Quan điểm, chính sách của đảng, nhà nước về đô thị hoá và tái định cư - Pdf 33

Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước
về đô thị hoá và tái định cư
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1. Mức sống
1.1.1.1. Khái niệm mức sống
Mức sống là một khái niệm được dùng khá phổ biến trong các nghiên
cứu để đánh giá mức độ đạt được về các điều kiện sống của dân cư. Tuy
nhiên, mức sống là một phạm trù kinh tế - xã hội rất rộng nên cũng có nhiều
quan niệm khác nhau.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì mức sống là “mức đạt được trong chi
dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần” [40 tr.1157]. Như vậy với
quan niệm này thì mức sống được hiểu là mức độ đạt được về các điều kiện
vật chất và tinh thần của dân cư.
Theo Mác thì “Mức sống dân cư không phải chỉ là sự thoả mãn nhu
cầu của đời sống vật chất mà còn là sự thoả mãn nhu cầu nhất định, những
nhu cầu được sản sinh bởi chính những điều kiện xã hội mà trong đó con
người đang sống và trưởng thành” [23]. Nghĩa là ngoài đòi hỏi về những
điều kiện vật chất, con người ta còn hướng tới những nhu cầu xã hội. Những
nhu cầu xã hội được sản sinh từ chính những điều kiện xã hội nên đương
nhiên nó luôn thay đổi theo sự phát triển của những điều kiện xã hội. Điều
đó cũng chứng tỏ rằng mức sống không phải là phạm trù nhất thành bất biến
mà luôn biến đổi theo thời gian và không gian nhất định.
Trên những quan điểm chung đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa
ra khái niệm mức sống vừa khái quát vừa cụ thể như sau:
Mức sống là phạm trù kinh tế - xã hội đặc trưng mức thoả
mãn nhu cầu về thể chất, tinh thần và xã hội của con người. Được


thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu số lượng và chất lượng của
điều kiện sinh hoạt và lao động của con người. Một mặt, mức sống

mức sống thường biến đổi cùng với sự biến đổi của điều kiện sống, đặc biệt
là trình độ phát triển sản xuất trong mỗi thời kỳ. Thời bao cấp, chiến tranh,
mức sống trung bình chỉ là có đủ những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu nhất để
duy trì sự sống như ăn: 13kg lương thực/tháng, mặc: 4m 2 vải một
người/năm. Song hiện nay, nức sống trung bình phải đủ ăn, đủ mặc, có nhà
ở, có phương tiện đi lại và phương tiện gia dụng bằng mức sống khá giả
trước kia. Như vậy nghiên cứu về mức sống phải nghiên cứu trong tính lịch
sử và cụ thể của nó.
Không chỉ làm rõ khái niệm "mức sống", luận văn còn phải làm rõ
khái niệm "biến đổi mức sống" (BĐMS). Song để có cơ sở nhận thức rõ hơn
về khái niệm BĐMS phải bắt đầu từ khái niệm biến đổi. Biến đổi là gì? Biến
đổi như thế nào? Theo Từ điển tiếng Việt “Biến đổi là sự thay đổi so với cái
trước đó” [37, tr.89]. Sự thay đổi đó có thể tăng hoặc giảm, từ dạng này sang
dạng khác, từ hình thái này sang hình thái khác.
Vậy biến đổi mức sống là sự thay đổi mức độ thoả mãn các nhu cầu
về thể chất, tinh thần và xã hội của người dân. Vì biến đổi mức sống là một
quá trình kinh tế - xã hội nên để xác định nó, mỗi phép đo đều cần ít nhất hai
thời điểm khác nhau. Điểm mốc mà tác giả lựa chọn để so sánh, làm sáng tỏ
sự biến đổi mức sống của người dân là sau khi đối tượng được giải toả, di
dời và sinh sống ở khu TĐC so với mức sống thời gian trước di dời. Khoảng
thời gian sau TĐC được lựa chọn để nghiên cứu ít nhất là từ hơn 6 tháng trở
lên. Những hộ gia đình mới chuyển vào khu TĐC với thời gian dưới 6 tháng
chưa đủ thời gian cần thiết để đánh giá về những biến đổi mức sống của họ.


Đối với Thành phố Đà Nẵng, năm 1997 là một mốc khá trọng đại vì được
tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng để trở thành thành phố trực thuộc
trung ương. Đây cũng là thời điểm mà thành phố triển khai mạnh mẽ các
chương trình, dự án quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị.
Vì vậy, nhóm dân cư thuộc diện TĐC trong khoảng thời gian từ năm 1997

300.000đ

-

600.000đ/đầu

người/tháng
- Nhóm hộ trung bình
người/tháng
- Nhóm hộ khá giả

:Từ trên 600.000đ-1.200.000đ/đầu người/tháng

- Nhóm hộ giàu

:Từ

trên

1.2000.000đ

trở

lên/đầu

người/tháng
Sự phân chia này được dựa trên định mức chuẩn nghèo ở khu vực đô
thị của Tổng cục thống kê.
Thu nhập là chỉ tiêu rất quan trọng để đo lường mức sống, song nếu
căn cứ thuần tuý vào mức thu nhập bình quân đầu người/tháng thì sự nhận

bản chất được điều chỉnh bởi những thiết chế có những giá trị chung và ít
nhiều biệt lập với các tập hợp người khác” [15, tr.264].


Như vậy không phải bất cứ một tập hợp người nào cũng là một nhóm.
Theo quan niệm xã hội học thì nhóm phải là một tập hợp người mà đặc
trưng quan trọng nhất là họ cơ bản có chung hệ thống giá trị và chuẩn mực
xã hội, nhờ đó họ có khuôn mẫu hành vi cơ bản giống nhau. Khoa học xã
hội học đã dựa trên những tiêu chí này mà xem xét sự khác biệt giữa nhóm
công nhân với nông dân, nông dân với trí thức hoặc nhóm phân chia theo
các tiêu chí khác nhau như nghề nghiêp, tuổi tác, vùng sinh sống, giới, dân
tộc,…
Nhóm là một khái niệm rất rộng và phức tạp. Theo số lượng các thành
viên và điều kiện tác động lẫn nhau trong nhóm, các nhóm xã hội được chia
làm nhóm nhỏ và nhóm lớn.
Nhóm lớn là nhóm mà các thành viên liên kết nhau bởi điều kiện
khách quan chung, xác định sự tồn tại của họ một cách vững chắc như giai
cấp, tầng lớp, dân tộc, đảng phái chính trị, nghề nghiệp ...
Nhóm nhỏ là nhóm người tồn tại trong khoảng không gian và thời
gian xác định, được liên kết bởi các quan hệ thực tế của các thành viên của
nhóm, thực hiện trên cơ sở giao tiếp như các đội sản xuất, lớp học, gia đình,
nhóm bạn bè.
Dựa vào tính chất, mức độ tổ chức có nhóm chính thức và nhóm
không chính thức... Nhóm chính thức là tập hợp người có mối liên hệ được
quy chuẩn hoá thông qua những thiết chế xã hội xác định. Còn nhóm không
chính thức là những nhóm hình thành tự phát trong đó các quan hệ của các
thành viên nhóm không được thiết chế hoá. Hiện nay, trong nhiều ngành
khoa học xã hội, thuật ngữ nhóm được dùng với hai nghĩa: nhóm quy ước và
nhóm thực.
Nhóm quy ước là những nhóm do người ta lập ra theo những dấu hiệu



Khái niệm giải toả được đề cập đến trong nghiên cứu này chính là nói
đến việc phá, dỡ những kết cấu cũ đang trở thành những chướng ngại để giải
phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho việc triển khai các dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội nào đó.
1.1.3.2. Đền bù
“Đền bù: Trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao” [40, tr.623]; hay
Đền bù: “Trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc sự vất vả” [37, tr.300].
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, đền bù là việc thay thế các tài sản bị
mất bằng hiện vật hoặc bằng tiền.
Với hàm nghĩa nói trên, khái niệm đền bù (hay bồi thường) thường
được sử dụng trong các văn bản luật để quy định trách nhiệm bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích an ninh, quốc phòng hay
phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Ở Đà Nẵng, trong những năm qua, chính quyền thành phố đã thường
xuyên tiến hành đền bù, giải phóng mặt bằng nhằm thực hiện các dự án quy
hoạch phát triển đô thị. Phương thức đền bù được thành phố Đà Nẵng vận
dụng trong việc giải phóng mặt bằng là hoàn trả bằng tiền khi người dân bị
mất đất và bị hư hại các tài sản khác. Người dân trong diện giải toả được đền
bù bằng tiền và được quyền ưu tiên mua lại đất theo khung giá mà thành phố
quy định cho các khu quy hoạch (tức là các khu dành cho TĐC).
1.1.3.3. Tái định cư
- Theo nghĩa rộng, “Tái định cư là một quá trình bao gồm đền bù các
thiệt hại về đất đai và tài sản di chuyển, TĐC, ổn định và khôi phục cuộc sống
cho những người bị thu hồi đất để xây dựng các dự án. Tái định cư còn bao
gồm các hoạt động nhằm hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng do việc thực
hiện các dự án gây ra, khôi phục và cải thiện mức sống, tạo điều kiện phát triển



sự khác biệt về phương diện xã hội của thời điểm hiện tại so với thời điểm
trước đó của một hệ thống xã hội, trọng tâm là sự biến đổi của cơ cấu xã hội.
Sự khác biệt về phương diện xã hội được nói tới ở đây là sự thay đổi
của các dạng hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các hệ
thống phân tầng xã hội. Không phải mọi sự thay đổi nào đó diễn ra trong xã
hội đều được coi là BĐXH, mà chỉ có những thay đổi có ảnh hưởng sâu sắc
tới đa số cá nhân trong xã hội, sự thay đổi các cơ cấu, tổ chức, các tầng lớp
xã hội... mới được coi là sự BĐXH.
Sự BĐXH rất phức tạp và có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và mức
độ khác nhau: có biến đổi phát triển tức là diễn ra theo chiều hướng tích cực,
tiến bộ, phù hợp với mong muốn của xã hội. Có biến đổi suy thoái, diễn ra
theo chiều hướng xấu, xã hội lâm vào bế tắc với những xung đột, đổ vỡ, thay
đổi xã hội [39, tr.255-256].
Theo một số nhà nghiên cứu thì sự BĐXH là tổ hợp của rất nhiều
nguyên nhân chứ không phụ thuộc duy nhất vào một yếu tố đơn lẻ. Sự tương
tác phức tạp của nhiều yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài đã
tạo nên sự biến đổi. Các nhà lý thuyết hiện đại chú trọng các yếu tố: môi
trường vật chất (biến động của thiên nhiên), công nghệ, sức ép dân số, giao
lưu văn hoá... để lý giải những BĐXH.
Quan niệm biến đổi tổng hợp còn khẳng định sự biến đổi có thể đi lên,
có thể là đi xuống, thậm chí bị huỷ diệt. Sự biến đổi cũng thường mang tính
chu kỳ. Trên thực tế, mỗi lý thuyết đều có quan điểm luận giải khác nhau về
sự biến đổi xã hội mà trong đó mỗi lý thuyết đều có hạt nhân hợp lý về nhận
thức cũng như dự báo quá trình biến đổi xã hội. Để nhận thức một cách đầy
đủ quá trình biến đổi xã hội nói chung và biến đổi mức sống của người dân
sau TĐC nói riêng không thể không chú ý tới các yếu tố hợp lý này. Luận


văn sẽ cố gắng tích hợp các yếu tố hợp lý nói trên để có cái nhìn đa diện, đa
chiều về những yếu tố tác động đến mức sống và dự báo xu hướng biến đổi

trường sống dân cư là hoạt động mang tính tất yếu của sự phát triển xã hội.
Xem xét sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC ở Đà Nẵng phải
được đặt trong quá trình vận động, phát triển chung đó mới nhận thức được
bản chất vấn đề.
Ở đây, biến đổi mức sống, một mặt phải xem xét đầy đủ các yếu tố tạo
thành về cả vật chất lẫn tinh thần và mặt khác là các chiều hướng biến đổi
thuận và nghịch của quá trình này. Trên cơ sở đó mà đánh giá tổng hợp sự
biến đổi.
1.2.2. Lý thuyết xung đột
Luận điểm gốc của thuyết xung đột cho rằng, do có sự khan hiếm các
nguồn lực (đất đai, nguyên vật liệu, tiền tài, địa vị ...) và do sự phân công lao
động và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực, quyền lực nên quan hệ
giữa các cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn,
cạnh tranh với nhau vì lợi ích [17, tr. 232]. Theo quan niệm của Mác và
Ăngghen thì “toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người từ ngày đầu của
thời đại văn minh cho đến tận ngày nay diễn ra trong một mối mâu thuẫn
thường xuyên giữa giai cấp bóc lột, áp bức với giai cấp bị bóc lột, bị áp bức”
[16, tr.232]. Nghĩa là, chính mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp là
nguồn gốc và động lực của sự biến đổi, phát triển lịch sử xã hội loài người.
Các lý thuyết xung đột đã giải thích BĐXH như là hệ quả của cuộc
đấu tranh giành ưu thế giữa các giai cấp, các nhóm xã hội khác nhau trong


những xã hội có phân chia giai cấp. Đặc biệt lý thuyết macxit về BĐXH
mang tính tích cực hơn khi nhấn mạnh khả năng của con người có thể ảnh
hưởng tới số phận riêng của họ thông qua các hoạt động chính trị - xã hội.
Nhất là khi cách mạng khoa học và công nghệ thông tin phát triển ở trình độ
cao đã làm cho vai trò, động lực của con người càng trở nên quan trọng hơn
bao giờ hết.
Quan điểm xung đột rõ ràng cho ta một cách nhìn sâu sắc, khi xem xét

thuần nhất; Hệ thống điều khiển với hệ thống bị điều khiển. Còn trong chức
năng có những phạm trù thể hiện hành vi, hành động, hoạt động nhằm duy
trì hệ thống; trong quan hệ có quan hệ vĩ mô khác quan hệ vi mô, quan hệ
bên trong (nội tại) khác với quan hệ bên ngoài...
Lý thuyết hệ thống trong xã hội học gắn liền với tên tuổi Talcott
Parsons - nhà xã hội học người Mỹ.
Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một trục toạ độ 3
chiều: cấu trúc - chức năng - kiểm soát. Tức là hệ thống nào cũng có cấu trúc
của nó, hệ thống luôn nằm trong trạng thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi
với môi trường xung quanh, hệ thống có khả năng điều khiển và tự điều
khiển [17, tr.204].
Parsons đã đưa ra sơ đồ nổi tiếng về hệ thống chức năng xã hội, viết
tắt là AGIL. Trong đó gồm bốn loại yêu cầu chức năng hợp thành: (A) thích
ứng với môi trường; (G) Hướng đích - huy động các nguồn lực để đạt mục
tiêu; (I) Liên kết, phối hợp các hoạt động; (L) Duy trì khuôn mẫu để tạo ra
sự ổn định , trật tự.


Tương ứng với sơ đồ trên, trong hệ thống xã hội, người ta có tiểu hệ
thống kinh tế; tiểu hệ thống chính trị; tiểu hệ thống pháp luật và tiểu hệ
thống các giá trị, chuẩn mực xã hội được quy chuẩn thông qua các thiết chế
gia đình, nhà trường, tổ chức văn hoá, tôn giáo [17, tr.204].
Tương quan và tương tác AGIL sẽ đảm bảo trật tự, ổn định của hệ
thống xã hội.
Với những đặc trưng, tính chất nói trên, chúng ta có thể vận dụng
thuyết hệ thống vào nghiên cứu sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau
TĐC.
Trước hết coi mức sống như là tổng hợp của nhiều yếu tố thống nhất.
Tính chỉnh thể của mức sống thể hiện qua các yếu tố cấu thành như mức
sống vật chất và mức sống tinh thần. Trong đó mức sống vật chất thể hiện ở

mới trong quá trình thực hiện chủ trương di dời, giải toả nhằm chỉnh trang
đô thị ở Đà Nẵng.
Có nhiều cách phân loại các hình thức di dân khác nhau. Theo độ dài
thời gian cư trú, có các hình thức di dân lâu dài, tạm thời và chuyển tiếp.
Theo khoảng cách người ta phân biệt di dân xa hay gần, giữa nơi đi và
nơi đến. Trên bình diện chung có thể chia thành di dân quốc tế và di dân nội
địa. Ở hình thức di dân nội địa, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu có thể
chia ra di dân nội vùng và di dân ngoại vùng.
Theo tính pháp lý, người ta phân biệt di dân hợp pháp hay không hợp
pháp; di dân tự do hay có tổ chức; di dân tình nguyện hay bắt buộc. Tuỳ vào
mức độ can thiệp của chính quyền mà người ta phân chia di dân theo loại
này hay loại khác.


Di dời giải toả và TĐC đang là chủ trương lớn của thành phố Đà Nẵng
nhằm thực hiện quy hoạch, chỉnh trang đô thị (CTĐT). Đây cũng là xu
hướng tất yếu của quá trình đô thị hoá theo chiều sâu nhằm hướng tới một xã
hội văn minh hiện đại.
Quá trình di dời giải toả, tái lập nơi cư trú mới ở các khu TĐC của
một bộ phận dân cư ở Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay là hình thức di dân lâu
dài, thuộc diện di dân nội vùng có tổ chức, có kế hoạch. Người dân di chuyển
nơi ở trong phạm vi thành phố, theo kế hoạch giải toả di dời mà thành phố đã
định sẵn.
Di dân vốn mang bản chất kinh tế - xã hội sâu sắc, vì vậy để quá trình
di dân và TĐC đạt hiệu quả mong muốn thì vấn đề đặt ra là phải chú trọng
đến các mục tiêu kinh tế và xã hội. Do đó, động cơ di dân đến các khu tái
định được luận văn đặc biệt quan tâm xem xét.
Về các nguyên nhân di dân chủ yếu, trên cơ sở quan sát các hiện tượng
di dân trên thế giới, nhiều lý thuyết di dân đã được khái quát, trong đó phải kể
đến lý thuyết “lực hút - lực đẩy” do Ravenstein (1889) là người đầu tiên đưa ra.

Nẵng nói riêng và cả nước nói chung trong những năm tới.
1.3. QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ
HOÁ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

1.3.1. Quan điểm về đô thị hoá
Đô thị hoá là quá trình mở rộng đô thị, biến nông thôn thành thành thị
tạo môi trường sống theo hướng văn minh, hiện đại nhằm thoả mãn ngày
càng tốt hơn nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội. Do vậy, đô thị hoá
vừa là xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử xã hội, vừa là thước đo trình
độ phát triển của mỗi quốc gia, mỗi địa phương.


Lịch sử hàng ngàn năm của nhân loại đã chứng minh rằng các đô thị
thường đóng vai trò là các trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá
và xã hội, là động lực của sự tiến bộ xã hội. Các đô thị luôn giữ vai trò là
đầu tàu dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi theo mình trên con đường tiến
bộ và văn minh. Theo dự báo của Liên hợp quốc, đến năm 2007, trên trái đất
chúng ta sẽ có tỷ lệ dân số sống ở các đô thị vượt quá con số 50%, tức là
phần lớn nhân loại đang và sẽ sống trong môi trường đô thị.
Nhận thức sâu sắc quy luật vận động phát triển của lịch sử, đồng thời
thấy được vai trò đầu tàu của đô thị trong việc phát triển kinh tế - xã hội,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm coi trọng đến chiến lược đô thị hoá và
lấy quan điểm phát triển bền vững với mục tiêu vì con người, lấy con người
làm trung tâm, xác định “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển” làm trọng.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: “Sớm quy
hoạch mạng lưới đô thị lớn, vừa và nhỏ trong toàn quốc phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển đô thị đi đôi với việc xây dựng đồng bộ và
quản lý các công trình công cộng (điện, cấp thoát nước, cây xanh...) [7, tr.214].
Nghĩa là không thể để quá trình đô thị hoá diễn ra một cách tự phát, xen lẫn

bao gồm việc công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tư
nhân về tài sản và sản xuất.
Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 là những
văn kiện quan trọng làm cơ sở cho việc thực hiện đền bù và TĐC cho những
người bị mất nơi ở một cách không tự nguyện.


Các Luật Đất đai nói trên đã xác định: đất đai thuộc quyền sở hữu
toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Các tổ chức và cá nhân không thể
sở hữu đất đai nhưng lại được giao quyền sử dụng đất và điều này lại tạo ra
cơ sở pháp lý cho quyền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất.
Các đạo luật nói trên thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
trong việc thống nhất quản lý đảm bảo lợi ích chính đáng, hài hoà giữa Nhà
nước với người dân, đồng thời vừa là cơ sở để xác lập hệ chính sách đền bù,
TĐC... Hàng loạt các nghị định, thông tư được ban hành như: Nghị định
60/CP (1994): Quyền sở hữu đô thị; Nghị định 87/CP (1994): Quy định về
khung giá các loại đất; Nghị định 90/CP (1994): Đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất; Thông tư 15/LĐ-TB-XH (1995): Trợ cấp cho các gia đình
chuyển đến vùng kinh tế mới; Nghị định 22/CP (1998) về việc đền bù thiệt
hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; đặc biệt là Nghị định 197/CP (2004) về
bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất đã và đang bảo đảm
quyền lợi thiết thực cho người dân. Hệ thống các văn bản pháp quy nói trên
đang tiến dần tới một chính sách TĐC hoàn chỉnh. Nếu các văn bản trước
năm 1998 chủ yếu chú trọng đến việc đền bù cho các thiệt hại khi Nhà nước
thu hồi đất thì từ Nghị định 22/1998/NĐ-CP về sau, đặc biệt là Nghị định
197/2004/NĐ-CP đã có thêm nhiều điều khoản quy định về sự hỗ trợ cũng
như lập khu TĐC để tạo nơi ở mới và ổn định đời sống và sản xuất cho
người dân sau TĐC. Trong các nghị định này, chính sách hỗ trợ và TĐC đều
hướng tới mục tiêu bồi thường, hỗ trợ thoả đáng (tất nhiên là tuỳ theo điều

Trên cơ sở quan điểm, chính sách chung về TĐC của Đảng và Nhà
nước, UBND thành phố Đà Nẵng đã cụ thể hoá bằng những Quyết định


4503/1998; Quyết định 170/1999; Quyết định 141/2002; Quyết định
122/2003 và Quyết định 209/2004 ban hành quy định tạm thời về bồi
thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng. Các chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC được thành phố
điều chỉnh theo hướng ngày càng đảm bảo lợi ích thiết thực cho đối tượng bị
ảnh hưởng bởi dự án. So với các quyết định ban hành tư năm 2003 về trước,
Quyết định 209/2004 đã có những quy định đem lại lợi ích hài hoà giữa Nhà
nước và nhân dân. Ví dụ, trước đây giá đất trong khu TĐC nhà nước bán lại
cho người dân quá cao so vơi giá mà người dân được đền bù khi giải toả thì
giờ đây đã được điều chỉnh phù hợp hơn; Hay chính sách hỗ trợ TĐC (hỗ trợ
di chuyển,thuê nhà ở, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp…)đã được
thành phố quy định một cách rõ ràng,cụ thể. Đặc biệt, trong Quyết định
209/2004, thành phố còn có chính sách phân thêm các lô đất phụ cho những
hộ gia đình có diệm tích đất thu hồi lớn và đông nhân khẩu(tối đa là 5 lô).
Các quyết định nêu trên đều mang tinh thần chỉ đạo là hướng đến thực
hiện “Chủ trương của thành phố là tất cả các hộ dân sau khi giải toả, TĐC
phải có cuộc sống tốt hơn trước về mọi mặt, tuyệt đối không để hộ nào rơi
vào cuộc sống khó khăn hơn”. Đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn quan
trọng để đi sâu phân tích thực trạng những biến đổi về mức sống của nhóm
dân phải di dời, giải toả sau TĐC ở thành phố Đà Nẵng.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status