CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU 3
B. PHẦN NỘI DUNG 5
Chương I: Vai trò của nhà nước trong quản lí môi trường nước
ở đô thị
1.QLNN về môi trường nước ở đô thị 5
1.1.Quản lí môi trường nước ở đô thị 5
1.2.Quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị 6
1.3.Chức năng, nội dung của QLNN về môi trường nước ở đô thị 6
2.Những công cụ quản lí môi trường nước ở đô thị 8
2.1.Công cụ kinh tế 8
2.2.Công cụ pháp lí 13
2.3.Công cụ kĩ thuật 17
2.4.Công cụ giáo dục và truyền thông 21
3.Tính tất yếu khách quan của QLNN về môi trường nước ở đô thị 23
ChươngII:Thực trạng môi trường nước ở đô thị & nguyên nhân
1.Thực trạng 26
1.1.Cấp nước 26
1.2.Úng ngập đô thị 28
1.3.Nước thải 30
2.Nguyên nhân 31
2.1.Nguyên nhân ô nhiễm từ nguồn nước thải 31
2.2.Nguyên nhân tình trạng úng ngập 34
ChươngIII: Giải pháp của nhà nước trong QLMT nước ở đô thị
1.Sử dụng các công cụ quản lí vào quản lí môi trường nước ở đô thị 36
1.1.Sử dụng công cụ pháp lí 36
1.2.Sử dụng công cụ kĩ thuật trong quản lí môi trường nước 36
1
nghiêm trọng: như nước thải không được xử lí từ các nhà máy, xí nghiệp, từ
các loại dịch vụ và các khu đô thị…vào các nguồn nước nhận. Đã có rất nhiều
ví dụ về sự ô nhiễm nước tại một số khu vực và thành phố lớn đặc biệt là các
khu đô thị và khu công nghiệp lớn như Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Hà Đông…
Sự phát triển các đô thị cùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gây áp
lực rất lớn đến môi trường đô thị, bên cạnh sự phát triển mạnh ngành công
nghiệp một mặt góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế nhưng lại gây ảnh
hưởng môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước. Ở Việt Nam
bảo vệ tài nguyên nước và tránh sự ô nhiễm ở các khu đô thị gây ảnh hưởng
đến sức khoẻ cộng đồng là vấn đề được nhà nước và xã hội quan tâm rất
nhiều. Tình trạng úng ngập đô thị sau mỗi trận mưa lớn và cung cấp nước
sạch, nước thải chưa qua xử lí đã thật sự là vấn đề nan giải cần giải quyết. Đã
có rất nhiều chính sách, biện pháp được áp dụng nhằm bảo vệ nguồn nước,
ngăn chặn hành vi gây ô nhiễm nguồn nước của nhà nước ta, song vì để giải
quyết vấn đề phức tạp này đòi hỏi phải có sự quản lí thật chặt chẽ của nhà
nước phối hợp với ý thức bảo vệ môi trường nước của toàn dân, nó đòi hỏi
một thời gian khá dài và nguồn lực rất lớn…nên hiện nay vấn đề về môi
trường nước vẫn còn tồn tại và nhiều bất cập.
Để góp phần nghiên cứu các giải pháp của nhà nước trong việc giải
quyết các vần đề về môi trường nước đô thị hiện nay tôi đã lựa chọn đề tài :
“Thực trạng và giải pháp của nhà nước trong việc giải quyết vấn đề môi
trường nước ở đô thị hiện nay’’.
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là:
Thứ nhất, tìm hiểu về vai trò của nhà nước trong quản lí môi trường
nước ở đô thị .
Thứ hai, các công cụ quản lí môi trường nước áp dụng vào quản lí môi
trường nước ở các khu đô thị.
Thứ ba, thực trạng môi trường nước các khu đô thị hiện nay và nguyên
nhân của tình trạng đó.
Mục tiêu quản lí môi trường là ba mục tiêu cơ bản sau :
Một là, phải khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường
nước phát sinh trong hoạt đống sống của con người.
Hai là, phát triển kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một
xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất và được tuyên bố Johannesburg,
Nam Phi về phát triển bền vững (9/2002) tái khẳng định.
1
Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh. Tr338
6
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Ba là, xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lí môi trường nước ở các
khu đô thị. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương
và cộng đồng dân cư.
2
1.2. Quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị
Quản lý nhà nước về môi trường nước ở đô thị là quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường xác định rõ chủ thể là nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ
và quyền hạn của mình đưa ra các bịên pháp, luật pháp, chính sách Kinh tế, kĩ
thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường nước và phát triển
bền vững kinh tế - xã hội đô thị.
Như vậy, chúng ta thấy rằng Quản lí nhà nước về môi trường nước xét
về bản chất khác với những hình thức quản lí khác như: Quản lí môi trường
nước do các tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm; Quản lí môi trường nước dựa
trên cơ sở cộng đồng; quản lí môi trường nước có tính chất tự nguyện… Hình
thức quản lí nhà nước về môi trường nước chủ yếu là điều hành và kiểm soát.
3
1.3.Chức năng, nội dung của quản lí nhà nước về môi trường nước
ở các khu dô thị
Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nước bao gồm những
nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ,
các hệ thống tiêu chuẩn về môi trường nước
Thứ hai: Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi
trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái, sự cố môi trường nước,
xây dựng,quản lý các công trình bảo vệ môi trường nước.
Thứ ba: Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thông quan trắc, định kì đánh giá
hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường nước
Thứ tư: Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nước của các
dự án và các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thứ năm: Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường nước
Thứ sáu: Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo
vệ môi trường, giải quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạm pháp luật liên
quan đến bảo vệ môi trường nước ở các khu đô thị.
4
Giáo trình quản lí môi trường bằng công cụ kinh tế - NXB Lao động- Trần Thanh Lâm. Tr 26
8
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Thứ bảy: Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường nước, giáo
dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về môi trường nước.
Thứ tám: Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cấp nước và thoát nước.
2. Những công cụ quản lí môi trường nước ở đô thị
Công cụ quản lí môi trường nước là các phương thức hay biện pháp
hành động thực hiện công tác quản lí môi trường nước của Nhà nước, các tổ
chức khoa học và sản xuất. Công cụ quản lí môi trường nước rất đa dạng, mỗi
công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ
2.1.1.Phí xả thải nước :
Phí xả nước thải là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp một phần chi
phí thường xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức
quản lí hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp thuế.
Ở Trung Quốc, theo quy định của nhà nước, tất cả các xí nghiệp hoặc
bất kì cơ sở nào xả chất ô nhiễm vào môi trường nước đều phải trả phí thải
nước. Phí này là phí mua quyền sử dụng môi trường tiếp nhận các chất ô
nhiễm xả thải. Phí xả thải nước được xác định trên số lượng, nồng độ và tính
chất của các chất ô nhiễm trong nước thải. Đối với trường hợp các chất thải
của nguồn thải vượt qúa tiêu chuẩn môi trường cho phép thì các cơ sở sản
xuất còn phải trả thêm các phí nước thải bổ sung, đồng thời phaỉ có trách
nhiệm trong một thời hạn nhất định phải áp dụng biện pháp kiểm tra và xử lí ô
nhiễm cho đạt tiêu chuẩn môi trường. Tiền thu phí này được tách một phần
nhỏ để chi phí cho công tác quản lí môi trường, số còn lại sẽ nộp vào qũy môi
trường, dùng để hỗ trợ, cho vay nhẹ lãi và khuyến khích các cơ sở đầu tư vào
thiết bị xử lí ô nhiễm môi trường.
Các phí người sử dụng :
Lệ phí sử dụng nguồn nước là khoản thu bắt buộc đối với cá nhân, tổ
chức ở các khu đô thị được hưởng một lợi ích hoặc được sử dụng một dịch vụ
nào đó do nhà nước cung cấp.
Đối với các nguồn xả thải nước gây ô nhiễm môi trường từ các hộ gia
đình và các cơ sở sản xuất nhỏ thì rất khó xác định lượng xả thải chất ô nhiễm
của các hộ, các cống nước thải của mỗi hộ. Chúng ta nên học tập cách tính phí
của Thuỵ Điển: loại phí này được chia làm hai phần: Phần phí cố định, tính
đồng đều cho các hộ và phần phí thay đổi, liên quan đến mức tiêu dùng nước
của mỗi hộ. Loại phí này còn có tác dụng khuyến khích các hộ gia đình, cũng
10
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
: 6.280.688
cota gây ô nhiễm và chính htức công nhận quyền được xả một lượng nước
gây ô nhiễm nhất định vào môi trường nước chung trong một giai đoạn xác
định cho các nguồn thải.
2.1.3.Hệ thống đặt cọc hoàn trả:
Đặt cọc - hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường
nước ở đô thị bằng cách quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có
khả năng gây ô nhiễm môi trường nước phải trả thêm một khoản tiền (đặt
cọc) khi mua hàng, nhằm đảm bảo cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản
phẩm đó ( hoặc phần còn lại của sản phẩm đó ) trả lại cho các đơn vị thu gom
rác thải hoặc tới những địa điểm quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu
huỷ theo cách an toàn đối với môi trường. Nếu thực hiện đúng, người tiêu
dùng sẽ nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại.
2.1.4.Kí quỹ môi trường
Kí quỹ môi trường nước là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động
kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường nước ở đô thị.
Nguyên lí hoạt động của hệ thống kí quỹ môi trường nước cũng tương tự như
hệ thống đặt cọc hoàn trả. Nội dung chính của kí quỹ môi trường nước là yêu
cầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một
hoạt động đầu tư phải kí gửi một khoản tiền tại ngân hàng hay tổ chức tín
dụng, nhằm đảm bảo sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô
nhiễm, suy thoái môi trường nước. Mục đích chính của việc kí quỹ là làm cho
người có khả năng gây ô nhiễm luôn nhận thức được trách nhiệm của họ, từ
đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm.
2.1.5.Quỹ môi trường nước:
Quỹ môi trường nước ở đô thị là một thể chế hoặc một cơ chế tài chính
được thiết kế để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối
các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện dự án hoặc các hoạt động cải
thiện môi trường nước
Trợ cấp môi trường nước là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng rất
nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển .Trợ cấp
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
môi trường có thể dưới dạng sau: Trợ cấp không hoàn lại, các khoản cho vay
ưu đãi, cho phép khấu hao nhanh, ưu đãi thuế ( miễn, giảm…)
Chức năng chính của trợ cấp môi trường nước ở đô thị là giúp đỡ các
ngành công nghiệp ở đô thị khắc phục ô nhiễm môi trường nước trong điều
kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường nước quá nặng nề hoặc khả năng tài
chính của doanh nghiệp không chịu đựng được. Trợ cấp còn khuyến khích các
cơ quan nghiên cứu và triển khai là các công nghệ sản xuất có lợi cho môi
trường nước hoặc các công nghệ xử lí ô nhiễm. Tuy nhiên, trợ cấp môi trường
nước chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài sẽ
dẫn đến phi hiệu quả kinh tế, vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc người gây ô
nhiễm phải trả tiền, vì thế cần có một chương trình có hoạch định và kiểm
soát rõ ràng, thường xuyên.
Ở nhiều nước trên thế giới đã dành các khoản trợ cấp, các khoản vay lãi
suất thấp hoặc giảm nhẹ thuế để khuyến khích các cơ sở sản xuất đầu tư kĩ
thuật để ngăn chặn hoặc giảm nhẹ ô nhiễm môi trường nước. Thí dụ như ở
Philippin, theo Luật môi trường, giảm 50% thuế đối với các thiết bị kiểm soát
ô nhiễm nhập khẩu, luật này cũng quy định miễn thuế cho tất cả thiết bị xử lí
ô nhiễm môi trường được sản xuất trong nước. Ở nước ta hiện nay cũng đã có
quy định miễn thuế nhập khẩu, áp dụng những hình thức trợ cấp hoặc cho
vay với lãi suất rất thấp đối với các cơ sở sản xuất đầu tư cải tiến, đổi mới
công nghệ để giảm lượng thải chất ô nhiễm, hoặc đối với nhà máy gây ô
nhiễm trầm trọng phải di chuyển địa điểm từ nội thành ra các khu công
nghiệp ở ngoại thành
2.2.Công cụ pháp lý
Thông thường, hệ thống luật của mỗi quốc gia bao gồm hai bộ phận
chính là luật chung ( Luật Bảo vệ môi trường nước ở đô thị ) và luật về các
thành phần của môi trường nước ở đô thị .
Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hoá hoặc hướng dẫn
thực hiện các nội dung của luật liên quan đến môi trường nước ở đô thị.
Chế định là các quy định về chế độ, thể chế tổ chức quản lí bảo vệ môi
trường nước ở đô thị. Chẳng hạn quy định chức năng nhiệm vụ và quyền hạn
của các cơ quan Bộ, Sở tài nguyên và môi trường .
15
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Hệ thống văn bản pháp luật về quản lí nhà nước về môi trường nước ở
đô thị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong bảo vệ môi trường nước ở đô
thị và phát triển tài nguyên. Đây là công cụ hay biện pháp mang tính pháp lí
do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động phát triển của cá nhân,
doanh nghiệp, cộng đồng, các ngành ,các cấp, các địa phương sao cho phù
hợp với mục đích bảo vệ môi trường nước ở đô thị, đảm bảo cân bằng sinh
thái, thông qua hàng loạt các văn bản pháp quy đối với việc sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, tức là thực thi các biện pháp bắt buộc hoặc cưỡng chế đối với
người gây ô nhiễm phải huỷ bỏ hay hạn chế bớt một số hoạt động gây tổn thất
cho môi trường nước ở đô thị.
Một trong những công cụ pháp lí quan trọng trong quản lí môi trường
nước mặt là xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy định về bảo vệ môi
trường nước.
Ở Mỹ và một số nước phát triển từ lâu đã thực hiện quy định : tất cả các
cơ sở sản xuất công nghiệp cần phải có giấy phép xả thải vào hệ thống thoát
nước chung của đô thị hoặc đổ thải vào nguồn nước mặt. Các giấy phép xả
thải được cấp cho từng thời kì 5 năm và sau đó phải xin gia hạn hoặc cấp giấy
phép mới mới được tiếp tục xả thải. Những cơ sở sản xuất xả nước thải thực
Đây vừa là nhiệm vụ quan trọng vừa là công cụ trong quản lí nhà nước
về môi trường nước ở đô thị. Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã đề ra chính sách
bảo vệ môi trường nước ở đô thị gắn liền với chính sách phát triển kinh tế - xã
hội, trên cơ sở đó, Chính phủ đã xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường nước
quốc gia theo từng giai đoạn phát triển của đất nước. Trên cơ sở chiến lược
bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lí nhà nước về tài nguyên và môi trường
nước ở đô thị tiến hành nhiệm vụ cụ thể sau đây:
2.2.4.Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường nước ở đô thị
Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hoá bảo vệ môi trường nước ở đô
thị bằng pháp luật và các văn bản pháp lý, để huy động cộng đồng tham gia
vào các hoạt động quản lí môi trường các cấp, vào việc ra quyết định của các
17
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
cơ quan nhà nước bằng các phong trào quần chúng như phong trào tự quản vệ
sinh - môi trường, phân loại phế thải tại nguồn, làng sinh thái, làng văn hoá,
thông tin môi trường nước ở đô thị cho cộng đồng…theo hướng thân thiện
với môi trường nước ở đô thị. Đầu tư bảo vệ môi trường nước ở đô thị phải
được đa dạng hoá về hình thức và nguồn vốn nhằm huy động được mọi
nguồn lực trong xã hội. Hình thức đầu tư bao gồm đầu tư bằng trí lực, vật lực,
ngày công lao động hữu ích và bằng tiền. Đây là công cụ được nghiên cứu áp
dụng rộng rãi do được đánh giá là có hiệu quả vì nó huy động nhiều nguồn
lực cho quản lí và bảo vệ môi trường nước ở đô thị.
2.3.Công cụ kĩ thuật quản lí môi trường nước ở đô thị
Các công cụ kỹ thuật quản lí môi trường nước ở đô thị thực hiện vai trò
kiểm soát và giám sát Nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường
nước ở đô thị, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường
nước ở đô thị .
Công cụ kĩ thuật có thể bao gồm các đánh giá môi trường nước ở đô thị,
động, sử dụng tài nguyên môi trường nước hợp lí, phù hợp với quá trình xây
dựng đất nước, cũng như tư vấn trong việc giao trọng trách khai thác đúng đối
tượng.
Các Bộ kinh tế như Bộ công nghiệp, xây dựng …được nhà nước giao
trách nhiệm quản lí các doanh nhân, các học giả được phép hay thuê mướn
các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên nước phải tuân thủ
pháp luật, các điều khoản hợp đồng mà họ đã cam kết với nhà nước.
Ở mỗi địa phương, các khu đô thị lớn đều có cơ quan quản lí tương ứng
làm chức năng quản lí nhà nước về môi trường
Lực lượng bảo vệ môi trường nước, trực tiếp làm sạch môi trường nước
rộng khắp và quan trọng là nhân dân, đựơc chính quyền cơ sở tổ chức, chỉ
đạo. Đồng thời, trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức
19
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
công dân đều có lực lượng làm nhiệm vụ vệ sinh môi trường nước công sở, cơ
quan.
Thứ ba, nghiên cứu và triển khai khoa học kĩ thuật:
Trước tiên là phát triển hệ thống thoát nước và hệ thống xử lí nước thải
đô thị và công nghiệp đầy đủ và phù hợp:
Tách hệ thống thoát nước mưa và hệ thống thoát nước bẩn thành hai hệ
thống riêng. Xây dựng các trạm xử lí nước thải sinh hoạt đô thị tập trung cho
từng khu vực. Tất cả các nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, khách sạn, các cơ sở
dịch vụ có lượng nước thải lớn đều phải có trạm xử lí nước thỉ đảm bảo tiêu
chuẩn môi trường mới được thải ra hệ thống thoát nước chung.
Trong phát triển đô thị phải dành đất để xây dựng các trạm xử lí nước đô
thị tập trung. Luôn luôn quan tâm bảo vệ an toàn hệ thống thoát nước đô thị,
vì trong quá trình phát triển đô thị, hệ thống thoát nước đô thị bị lấn chiếm và
hư hỏng, như san lấp hai bên bờ để mở rộng đất ở, mở rộng đường, sân bãi
Biểu thuế xử lí theo thang đối chiếu thuế dựa vào cường độ liên quan
của chất thải được đưa vào hệ thống thải thành phố - là cách tiếp cận khuyến
khích tiền xử lí.
Hạn chế sử dụng các hoá chất gây ô nhiễm môi trường trong quá trình
sản xuất công nghiệp và sinh hoạt đô thị
Thứ sáu, thanh tra và giám sát môi trường nước :
Việc thanh tra, giám sát phải diễn ra thường xuyên và trung thực. Đoàn
thanh tra có quyền:
Yêu cầu các tổ chức, các nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả lời
những vấn đề cần thiết
Tiến hành các biện pháp kiểm tra kĩ thuật thực tế tại các doanh nghiệp
và nguồn nước thải bệnh viện…
Quyết định tạm đình chỉ các cơ sở sản xuất và trường hợp làm ô nhiễm
môi trường nước quá lớn
Xử lí theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xử lí các vi phạm về môi trường nước.
21
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
2. 4.Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường nước ở đô thị
9
Giáo dục môi trường nước ở đô thị là một quá trình thông qua các hoạt
động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được
sự hiểu biết, kĩ năng và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển
một xã hội bền vững về sinh thái.
Mục đích của giáo dục môi trường nước ở đô thị là nhằm vận dụng
những kiến thức và kĩ năng vào giữ gìn, bảo tồn và sử dụng môi trường nước
ở đô thị theo cách bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Giáo dục môi
trường nước ở đô thị cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công
thường xuyên trong xã hội.
Truyền thông về môi trường nước ở đô thị có thể thực hiện thông qua
các phương thức chủ yếu sau:
Chuyển thông tin tới từng cá nhân qua việc tiếp xúc tại nhà, tại cơ quan,
gọi điện thoại, gửi thư.
Chuyển thông tin tới các nhóm thông qua hội thảo tập trung, huấn luyện,
họp nhóm, tham quan khảo sát.
Chuyển thông tin tới các phương tiện truyền thông đại chúng : báo chí,
ti vi, radio, pano, áp phích, tờ rơi, phim ảnh…
Thực hiện giáo dục về môi trường nước ở đô thị để vấn đề bảo vệ môi
trường nước trở thành trách nhiệm của tất cả mọi người. Có những biện pháp
khuyến khích những cá nhân, tập thể, doanh nghiệp…có những việc làm tốt,
có sáng kiến trong giữ gìn bảo vệ môi trường nước ở đô thị bằng việc tuyên
dương, khen thưởng hoặc tổ chức thăm quan, học tập và nhân rộng các mô
hình tiên tiến về quản lí và bảo vệ môi trường nước
Phát triển đào tạo đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực quản lí môi trường
nước ở đô thị thông qua đào tạo chuyên nghiệp về các vấn đề môi trường cấp
bách: đội ngũ kiểm tra tiêu chuẩn nguồn nước, chuyên gia tư vấn xử lí nước
thải, kĩ sư thiết kế công trình xử lí nước thải, cán bộ kiểm tra có phẩm chất và
kĩ năng…
23
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Tăng cường cảnh báo về vấn đề nguy hại của môi trường nước, kêu gọi
toàn dân tham gia các chương trình hành động như: chương trình thi viết về
các giải pháp bảo vệ môi trường nước ở đô thị…
3.Tính tất yếu khách quan của quản lí nhà nước về môi trường
nước ở đô thị
10
ứng được xem là các hàng hoá không có chủ sở hữu xác định.
Thứ năm, do chất lượng môi trường nước là hàng hoá công cộng nên
một số người có thể tiêu dùng mà không ảnh hưởng đến số lượng vốn có của
chúng đối với những người khác và không thể loại trừ ai ra khỏi việc tiêu
dùng chúng, trừ khi họ phải trả giá rất cao.
Khi tồn tại ngoại ứng và hàng hoá công cộng, giá cả của sản phẩm
không phản ánh đúng giá trị xã hội của nó. Vì thế các doanh nghiệp có thể sản
xuất quá nhiều hoặc quá ít, do đó kết quả của thị trường là không hiệu quả và
tác động xấu đến tài nguyên nước và môi trường nước ở đô thị (sử dụng lãng
phí tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường nước ở đô thị ). Vì vậy nhà nước phải
điều chỉnh và quản lí ngoại ứng hoặc đảm nhiệm sản xuất và cung ứng toàn
bộ hay một phần hàng hoá công cộng, nên cũng phải điều chỉnh và quản lí
loại hàng hoá này.
Thứ sáu, xem xét về sở hữu tài nguyên và thành phần môi trường, chúng
ta đều thừa nhận các tài nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường nước ở
đô thị thuộc sở hữu nhà nước, như vậy nhà nước không thể giao cho đối
tượng nào khác để chịu trách nhiệm chính về quản lí môi trường nước ở đô
thị, trách nhiệm đó phải thuộc về nhà nước…
Ở nước ta, nguồn nước mặt và nước ngầm đang càng ngày bị ô nhiễm và
cạn kiệt, nhiều đô thị và khu công nghiệp bị ô nhiễm do nguồn nước thải, chất
thải…Việc gia tăng dân số, việc di dân tự do diễn ra ồ ạt và không kiểm soát
được, không kiểm soát được, việc khai thác có tính chất huỷ diệt các nguồn
lợi sinh vật trên cạn và dưới nước. Do sản xuất công nghiệp vẫn còn nằm
trong tình trạng phân bố tuỳ tiện, không tính toán hướng, vị trí, xả thải bừa
bãi, không xử lí đúng mức, còn sử dụng nhiều chất hoá học độc hại ảnh
hưởng đến nguồn nước…Mặt khác, do đòi hỏi của cộng đồng quốc tế đối với
25
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688