1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục hình, bảng biểu
Mở đầu
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1. 1. Bảo hiểm tiền gửi
1.1.1. Khái nệm về Bảo hiểm tiền gửi
1.1.2. Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi
1.1.3. Chức năng của Bảo hiểm tiền gửi
1.1.4. Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi
1
5
5
5
6
7
8
1.2. Kinh nghiệm BHTG ở một số nước trên thế giới
1.2.1. Bảo hiểm tiền Mỹ
1.2.2. Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản
1.2.3. Bảo hiểm tiền gửi Đài Loan
Chương 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN
32
33
34
47
49
49
2
2.4.2. Những thành tựu của Chi nhánh khu vực ĐBSCL
2.4.3. Những tồn tại trong hoạt động của Chi nhánh
2.4.4. Nguyên nhân của những tồn tại
Chương 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHTG VIỆT
NAM Ở ĐBSCL
3.1. Những định hướng chủ yếu về phát triển BHTG ở ĐBSCL
3.1.1. Chiến lược phát triển của BHTGVN giai đoạn 2006 –
50
53
55
57
57
57
2015
3.1.2. Chiến lược phát triển của BHTGVN Khu vực ĐBSCL
3.2. Dự báo về phát triển BHTG ở ĐBSCL
3.2.1. Yêu cầu phát triển kinh tế và lành mạnh hóa hoạt động
Danh mục tài liệu tham khảo
Các phụ lục, mô hình
66
67
68
68
75
75
76
78
79
81
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nguyên văn
IADI
Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế
BHTG
Bảo hiểm tiền gửi
Ngân hàng thương mại
NHTMNN
Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
QTDND
Quỹ tín dụng nhân dân
QTDTW
Quỹ tín dụng Trung ương
HTX
Hợp tác xã
4
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC HÌNH BẢNG BIỂU
Số TT
Mô hình cho vay theo phương thức tín dụng dự
phòng
45
57
Sự khác nhau giữa BHTG với các loại bảo hiểm khác
6
44
Phân chia mẫu điều tra theo đối tượng có gửi tiền
Mức độ hiểu biết của công chúng về BHTG
Khách hàng hiện tại của BHTGVN
65
45
67
5
MỞ ĐẦU
1.1.
Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ luôn chứa
đựng những yếu tố rủi ro tiềm ẩn, trong những nền kinh tế đang phát triển mà
trọng của Chính phủ trong việc đều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã được 9 năm, có
vài ý kiến cho rằng hoạt động của BHTG Việt Nam hiện nay thuần túy là thu
phí mà ít chú ý đến chức năng hỗ trợ cho các TCTD. Qua nghiên cứu về chức
năng nhiệm vụ và những thành quả mà BHTG Việt Nam đã đạt được ở Việt
Nam mà đặc biệt là tại khu vực ĐBSCL, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thể
hiện được vai trò tích cực của mình là bảo vệ lợi ích người gửi tiền. Tuy nhiên
nhằm phát huy vai trò của BHTG Việt Nam đối với đặc thù của khu vực cần
phải có những giải pháp phù hợp đó chính là lý do mà tôi chọn đề tài “Các
giải pháp phát triển Bảo hiểm tiền gửi ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long”
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu những giải pháp của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam một định
chế tài chính của Chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận đối với
hoạt động ngân hàng ở Việt Nam nói chung và tại khu vực ĐBSCL nói riêng
có một ý nghĩa to lớn, nó khẳng định sự cần thiết đối với hoạt động ngân
hàng trong việc bảo vệ người gửi tiền thông qua hoạt động của mình, từng
bước khẳng định vai trò của tổ chức BHTG đối với hoạt động kinh doanh tiền
tệ. Chính sách BHTG ngoài việc bảo vệ những người gửi tiền cũng có tác
động nhất định đến người nghèo một cách trực tiếp lẫn gián tiếp bằng cách
cung cấp cho người nghèo những lợi ích thông qua việc phân phối lại từ khu
vực tài chính.
7
Qua việc phân tích thực trạng hoạt động của BHTG Việt Nam, chỉ ra
- Cho thấy mối quan hệ cần thiết giữa tổ chức BHTG Việt Nam và các
định chế tài chính trung gian, nguyên nhân và kết quả trong hoạt động ngân
hàng với tổ chức BHTG Việt Nam.
- Cho chúng ta một cách nhìn bao quát về thực trạng hoạt động của
BHTG Việt Nam tại Chi nhánh BHTG Việt Nam khu vực ĐBSCL, cũng như
những vướng mắc về cơ chế, chính sách trong hoạt động của BHTG Việt
8
Nam trong thời gian qua, đồng thời đề xuất một số giải pháp phát triển BHTG
Việt Nam tại Chi nhánh ĐBSCL, những đề xuất nhằm hoàn thiện về cơ chế,
chính sách cho hoạt động của BHTG Việt Nam theo hướng phù hợp với thông
lệ quốc tế trong tiến trình Việt Nam hội nhập.
1.7.
Cấu trúc đề tài:
Luận văn gồm có 3 chương, bố cục như sau:
• Chương 1: Cơ sở lý luận về Bảo hiểm tiền gửi .
• Chương 2: Thực trạng hoạt động Bảo hiểm tiền gửi ở Đồng
bằng sông Cửu long.
• Chương 3: Những giải pháp phát triển BHTG Việt Nam ở Đồng
bằng sông Cửu long.
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1. 1. Bảo hiểm tiền gửi .
10
- Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm: Là khách hàng của
những tổ chức tham gia BHTG, những người gửi tiền này không phải đóng
góp tài chính trực tiếp cho tổ chức BHTG, họ được thanh toán tiền gửi trong
hạn mức chi trả theo qui định pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi
Sản phẩm bảo hiểm tiền gửi cũng như các sản phẩm bảo hiểm khác
(bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm y tế …) đều dựa vào
nguyên tắc chung là lấy số đông bù số ít nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro
cho khách hàng. Nhưng BHTG khác với các loại bảo hiểm khác ở một số
điểm cơ bản (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa BHTG với các loại bảo hiểm khác
Bảo hiểm tiền gửi
Người gửi tiền được bảo hiểm mà
không phải ký hợp đồng với tổ chức
bảo hiểm
Số tiền đền bù khi có tổn thất được
quy định bởi các văn bản luật, người
gửi tiền không thể tăng mức đền bù
bằng cách tăng phí đóng góp
Người được bảo hiểm không trực
tiếp điều hành hoạt động rủi ro của
mình, hoạt động rủi ro do tổ chức tham
gia BHTG kiểm soát.
Bắt buộc cung cấp cho khách hàng
mà không cần có sự đồng ý hay hiểu
tài chính hoạt động từ đó tạo hiệu ứng cho các ngành kinh tế phát triển thông
qua các định chế trung gian tài chính cung cấp. Tóm lại, chức năng hoạt động
của bảo hiểm tiền gửi thực hiện các chức năng cơ bản như sau:
- Bảo vệ người gửi tiền nhỏ là những đối tượng có những hạn chế trong
việc tiếp cận thông tin về hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi.
- Chức năng phòng ngừa đổ vỡ ngân hàng, góp phần bảo vệ hệ thống tài
chính ổn định tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính.
- Góp phần xây dựng một thị trường tài chính có tính cạnh tranh và bình
đẳng giữa các tổ chức tài chính có qui mô và trình độ khác nhau.
- Giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ, thông qua việc qui định những
quyền lợi của người gửi tiền và của các tổ chức nhận tiền gửi.
Những nghiên cứu của các nhà kinh tế cũng như qua thực tiễn, người có
tiền gửi nhỏ là được tổ chức BHTG quan tâm nhất và là cơ sở xuất phát điểm
cho mục đích hoạt động của BHTG, đây là tầng lớp dân cư có những hạn chế
nhất định trong việc tiếp cận những thông tin về hoạt động của tổ chức nhận
tiền gửi, đời sống của tầng lớp công chúng có thu nhập thấp thường bị tác
động nhiều hơn các đối tượng khách hàng khác, những người này thường
quan tâm đến lãi suất tiền gửi và họ có được khoản tiền lãi từ nguồn tiền gửi ít
ỏi của mình là hết sức quan trọng, do đó sự nhạy cảm trong những thông tin
xấu của các tổ chức nhận tiền gửi là cực kỳ quan trọng, do hạn chế khả năng
phân tích cũng nhưng tầm nhận thức, tâm lý bất ổn với những thông tin về đổ
12
vỡ ngân hàng làm cho họ có những ứng xử theo tâm lý, từ đó rút tiền ồ ạt. Ở
Việt Nam ta bằng chứng là sự kiện của Ngân hàng TMCP Á Châu vào tháng
10/2003 là một minh chứng, các hiện tượng trên nếu không xử lý một cách
khoa học có thể là nguyên nhân dẫn đến phản ứng dây chuyền làm hàng loạt
ngân hàng bị phá sản, đây là một trong những nghiệp vụ mà tổ chức BHTG
- Huy động tiền gửi tại NHTM được tăng trưởng ổn định, tạo nguồn lực
cho đầu tư quốc gia.
1.1.4.1. Hoạt động BHTG tạo niềm tin của công chúng đối với hệ
thống ngân hàng thương mại.
- Tạo niềm tin của công chúng vào các NHTM.
Các ngân hàng thương mại trong hệ thống của một quốc gia muốn có
được uy tín đối với công chúng cần có khả năng thực hiện có hiệu quả các
chức năng của họ, bao gồm ba chức năng cơ bản như sau: chức năng trung
gian tín dụng, chức năng thanh toán và chức năng tạo tiền .
Chức năng trung gian tín dụng: thực hiện chức năng này các NHTM
làm cầu nối giữa người cần vốn và nơi có vốn. Thông qua việc huy động các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, các NHTM hình thành quỹ
cho vay và cung cấp tín dụng cho toàn bộ nền kinh tế, quá trình này diễn ra
liên tục làm tiền đề và điều kiện cho nhau, với chức năng này các NHTM là
Doanh nghiệp
Cá nhân
người đi vay để cho vay, từ đó mà phân bổ các nguồn vốn một cách hợp lý
làm cho nền kinh tế vận hành một cách thông suốt theo những quy luật của
Ủy thác đầu Tư
Gửi tiền
nó. (Hình 1.1)
NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
Đầu tư
Doanh nghiệp
Cho vay
Cá nhân
Hoạt động BHTG là nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp
phần đảm bảo sự duy trì hoạt động lành mạnh trong hệ thống ngân hàng của
một quốc gia, thông qua các hoạt động chuyên môn của tổ chức BHTG nhằm
thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức BHTG tập
trung vào các hoạt động sau: Cung cấp cho công chúng về hoạt động của các
NHTM thông qua hoạt động của mình. Hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham
gia BHTG khi gặp khó khăn nhằm duy trì hoạt động có hiệu quả. Chi trả tiền
gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi
mất khả năng thanh toán. Tham gia vào quá trình thanh lý tài sản sau khi chi
trả, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền chưa được thanh toán hết số
tiền gửi vượt mức chi trả ban đầu, duy trì quỹ BHTG để bảo vệ người gửi tiền
tại tổ chức tham gia BHTG khác.
Như vậy về thực chất, tổ chức BHTG là cầu nối cho các NHTM mất
khả năng thanh toán tiếp tục thực hiện chức năng thanh toán cho người gửi
tiền. Qua đó chúng ta thấy rằng việc duy trì niềm tin của các ngân hàng đang
hoạt động đối với công chúng là hết sức quan trọng, việc chi trả tiền gửi được
bảo hiểm tạo nên sự ổn định tránh sự đổ vỡ dây chuyền, trong đó sự bảo đảm
can thiệp kịp thời và có hiệu quả của tổ chức BHTG.
Ngoài ra nhằm góp phần duy trì tính ổn định của hệ thống ngân hàng,
tổ chức BHTG còn thực hiện chức năng giám sát và kiểm tra các hoạt động
của các NHTM tham gia BHTG nhằm ngăn chặn kịp thời những biểu hiện
thiếu lành mạnh và thiếu an toàn trong hoạt động ngân hàng, những hoạt động
16
đó góp phần cho các NHTM tham gia BHTG thực hiện có hiệu quả ba chức
năng của mình.
1.1.4.2. Hoạt động BHTG tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống
NHTM phát triển
ngân hàng có qui mô nhỏ huy động vốn một cách dễ dàng hơn, làm cho hoạt
động của NHTM thuận lợi hơn, hỗ trợ các ngân hàng triển khai nhiều sản
phẩm dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu của xã hội.
+ Hoạt động của BHTG giúp cho toàn hệ thống ngân hàng hoạt động
một cách ổn định: qua hoạt động của mình tổ chức BHTG đánh giá kịp thời
những khả năng hoạt động của các NHTM và nhất là tổ chức tín dụng nhỏ (ở
Việt Nam là các QTDND cơ sở), từ đó giúp cho hệ thống ngân hàng thương
mại không bị phản ứng dây chuyền một khi xảy ra đổ vỡ ngân hàng, bằng
cách đưa các ngân hàng yếu kém rút khỏi lĩnh vực kinh doanh tiền tệ một
cách có trật tự mà không làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác. Đối với các
ngân hàng không thể duy trì được, tổ chức BHTG sẽ đưa ra các giải pháp
như: chi trả tiền gửi được bảo hiểm và tiến hành thanh lý tài sản, sáp nhập với
các ngân hàng có tiềm lực mạnh hơn. Đối với trường hợp nếu một ngân hàng
bị mất khả năng thanh toán nhưng chưa đến mức phá sản thì tổ chức BHTG
sẽ cho vay hỗ trợ tài chính nhằm cứu các ngân hàng này vượt qua được giai
đoạn khó khăn trong quá trình hoạt động ngân hàng.
Nhìn chung những hoạt động của BHTG là tạo niềm tin cho công
chúng là yếu tố hàng đầu, thông qua việc xử lý các trường hợp sau khi thanh
lý tiếp tục chi trả tiền cho công chúng có ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì
niềm tin ở người gửi tiền, tránh những tin đồn gây ra bất lợi cho các ngân
hàng khác .
+ Hoạt động BHTG tạo động lực để các ngân hàng giám sát lẫn nhau,
thúc đẩy nhau nâng cao chất lượng hoạt động: Tổ chức BHTG hoạt động trên
cơ sở thúc đẩy cơ chế hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng các tổ chức huy động
18
tiền gửi để giải quyết khó khăn, nhất là trong tình trạng ngân hàng bị mất khả
năng thanh toán dẫn đến phá sản. Bằng chính nguồn lực huy động từ các tổ
hoạt động BHTG là nhân tố gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD
huy động tiền gửi dân cư.
Nghiên cứu về vai trò của tổ chức BHTG nhiều nước trên thế giới, nếu
mô hình hoạt động BHTG theo cơ chế bảo hiểm theo loại tiền gửi, thì tốc độ
huy động tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm có xu hướng tăng, còn tiền gửi
không thuộc đối tượng bảo hiệm có xu hướng giảm. Nếu chính sách BHTG
không phân biệt loại tiền gửi được bảo hiểm thì tổng số tiền gửi tại các
NHTM sẽ tăng lên. Vai trò của hoạt động BHTG đối với huy động tiền gửi
tiết kiệm tăng qua hệ thống ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, nhất là những
quốc gia có nhu cầu tăng cao về đầu tư phát triển (hình 1.2)
ĐVT: Triệu đồng
Hình 1.2 -Tiền gửi tiết kiệm qua các năm (Nguồn: NHNN TP.HCM)
Qua số liệu tiền gửi tiết kiệm tại khu vực TP. Hồ Chí Minh từ
năm 2005 đến tháng 5/2008, chúng ta nhận thấy rằng do chính sách bảo hiểm
tiền gửi tại Việt Nam là có phân biệt đối tượng tiền gửi được bảo hiểm, mà
Việt Nam đang áp dụng mô hình bảo hiểm tiền gửi bắt buộc và đối tượng
chính được bảo hiểm là người gửi tiền tiết kiệm nhỏ, qua số liệu trên chứng tỏ
20
tiền gửi tiết kiệm ở khu vực này năm 2005 là 280.890.000.000 đồng, so với
năm này tăng trưởng qua các năm như sau: năm 2006 tăng 69% năm 2007 đạt
658.881.000.000 đồng tăng 43%, đến tháng 05/2008 tăng 33,3% với số tiền
gửi tiết kiệm đạt 842.682.000.000 đồng. Sự tăng trưởng tiền gửi thuộc đối
tượng bảo hiểm qua các năm đã chứng minh rằng chính sách BHTG đã góp
phần đáng kể trong việc huy động vốn của các tổ chức tham gia BHTG.
1.2. Kinh nghiệm Bảo hiểm tiền gửi ở một số nước trên thế giới
đa ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng Mỹ. Người gửi tiền ở các ngân hàng bị
phá sản trong thời gian này đã nhận được tiền chi trả bảo hiểm với tổng số
tiền là 106.560 triệu USD.
Mới đây, FDIC đã đóng vai trò tích cực trong việc tiếp nhận xử lý ngân
hàng gặp vấn đề. Từ đầu năm 2008 tới nay, FDIC đã tiếp nhận và xử lý 16
ngân hàng đổ vỡ. Ngoài ra, trong bản kế hoạch giải cứu ngành tài chính trị giá
700 tỉ USD được quốc hội thông qua ngày 1.10.2008, FDIC đã nâng hạn mức
bảo hiểm tiền gửi từ 100.000 USD lên 250.000 USD (hạn mức này duy trì đến
hết năm 2009) để củng cố niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính.
Thứ ba, Mỹ dành nhiều quan tâm tới giám sát hoạt động ngân hàng:
Ngay sau khi thành lập, FDIC đã cử 4.000 kiểm tra viên thực hiện công tác
kiểm tra, giám sát các ngân hàng nhằm đánh giá tiêu chí là thành viên của
FDIC. Nguồn nhân lực thực hiện công tác giám sát hoạt động ngân hàng ở
Mỹ được đầu tư đáng kể so với nhiều quốc gia khác, số lượng thanh tra viên
của Hệ thống ngân hàng Nhật Bản vào thời điểm năm 1995 là 400 người,
trong khi đó số thanh tra viên của Hệ thống ngân hàng Mỹ năm 1995 là 8.000
người.
Thứ tư, nguồn lực để triển khai chính sách BHTG ở Mỹ được đầu tư
rất lớn: có cơ sở pháp lý cao (Luật BHTG) ngay từ đầu và được điều chỉnh
kịp thời trong quá trình triển khai; có nguồn tài chính lớn và có cơ chế huy
động tài chính thích ứng với đặc thù và vai trò quan trọng của chính sách
22
BHTG trong giải quyết rủi ro của lĩnh vực tài chính- ngân hàng; có nguồn
nhân lực lớn đáp ứng yêu cầu triển khai của chính sách (nhân lực của FDIC
vào thời điểm tháng 3/2005 là 4.993 người)
1.2.2. Bảo hiểm tiền gửi ở Nhật Bản
Công ty Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản (DICJ) được thành lập năm 1971,
nguồn thu phí bảo hiểm hàng năm từ các tổ chức tín dụng theo quy định của
pháp luật. Hiện nay mức bảo hiểm tối đa mà Công ty áp dụng là 10 triệu yên
tổng số tiền gốc của người gửi tiền và tiền lãi của nó.
• Phương pháp hỗ trợ tài chính
Xử lý đổ vỡ bằng phương pháp hỗ trợ tài chính là việc dùng một tổ
chức tài chính vững mạnh (tổ chức tiếp nhận) tiếp quản các chức năng tài
chính của tổ chức tài chính bị đổ vỡ. Việc tiếp nhận này phải đảm bảo rằng tổ
chức tài chính tiếp nhận phải được tiếp nhận các tài sản có tương ứng với
trách nhiệm nợ phải tiếp nhận. Nhưng trên thực tế thì hầu như trong mọi
trường hợp, tài sản có và tài sản nợ của tổ chức tài chính bị đổ là không cân
bằng. Vì thế, DICJ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức tài chính tiếp nhận có
thể tiếp quản tổ chức tài chính bị đổ vỡ với điều kiện tài sản có cân bằng với
tài sản nợ bằng cách cấp số tiền tương ứng với khoản tài sản nợ vượt quá tài
sản có của tổ chức tài chính bị đổ vỡ cho tổ chức tài chính tiếp nhận. Ngoài
ra, đối với các khoản nợ xấu của tài sản có của tổ chức tài chính bị đổ vỡ, thủ
tục bán các khoản nợ này sẽ được DICJ đảm nhận bằng cách mua lại tài sản
như một phần của hoạt động hỗ trợ tài chính.
Theo các chuyên gia bảo hiểm tiền gửi của Nhật Bản, thì trong chừng
mực có thể cần ưu tiên phương pháp hỗ trợ tài chính để tránh việc gây ra
những tác động xấu nghiêm trọng của đổ vỡ đối với các hoạt động tài chính
liên quan. Khi áp dụng phương pháp hỗ trợ tài chính, những chủ nợ thông
thường bao gồm cả người gửi tiền sẽ hy vọng được thanh toán dựa trên giá trị
của tài sản có tính đến các hoạt động tài chính, chứ không phải là giá trị thanh
lý. Như vậy, sẽ giúp tránh được các tổn thất về kinh tế phát sinh do sự giải thể
24
hoàn toàn của tổ chức tài chính bị đổ vỡ. Ngoài ra, người gửi tiền cũng sẽ có
25
chính đó có thể gây nhiều trở ngại đến sự luân chuyển của luồng tiền và sự
thuận tiện của người sử dụng trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động của tổ
chức tài chính đó, Hội đồng Cơ quan dịch vụ tài chính Nhật Bản có thể ban
hành lệnh chuyển giao việc quản lý hoạt động và tài sản của tổ chức tài chính
đó cho một cơ quan quản lý tài chính.
Cơ quan quản lý tài chính sẽ do Hội đồng cơ quan dịch vụ tài chính bổ
nhiệm, và thuộc sự giám sát của Hội đồng. Cơ quan quản lý tài chính có trách
nhiệm thực hiện một cách phù hợp việc quản lý công việc kinh doanh của tổ
chức tổ chức tài chính bị đổ vỡ, thực hiện những công việc theo yêu cầu để
chuyển giao lại công việc kinh doanh của tổ chức tài chính bị đổ vỡ cho tổ
chức tiếp nhận. Cơ quan quản lý tài chính còn có trách nhiệm thực hiện điều
tra cần thiết để làm rõ trách nhiệm gây ra đổ vỡ theo quy định của pháp luật.
Việc chuyển giao công việc kinh doanh cho tổ chức tiếp nhận trong vòng một
năm kể từ ngày có quyết định quản lý và có thể được gia hạn thêm một năm
khi cần thiết.
• Ngân hàng bắc cầu
Theo quy định của Luật bảo hiểm tiền gửi, khi xử lý đổ vỡ, DICJ cũng
có thể thành lập Ngân hàng bắc cầu với 100% vốn của DICJ. Ngân hàng bắc
cầu có nhiệm vụ chính là tiếp tục công việc kinh doanh của tổ chức tài chính
bị đổ vỡ khi chưa có tổ chức tài chính tiếp nhận, thực hiện hỗ trợ tài chính để
duy trì và tiếp tục các hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính bị đổ vỡ. Tổ
chức tài chính bị đổ vỡ sẽ ký kết thỏa thuận cơ sở về việc tiếp tục kinh doanh
và các thoả thuận kèm theo với ngân hàng bắc cầu trước khi gửi đơn yêu cầu
bắt đầu thực hiện thủ tục phục hồi dân sự sau khi xảy ra đổ vỡ. Sau đó, ngân
hàng bắc cầu cung cấp hỗ trợ tài chính dưới hình thức thực hiện các nghĩa vụ,
cấp tiền hoặc cho vay để duy trì và tiếp tục các giá trị kinh doanh của tổ chức
tài chính bị đổ vỡ.