growth, nhóm chuyên gia tại Paris của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD) khẳng định “khoảng cách về thu nhập khiến người nghèo khó tiếp cận
được các chương trình giáo dục cần thiết để phát triển kỹ năng của họ, ngăn cản
những biến đổi tích cực của xã hội và kìm hãm tăng trưởng. Do đó, để giảm thiểu
thiệt hại do khoảng cách thu nhập gây ra, các nhà hoạch định chính sách cần quan
tâm đến phúc lợi của ít nhất 40% hộ gia đình có thu nhập thấp của xã hội chứ không
chỉ 10% nghèo khó nhất” [155]. Đây là những gợi mở rất tốt cho tác giả luận án khi
nghiên cứu những giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo.
*Nghiên cứu lý luận về việc nhà nước thực hiện vai trò giảm thiểu sự
phân cực giàu - nghèo
Năm 2005, Nguyễn Cúc trong cuốn Hai mươi năm đổi mới và sự hình thành
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định: “Ngày nay
ổn định hay rối loạn, tăng trưởng hay suy thoái, giàu hay nghèo đều tìm thấy
nguyên nhân từ phía nhà nước” [27, tr.69]. Do đó, để hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, nhà nước phải tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho
việc phát triển kinh tế - xã hội bao gồm cả môi trường chính trị; hoạch định, thực thi
chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; điều tiết các lĩnh vực kinh tế - xã
hội; tổ chức quản lý dịch vụ công, dịch vụ phục vụ lợi ích xã hội; quản lý tài
nguyên, tài sản quốc gia. Đây là đóng góp tốt của công trình đối với tác giả luận án.
13
Theo các tác giả cuốn Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa do Đinh Văn Ân chủ biên (2008), nhà nước có vai trò rất lớn trong việc
“điều tiết nền kinh tế và xã hội bằng việc ban hành và thực hiện hàng loạt chính sách
(như chính sách về cung cấp/bảo đảm dịch vụ công, phân phối và tái phân phối phúc
lợi xã hội, phát triển vùng, bảo hiểm và an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, hạn chế
cực đến sự phát triển của đất nước, đe dọa đến sự ổn định chính trị - xã hội. Do vậy,
để thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo thì vai trò Nhà nước là công cụ tất yếu, cơ bản.
Vai trò đó là “xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý ổn định để phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội; xây dựng và hoàn thiện hệ thống
chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội; định
hướng phát triển kinh tế và phân bổ các nguồn lực bảo đảm công bằng xã hội; điều
tiết thu nhập và thực hiện chính sách xã hội” [50, tr.214]. Đây là tài liệu tham khảo
rất hữu ích cho tác giả luận án trong hướng nghiên cứu này.
Luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện công bằng
xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế (2012) của Vi Thị Hương Lan phân tích
khá cụ thể và chỉ ra được vai trò của nhà nước trong việc góp phần giảm thiểu sự phân
cực giàu - nghèo chính là “sự điều tiết, phân chia lợi ích của nhà nước một cách hợp lý
giữa các cá nhân, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội, đảm bảo sao cho mỗi cá nhân,
mỗi giai cấp, tầng lớp trong xã hội được hưởng những lợi ích phù hợp với khả năng
phát triển của mình, dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa cống hiến và hưởng thụ, quyền
và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện và phân chia các lợi ích ấy. Những nguyên tắc
bình đẳng được thể hiện qua hệ thống chính sách, pháp luật, sự thực thi pháp luật và sự
điều hành, quản lý của nhà nước” [68, tr.58]. Công trình gợi mở một hướng tiếp cận về
vai trò của nhà nước trong việc thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo.
Theo Nguyễn Văn Chiều trong Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà
nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam (2014), vai trò của
nhà nước được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản: “Một là, nhà nước tác động đến các
lĩnh vực phổ biến nhất của xã hội: giáo dục - đào tạo, dịch vụ hành chính, lao động
việc làm, v.v.. Đây chính là vai trò duy trì và phục vụ lợi ích công cộng của nhà
nước. Hai là, nhà nước bảo trợ và bảo đảm sự an toàn cho người dân thông qua hệ
thống chính sách an sinh xã hội” [18, tr.44]. Sự đảm bảo an sinh xã hội của nhà
nước sẽ góp phần rất lớn trong việc thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo.
15
16
phận dân cư có điều kiện thuận lợi về vốn, lao động, kiến thức, kinh nghiệm và khả
năng tiếp thị, tức là có tài sản, trí tuệ, uy tín và năng lực thị trường, đã đẩy mạnh
sản xuất kinh doanh, tăng nhanh thu nhập, trong khi các bộ phận khác có điều kiện
kém hơn thì tiến chậm, hoặc dậm chân tại chỗ, và cũng có một bộ phận thụt lùi do
nhiều nguyên nhân khác” [86, tr.339]. Đây là một công trình có sự đầu tư công phu,
kiến giải được thực trạng các chính sách của Nhà nước nhằm góp phần thu hẹp
khoảng cách giàu - nghèo, rất có giá trị đối với tác giả luận án trong hướng nghiên
cứu này.
Đề tài Khoa học cấp Bộ Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng
xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta do Trịnh Quốc Tuấn làm chủ nhiệm
(2001) khẳng định trong những năm đổi mới Nhà nước đã ban hành nhiều chính
sách đúng đắn nhằm thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo. Tuy nhiên, do còn có những
hạn chế về tư duy, chưa dự lường hết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực
hiện, nên “có một số cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ, không nhất quán, thiếu sự
quản lý, kiểm tra để cho một số người lợi dụng làm ăn phi pháp, buôn lậu, trốn thuế,
tham nhũng, v.v. làm giàu bất chính. Bên cạnh đó, một số người quá “dè dặt” với
việc làm ăn nên bị thua thiệt trong kinh doanh, bị phá sản, không tìm được lối thoát,
không tìm được lời giải đáp cho bài toán kinh doanh của mình” [140, tr.119]. Vì
thế, dù có phân tích dưới góc độ nào thì chính sách cũng có ảnh hưởng nhất định
đến sự phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Thị Hằng - Lê Duy Đồng trong cuốn Phân phối và phân hóa giàu
nghèo sau 20 năm đổi mới (2005), cho rằng suốt 20 năm đổi mới, Nhà nước đã thực
hiện phân phối lại thông qua các chính sách thuế thu nhập cá nhân, chính sách giải
quyết việc làm và chính sách an sinh xã hội. Cùng với đó, Nhà nước khuyến khích
làm giàu hợp pháp, tích cực chống tham nhũng, tiêu cực, mua bán quyền lực, v.v..
Kết quả là “các thành quả của tăng trưởng đã được phân phối rộng khắp, góp phần
cấp, khiến cho “sự phân hóa giàu - nghèo, khác biệt kinh tế, chênh lệch thu nhập
giữa các hộ, ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ đang có xu hướng ngày càng gia tăng”
[93, tr.224]. Những gợi mở của công trình đã đóng góp tốt cho tác giả luận án trong
quá trình triển khai thực hiện.
18
Trần Đức Cường với bài viết “Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn
kết xã hội trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” trong cuốn Công bằng xã hội, trách
nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội (2008), đã cho rằng, trong giai đoạn đầu xây dựng
chủ nghĩa xã hội, Nhà nước Việt Nam chủ trương thiết lập chế độ công hữu về những
tư liệu sản xuất chủ yếu và trên cơ sở đó thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao
động, vì thế “chế độ người bóc lột người cơ bản được xóa bỏ, khoảng cách giàu
nghèo giữa các tầng lớp dân cư được thu hẹp đáng kể” [28, tr.23]. Tuy nhiên, từ khi
Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
thì khoảng cách giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư ngày càng gia tăng, mặc dù chưa
dẫn đến phân cực xã hội, nguyên nhân chủ yếu là do tham nhũng, do sự bất hợp lý
trong phân phối của cải và cơ hội phát triển. Điều này đòi hỏi thời gian tới, Nhà nước
cần loại bỏ những nguyên nhân tiêu cực dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo nêu trên.
Công trình rất có giá trị cho tác giả luận án trong hướng đánh giá nguyên nhân dẫn
đến sự phân cực giàu - nghèo và nguyên nhân khiến cho Nhà nước chưa giảm thiểu
được sự phân cực giàu - nghèo như mong đợi.
Tiếp cận dưới góc độ triết học, trong cuốn Công bằng xã hội trong tiến bộ xã
hội (2009), Nguyễn Minh Hoàn cho rằng, phân hóa giàu nghèo và tình trạng bất
bình đẳng xã hội hoàn toàn không phù hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Song, “nói như thế không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn chịu bó tay để cho tình
trạng phân hóa giàu - nghèo cứ tiếp tục gia tăng mãi. Đó là vì chúng ta có Nhà nước
của dân, do dân, vì dân” [52, tr.203]. Tác giả Nguyễn Minh Hoàn khẳng định, trong
gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Nhà nước đã tiến hành hàng loạt
rất có giá trị đối với tác giả luận án trong nguyên nhân của sự phân cực giàu - nghèo,
cũng như thành tựu và hạn chế của Nhà nước trong việc giảm thiểu sự phân cực đó.
Năm 2012, Bùi Đại Dũng trong cuốn Công bằng trong phân phối cơ sở để phát
triển bền vững, cho rằng, trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay, Nhà nước đã hoạch
định và tổ chức thực hiện nhiều chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo.
Song, bất bình đẳng thu nhập ngày càng doãng ra, nhóm 10% giàu nhất có mức thu
nhập tách biệt khỏi các nhóm còn lại và có xu thế ngày càng giàu nhanh hơn. Hơn
nữa, có khá nhiều chính sách của Nhà nước đã đem lại những khoản lợi ích khá lớn
cho một số cá nhân và làm một số người ngày càng giàu thêm, như chính sách. Về
20
dài hạn, các chính sách này “làm tăng phân hóa giàu nghèo và có hại cho phát triển
bền vững” [36, tr.128]. Công trình phần nào giúp cho người đọc hiểu rõ hơn thực
trạng các chính sách của Nhà nước nhằm thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo ở Việt
Nam hiện nay.
Trong công trình Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện
nay do Mai Ngọc Cường chủ biên (2013), các tác giả nhận định từ khi thực hiện
đường lối đổi mới, Nhà nước đã “sớm thực hiện chủ trương phát triển đồng bộ kinh
tế và xã hội, chú trọng kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội. Chủ trương đó đã được thể chế hóa thành những cơ chế, chính sách và
luật pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng tăng phúc lợi, bảo đảm công
bằng và thúc đẩy sự hòa nhập xã hội cho mỗi người dân” [31, tr.376]. Tuy nhiên,
xem xét cụ thể từng chính sách thì các giá trị - mục tiêu của hệ thống chính sách xã
hội là phúc lợi, công bằng và hòa nhập xã hội mới đạt được ở mức độ thấp và còn ở
tình trạng yếu kém, điều đó khiến cho sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng doãng ra.
Công trình giúp cho người đọc có cái nhìn khách quan về thành tựu và hạn chế của
Nhà nước trong việc thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Như vậy, từ góc độ tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, những vấn đề
trong việc giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Để hạn chế những hệ lụy của sự phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay, Nhà
nước kiểm soát và điều tiết thu nhập một cách hợp lý để ngăn chặn phân hóa giàu nghèo quá mức; có những chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các tầng
lớp nhân dân yên tâm, phấn khởi, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm
giàu cho mình và cho xã hội. Trong đó, biện pháp quan trọng nhất là “thực hiện thuế
lũy tiến theo thu nhập để điều tiết hợp lý thu nhập giữa các thành viên trong xã hội”
[139, tr.182-183]. Đó là quan điểm của các tác giả công trình Một số vấn đề về định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta do Trần Xuân Trường làm chủ nhiệm (2000).
Một trong những nội dung quan trọng của luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò định
hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện
nay của Lê Thị Hồng (2001) là khẳng định trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, sự phân hóa giàu - nghèo chỉ được chấp nhận với hai
điều kiện: thứ nhất, giàu lên một cách chính đáng, bằng sức lao động của mình, phù
hợp với hiến pháp và pháp luật; thứ hai, sự phân hóa giàu nghèo không đẩy thành các
cực, đối lập gay gắt, khoảng cách giữa chúng là quá lớn. Do vậy, một mặt, Nhà nước
22