MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội càng phát triển, người ta càng quan tâm và đòi hỏi nhiều
hơn ở sự nghiệp giáo dục. Hiện nay, xét trên bình diện thế giới, cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ đã và đang phát triển như vũ bão,
tạo nên những dòng thác thông tin khổng lồ. Đối với nước ta, công
cuộc đổi mới đất nước đang đi vào chiều rộng lẫn chiều sâu ở khắp
các lĩnh vực của đời sống xã hội, mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại
hóa đất nước đang đặt ra yêu cầu rất cao đối với nguồn lực con người.
Con người trở thành vốn quý nhất, là lực lượng chính của sự nghiệp
xây dựng đất nước và là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Hoàn cảnh
trên đã đặt ra yêu cầu phải phát triển giáo dục toàn diện nhằm tạo ra
những con người có phẩm chất chính trị, tri thức khoa học và năng
lực hoạt động thực tiễn nhằm góp phần quan trọng trong việc đáp ứng
nguồn nhân lực trước yêu cầu của thời đại mới.
Việc dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung, trong đó có môn CNXHKH ở trường đại học, cao
đẳng hiện nay được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Một là
do cùng với Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin,
CNXHKH là môn học trực tiếp trang bị nền tảng tư tưởng chính trị,
lập trường xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cho các thế hệ
sinh viên. Hai là do sau khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô
sụp đổ, cùng với sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế, lòng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin của một bộ phận cán bộ,
đảng viên và nhân dân giảm sút. Bên cạnh đó, "các thế lực cơ hội,
1
phản động, thù địch tăng cường chống phá ta trên nhiều mặt, nhất là
trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, văn hóa, báo chí, thực hiện
âm mưu diễn biến hoà bình ngày càng thâm độc, nham hiểm hơn.
quyết vấn đề... Những hạn chế trên đã ảnh hưởng đến quá trình thực
hiện vị trí và chức năng đặc biệt quan trọng của môn CNXHKH
trong các trường đại học và cao đẳng hiện nay.
Tình hình trên đã thôi thúc chúng tôi chọn đề tài: "Vận dụng
phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy môn Chủ nghĩa
xã hội khoa học ở trường Đại học sư phạm Huế hiện nay" làm
luận văn thạc sĩ chuyên ngành CNXHKH. Đề tài mong muốn đi sâu
vào việc ứng dụng một PPDH với nhiều ưu điểm đã được công nhận
rộng rãi trên thế giới và có tính khả thi trong việc phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng dạy
học môn CNXHKH ở trường Đại học sư phạm Huế hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Là một PPDH tích cực, phương pháp dạy học nêu vấn đề
(PPDHNVĐ) đã được các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài
nước nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn như:
- Nhà giáo dục học V.O.Kon trong "Những cơ sở dạy học nêu vấn
đề" (NXB Giáo dục, 1976) đã đúc kết thành công và có kết luận vững
chắc về các cơ sở khoa học của PPDHNVĐ trong việc phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
- Tác giả I.Ia.Lecne trong "Dạy học nêu vấn đề " (NXB Giáo
dục, 1997) đã đề cập một số nội dung cơ bản của PPDHNVĐ, các
3
hình thức nêu vấn đề và nhiệm vụ của người giáo viên khi sử dụng
PPDH này.
- Tác giả Lê Nguyên Long trong "Thử đi tìm những phương
pháp dạy học hiệu quả" (NXB Giáo dục, 1998) đã xác định
PPDHNVĐ nằm trong nhóm phương pháp tìm tòi. Tác giả đã nêu
lên hai yếu tố đặc trưng của PPDH này, đó là tình huống có vấn đề
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng PPDHNVĐ trong môn CNXHKH
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn khoa học này ở trường
ĐHSP Huế hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề chung về PPDHNVĐ và sự vận
dụng PPDH này trong giảng dạy môn CNXHKH.
- Làm rõ thực trạng của quá trình vận dụng PPNVĐ vào giảng
dạy môn CNXHKH ở trường ĐHSP Huế hiện nay, tìm hiểu những
kết quả đạt được, hạn chế và những vấn đề cần đặt ra.
- Đề ra những yêu cầu và giải pháp cơ bản nhằm vận dụng hiệu
quả PPNVĐ trong giảng dạy môn CNXHKH ở trường ĐHSP Huế
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Quá trình vận dụng PPNVĐ trong giảng dạy môn CNXHKH ở
trường ĐHSP Huế hiện nay.
5
* Phạm vi nghiên cứu
- Từ cơ sở lý luận chung về PPDHNVĐ, đề tài giới hạn trong
việc nghiên cứu quá trình vận dụng PPDH này trong giảng dạy môn
CNXHKH. Từ đó đề ra các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả giảng dạy môn khoa học này ở tại trường ĐHSP Huế hiện
nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là những quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
7
Chương 1
QUAN NIỆM CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
VÀ VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG
GIẢNG DẠY MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
1.1. Khái niệm, đặc điểm và quy trình của phương pháp dạy
học nêu vấn đề
1.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học nêu vấn đề
Phương pháp là con đường, cách thức để đạt tới mục đích. Trong
hoạt động dạy học, phương pháp là con đường, cách thức để người
thầy sử dụng nhằm hướng dẫn người học tiếp nhận những tri thức
khoa học nào đó. Theo lý luận dạy học hiện đại, phương pháp không
phải là hình thức bên ngoài nội dung, mà bao giờ cũng là sự là biểu
hiện bên trong của nội dung, do nội dung quy định, hay phương
pháp là phương pháp của nội dung, là cách thức thực hiện nội dung.
Vì thế, tùy theo tính đặc thù của trí thức môn học mà đòi hỏi phải sử
dụng những PPDH phù hợp.
Về định nghĩa PPDHNVĐ, từ trước đến nay đã có nhiều nhà
nghiên cứu khoa học giáo dục trong và ngoài nước đưa ra nhiều quan
điểm khác nhau. Từ những điểm tương đồng trong các quan điểm
trên, có thể hiểu PPDHNVĐ là một phương pháp dạy học mà ở đó
quá trình dạy và học được tổ chức bằng cách tạo ra THCVĐ và
triển khai quá trình giải quyết tình huống đó nhằm để tạo ra ở
người học nhu cầu tự phát hiện và giải quyết các nhiệm vụ học tập
8
của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và mối quan hệ giữa chúng,
giảng viên dẫn xuất và yêu cầu sinh viên lý giải luận điểm nổi tiếng
sau của C.Mác và Ăngghen khi hai ông so sánh về mục tiêu và động
10
lực giữa các cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử: “tất cả những
phong trào lịch sử, từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện,
hoặc đều mưu cầu lợi ý cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong
trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ý cho khối đại đa số”.
* Hai là nghịch lý giữa lý luận và thực tiễn: đây cũng là một
trong những dạng tinh huống thường xuyên xuất hiện trong quá trình
dạy học môn CNXHKH. Điều này xuất phát từ đặc thù tri thức của
bộ môn.
Chẳng hạn như khi dạy nội dung “xã hội xã hội chủ nghĩa”, sau
khi đã phân tích cho sinh viên thấy được những đặc trưng cơ bản
của xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, giảng viên có thể
đặt ra một tình huống theo dạng nghịch lý như: Với những đặc trưng
như những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin nêu ra, xã hội
chủ nghĩa đã thể hiện là một chế độ xã hôi ưu việt nhất từ trước đến
nay nhưng tại sao trong thực tiễn nó đã bị sụp đổ ngay chính trên
quê hương của Cách mạng tháng Mười?
Tình huống lựa chọn
Đây là tình huống có vấn đề xuất hiện khi chủ thể nhận thức đứng
trước một sự khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết,
phương án nào cũng vừa chứa đựng lý lẽ phù hợp nhưng đồng thời
cũng vừa chứa đựng những nhược điểm cơ bản, song chỉ có một lựa
chọn là duy nhất đúng bằng những cơ sở logíc và thực tiễn (xem ví dụ
minh họa trong luận văn)
Tình huống bác bỏ
12
1.1.3. Quy trình thực hiện của phương pháp dạy học nêu vấn đề
1.1.3.1. Xây dựng tình huống có vấn đề
Việc đưa ra THCVĐ là một bước quan trọng, quyết định cả tiến
trình tổ chức dạy học. Có nhiều cách để tạo ra tình huống có vấn đề.
Dựa trên sự phân loại các dạng tình huống có vấn đề có thể khái
quát các cách sau:
- Tạo tình huống bằng cách kích thích sinh viên so sánh, đối
chiếu những quan điểm của các nhà kinh điển trong các hoàn cảnh
hoặc thời đại khác nhau (xem ví dụ minh họa trong luận văn).
- Tạo tình huống bằng cách đề ra các giả thuyết để sinh viên
phản đối hoặc đồng tình (xem ví dụ minh họa trong luận văn).
- Tạo tình huống bằng cách dựa vào những biểu hiện mới từ xu
hướng vận động của đời sống thực tiễn khi so sánh với những
nguyên lý cơ bản của CNXHKH (xem ví dụ minh họa trong luận
văn).
1.1.3.2. Giải quyết vấn đề
Đây là giai đoạn đưa ra các phương án, biện pháp, con đường để
giải quyết một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn các bài tập nhận thức được
nêu ra. Kết quả của quá trình này sẽ giúp người học nắm được
những tri thức mới.
1.1.3.3. Hệ thống hóa và tổng hợp tri thức
Đây là giai đoạn cuối cùng của quy trình dạy học nêu vấn đề. Sau
khi đưa sinh viên vào THCVĐ và hướng dẫn người học giải quyết,
người dạy kết luận lại những kiến thức cơ bản của bài giảng.
13
Hai là: Tri thức của môn CNXHKH mang tính chính trị sâu sắc
và đòi hỏi cao ở ý chí, đạo đức và tình cảm cách mạng.
Ba là: CNXHKH còn là môn học có tính thực tiễn sâu sắc.
1.2.1.2. Phù hợp với xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện
nay
Trong bối cảnh của thời đại ngày nay, những hạn chế của PPDH
truyền thống trong dạy học môn CNXHKH đã đặt ra yêu cầu phải
nhìn nhận lại vấn đề PPDH và hướng đến sự đổi mới theo hướng
tích cực hóa hoạt động nhận thức của sinh viên. Với yêu cầu đó, sử
dụng PPNVĐ trong giảng dạy môn CNXHKH tỏ ra đáp ứng tốt với
xu hướng đổi mới nói trên.
1.2.2. Một số yêu cầu có tính nguyên tắc khi sử dụng
phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn Chủ nghĩa xã
hội khoa học
1.2.2.1. Nội dung của tình huống có vấn đề cần phải gắn liền
với nội dung tri thức môn học
1.2.2.2. Khai thác tối đa vốn kinh nghiệm và hiểu biết của sinh
viên
1.2.2.3. Kết hợp hài hòa với các phương pháp dạy học khác
Cũng giống như ở những môn học khác, việc vận dụng PPNVĐ
trong giảng dạy môn CNXHKH cũng cần tuân thủ những nguyên tắc
kể trên. Đó là những luận điểm có tính chất chỉ đạo, định hướng
chung cho các hoạt động dạy và học.
15
Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG GIẢNG DẠY MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ HIỆN NAY
nghĩa xã hội khoa học
2.1.3. Những nhân tố gây khó khăn và trở ngại cho quá trình
vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn Chủ
nghĩa xã hội khoa học
2.1.4. Mức độ sử dụng đối với các kiểu dạy học của phương
pháp nêu vấn đề
2.1.5. Mức độ sử dụng đối với các dạng tình huống có vấn đề
2.1.6. Mức độ sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề đối
với các loại bài lên lớp
2.1.7. Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sử
dụng phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn Chủ nghĩa xã
hội khoa học
2.2. Đánh giá kết quả điều tra thực trạng và những vấn đề
cần đặt ra
2.2.1. Những kết quả đạt được và hạn chế
Quá trình xử lý các kết quả điều tra có thể được kết luận thành
những điểm sau đây:
- Hầu hết các giảng viên đều đã nhận thức được tầm quan trọng
của PPNVĐ trong giảng dạy môn CHXHKH và thống nhất rằng nêu
17
vấn đề sẽ là một trong những PPDH có triển vọng ứng dụng to lớn
trong dạy học nói chung.
- Khi bàn về những khó khăn, trở ngại cũng như những nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sử dụng phương pháp, các
giảng viên cũng đã nêu ra được những nhận thức đúng đắn và đầy
đủ.
- Sinh viên thực sự đánh giá cao việc giảng viên áp dụng các
PPDH tích cực trong đó có phương pháp PPNVĐ trong môn
cần thiết của giảng viên trong quá trình sử dụng PPDHNVĐ.
- Sinh viên với tư cách là nhân tố trung tâm của hoạt động dạy
học cũng cần được trang bị những kỹ năng cơ bản trong quá trình
học tập theo PPNVĐ.
- Việc thực hiện được những yêu cầu trên không thể thiếu sự tác
động của các cấp quản lý. Cần khai thác triệt để sự tác động của các
cấp quản lý trong việc góp phần đẩy mạnh quá trình ứng dụng
PPNVĐ trong giảng dạy nói chung, trong môn CNXNKH nói riêng.
Những vấn đề được đặt ra như trên cơ sở để xây dựng các yêu
cầu về kỹ năng sư dụng PPNVĐ và hệ thống các giải pháp đối với
giảg viên, sinh viên và các cấp quản lý. Nội dung này sẽ được đề cập
cụ thể ở chương sau.
19
Chương 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG GIẢNG DẠY MÔN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM HUẾ HIỆN NAY
3.1. Yêu cầu về kỹ năng trong quá trình vận dụng phương
pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn Chủ nghĩa xã hội khoa
học
Nhìn vào quy trình tổ chức và mục tiêu đặt ra, chúng ta thấy nêu
vấn đề là một trong những PPDH đòi hỏi rất cao ở người giảng viên
năng lực chuyên môn và kỹ năng thực hành phương pháp.Từ đây, để
sử dụng PPDH này có hiệu quả, ngoài kiến thức chuyên môn vững
vàng, người giảng viên cần phải được trang bị một cách cơ bản hệ
giúp giảng viên vượt qua những giây phút nản lòng. Ngoài ra, sự tận
tụy với nghề nghiệp cũng là một yêu cầu có tính đặc thù đối với các
giảng viên giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh.
3.2.2. Giải pháp đối với sinh viên
3.2.2.1. Sinh viên phải có một năng lực nhận thức nhất định
PPNVĐ không chỉ đặt ra yêu cầu rất cao ở năng lực chuyên môn
và hệ thống kỹ năng sử dụng phương pháp đối với người dạy mà còn
21
đòi hỏi ở người học một năng lực nhất định khi học tập theo PPDH
này.
3.2.2.2. Sinh viên phải chủ động tích cực trong quá trình tham
gia học tập.
Đây cũng là một yêu cầu về phía người học, đối tượng tiếp nhận
PPDHNVĐ. Sự hưởng ứng mạnh mẽ của sinh viên trong các hoạt
động học tập theo PPNVĐ sẽ giúp quá trình giải quyết tình huống
đạt hiệu quả cao nhờ tạo được bầu không khí tích cực và hứng thú
học tập của tập thể lớp.
3.2.3. Giải pháp đối về điều kiện tổ chức quản lý và cơ sở vật
chất
Để cho quá trình vận dụng các PPDH tích cực nói chung,
PPNVĐ nói riêng cần có sự tác động thuận lợi từ các yếu tố khách
quan, bao gồm những nội dung sau:
3.2.3.1. Cần có những chính sách và biện pháp quản lý thích
hợp
3.2.3.2. Cần có đầy đủ tài liệu tham khảo
3.2.3.3. Cần có đầy đủ phương tiện dạy học
và rút ngắn thời lượng giảng dạy các môn khoa học này. Việc sử
dụng các PPDH tích cực trong đó có PPNVĐ sẽ giúp sinh viên tích
cực hóa các hoạt động nhận thức để trong một thời lượng có hạn có
thể nắm được những nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa MácLênin. Đặc biệt, việc sử dụng PPDH này sẽ giúp sinh viên được
trang bị những kỹ năng tự học quan trọng để tự mình bổ sung và mở
rộng việc nghiên cứu và áp dụng những nguyên lý chung nhất mà bộ
môn cung cấp trong hoạt động chuyên môn của mình.
24