in
Thị
Thu Thúy
-K4Q-KTNT
nh
Thị
Thu Hương
HÀ NỘI,
2005
BBSKBH^BHRỈÌB
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TÊ
NGOẠI
THƯƠNG
ro RE
KÌN
TRADE
ũNivERsiry
KHOA LUẬN
TÓT
NGHIỆP
Đê
tài:
BẢO HIỂM
TIÊN
đầu Ì
Chương
ì:
Tổng
quan
về Bảo
hiểm
tiền gửi
2
ì.
Khái
niệm bảo hiểm
tiền gửi
2
1.
Định
nghĩa
2
2.
Mục đích
của
hoạt
động Bảo
hiếm
tiền gửi
4
3.
Hợp đồng Bảo
hiểm
tiền gửi
thống
ngân
hàng
phát
triển
9
3. Hoạt
động bảo
hiểm
tiền gửi
góp
phần
thúc đẩy huy động
tiền
gửi
cho
đầu tư
phát
triển
li
ni.
Cơ
cấu
tổ
chức
và
hoạt
động
của
tổ
các
tổ
chức tham
gia
bảo hiểm
tiền gửi
14
2.2.
Giám
sát
các
tổ
chức tham
gia
bảo hiểm
tiền gửi
15
2.3.
Hỗ
trợ
các
tổ
chức tham
gia
bảo hiểm
tiền gửi
16
2.4. Chi
trả tiền
bảo hiểm và
bảo hiểm
tiền gửi
18
3.2.
Các
quy
tắc
bảo hiểm
tiền gửi
21
3.2.1.
Cơ
chế tham
gia
bảo hiểm
tiền gửi
21
3.2.2.
Quy
định
về
các
tổ
chức tham
gia
bảo hiểm
tiền gửi
22
3.2.3.
Loại
ro
lựa
chọn
nhẩm
đối
tượng
28
3.3.3.
Rủi
ro
của
tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi
29
Chương n.
Thực
trạng
bảo
hiểm
tiền
gửi
ở
Việt
Nam 31
ì.
Sơ
phát
triển
hoạt
động
Bảo hiểm
tiền
gửi
ở
Việt
Nam 32
2.
Ì.
Khả năng
cạnh
tranh
giữa
các ngân hàng
Việt
Nam có chênh
lệch
lớn
32
2.2.
Tính
dễ bị
tổn
thương
của hệ thống
ngân hàng
Việt
Nam
từ khi
thành
lập
tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam 35
1.
Tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam 35
1.1.
Mục
tiêu,
nhiệm
vụ và
quyền
hạn 35
Ì .2.
Cơ
động Bảo
hiểm
tiền
gửi
tại
Việt
Nam
trong
thời
gian
qua 52
Chương
in.
Một sô
giải
pháp phát
triển
Bảo
hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam
59
ì.
Kinh
nghiệm của
một
số
nước
hoạt
động Bảo
hiểm
tiền
gửi
tại
Việt
Nam
65
Ì. Đối
với
Chính phủ 65
1.1.
Thúc đẩy công tác xây
dựng
và hoàn
thiện
cơ
sở
pháp lý liên
quan
tới
hoạt
động Bảo
hiểm
tiền
gửi
65
Ì
.2.
gửi
67
2.1.
Nâng
cao
hiệu
quả
các
hoạt
động
nghiệp
vụ 67
2.2.
Nhanh chóng hoàn thành nghiên cứu
triển
khai
phí bảo
hiểm
tiền
gửi
không đồng
hạng
73
2.3.
Tổ
chức
bảo
hiểm
tiền
gửi
bảo hiểm
77
3. Đối với
các
tổ
chức tham
gia
bảo hiểm
tiền
gửi
Kết
luận
78
Kết luận
80
Tài
liệu
tham khảo
81
Phụ
lục
Ì
84
Phụ
lục
2
90
Phụ
lục
3
tiền
gửi
là một khái
niệm
còn khá mới mẻ không chỉ
với
Việt
Nam mà còn
với
nhiều
nước
trong
khu vực và trên
thế
giới.
Thực
tế
áp
dụng
đã
chứng
minh
được
vai
trò
quan
trọng
của
hoạt
động này
thế
giới
và
đang có
những
bước phát
triển
vững
chắc.
ở
Việt
Nam,
hoạt
động Bảo
hiểm
tiền
gửi
được
triển
khai từ giữa
những
năm 90 của
thế kỉ 20.
Tuy
nhiên,
nó
chỉ
thực
sự phát huy tác
dụng
lệ,
góp
phần
không nhỏ
trong việc giữ
gìn sự phát
triển
an toàn, lành
mạnh
của
hệ
thống
tài
chính
-
ngân hàng
quốc
gia;
thúc đẩy huy động vốn cho
sự
nghiệp
Công
nghiệp
hoa -
hiện đại
hoa
đất
nước.
Mặc dù
vậy,
nhằm
phục
vụ
tốt
hơn
những
mục tiêu về
ữn
định và phát
triển
kinh tế -
xã
hội
của Đảng và Nhà nước
trong
lĩnh
vực tài
chính
-
ngân hàng.
Chính vì tính
chất
mới mẻ của
hoạt
động này
tại Việt
Nam,
cũng
như
yêu cầu bức xúc về hoàn
nhất
định về quá trình
tiếp
cận thông
tin
cũng
như
thời
gian
nghiên
cứu,
Khoa
luận
không tránh
khỏi
những
thiếu
sót, rất
mong
nhận
được sự đóng góp ý
kiến
của các
Thầy
cô giáo.
Em
xin gửi
lòi cám ơn chân thành, sâu sắc
tới
cô giáo -
tại
trường.
Ì
CHƯƠNG
ì
TỔNG
QUAN
VỀ BẢO
HIỂM
TIÊN
GỬI
ì.
KHÁI
NIỆM
BẢO
HIỂM
TIẾN
GÙI
1.
Định nghĩa
Hình
mẫu
đầu
tiên của bảo
hiểm
tiền
gửi
(BHTG)
ra đời
tại
trước
đó
rất
lâu.
Bảo
vệ ngầm
tiền
gửi
là
biện
pháp được
nhiều
quực
gia
áp
dụng
trước
khi
có hình
thức
bảo
hiểm
tiền gửi,
về
thực chất
đây
là hình
thức
các ngân hàng
trung
cho
người
gửi
tiền.
Kể
từ
khi
hệ
thựng
bảo
hiểm
tiền
gửi
đầu
tiên
chính
thức ra
đời
đến
nay,
đã có
gần
80
hệ
thựng
bảo
hiểm
tiền
gửi xuất hiện
trên
quan
tâm
chung
của
nhiều
nước
về
hoạt
động
BHTG,
hứa hẹn
một động
lực
mới thúc đẩy phát
triển
hoạt
động này
trên
toàn
thế giới.
Vậy
BHTG
thực chất
là
gì?
Có
rất
nhiều
định
nghĩa
phá
sản
cho
người
gửi
tiền
tại
các
ngân
hàng
hoặc
các
tổ
chức trung gian
tài
chính
đó".
Định
nghĩa
này đã
phản
ánh
được bản
chất
của bảo
hểm
tiền
gửi.
Thực
tế
gửi hiệu
quả"
của
diễn
đàn
ổn định
tài
chính
(Financial
stability
forum)
tháng
9/2001
2
thì:
"Bảo
hiểm tiền
gửi
là
một
sự
đảm bảo
rằng
số dư
gốc
và
lãi
cộng
dồn của
các
một
giới
hạn
nhất
định
trong
việc chi trả
tiền
bổi
thường
và
chỉ
những
khoản
tiền
gửi
nhất
định
mới
được
bảo hiểm.
Điều
này cho
thấy
sự khác
biệt
cơ bản
giữa
BHTG
và
gửi
cho
tất
cả
những
người
gửi
tiền.
"Bảo
hiểm tiền
gửi là
cam
kết
công khai
của
tổ
chức
BHTG
đối
với
tổ
chức
tham
gia
BHTG
về
vic
tố
chức
BHTG
Oanh(2004)].
Đây
là
định
nghĩa
chỉ ra
khá rõ mối
quan
hệ
giữa
ba
đối
tác
trong
hợp
đổng
bảo
hiểm
tiền
gửi;
đó
là
tổ
chễc
nhận
BHTG,
tổ
chễc
tham
gia
gửi
thuộc
đối
tượng
được
bảo hiểm
tại
tổ
chễc
tham
gia
BHTG
khi tổ
chễc
đó
bị
chấm
dễt
hoạt
động
và mất
khả
năng
thanh
toán.
Tổ
chúc
tham
gia
BHTG là các ngân
tiền
bảo
hiểm cho người
gửi
tiền
trong
trường
hợp
tổ
chễc
đó mất
khả
năng
thanh
toán
và
bị
cơ
quan
có
thẩm
quyền
chấm
dễt
hoạt
động.
Người
gửi
tiền thuộc
đối
tổ
chễc
BHTG
nhưng
có
quyền
yêu cầu
được
thanh
toán bảo
hiểm
trong
trường
hợp
tổ
chễc
tham
gia
BHTG
bị
phá
sản
hoặc
bị
chấm
dễt
hoạt
động
và mất
khả
có
những
mục
đích
cụ
thể
khác
nhau,
nhưng nhìn
chung
hoạt
động
bảo
hiểm
tiền
gửi
đều nhằm
thực hiện
bốn
mục
tiêu sau đây:
• Bảo vệ
ngưỡi gửi
tiền
khỏi
các tác động xấu
do đổ
vỡ ngân hàng
Ngưỡi
gửi
động của các
tổ chức
huy động
tiền
gửi.
Qua nghiên cứu của
nhiều
nhà
kinh
tế
cũng
chỉ
ra
rằng:
Đỡi sống
của
những
ngưỡi
gửi
tiền
có
thu nhập
thấp
thưỡng bị tác động
nhiều
hơn các
khách hàng
khác
khi
xảy
vì
vậy,
nếu xảy ra
đổ
vỡ
ngân hàng sẽ
gãy xáo
trộn
cuộc sống
của một
bộ
phận lớn
dân
cư,
dẫn
đến
tình
trạng
mất ổn
định
xã
hội
và
nhiều
hậu quả không
lưỡng
trước
được.
Ngoài
ra,
thấp
thưỡng
có
những
"ứng
xử quá
đỗi" khi
có
tin
đồn
thất
thiệt
về
ngân hàng. Chẳng hạn
khi
có
những
tin
đồn về
việc
ngân hàng
họ
gửi
tiền
hoạt
động không
tốt,
lo
lắng
cho
dây
chuyền
khiến
nhũng ngưỡi gửi
tiền tại
các
ngân hàng khác
cũng lo
lắng
chạy
đến ngân hàng rút
tiền
hàng
loạt
mà
không
do
nhu cầu
chi
tiêu chủ
quan.
Những
phản
ứng quá
đỗi
như
thế
rất
dễ gây nén
tình
Vì
vậy,
có
thể khẳng
định
việc
ngăn
chặn
đổ
vỡ ngân hàng hàng
loạt
và
bảo vệ
ngưỡi
gửi
tiền
là
những nhiệm
vụ
chính của
hoạt
động bảo
hiểm
tiền
gửi.
4
•
Góp
phần
đảm
Tổ
chức
BHTG
nhanh
chóng phát
hiện
và
xử lý kịp
thời
các
nguy
cơ
gây
đổ
vỡ của tổ
chức tham
gia
bảo
hiểm, điều
này
giúp
đảm
bảo
hoạt
đỗng an toàn lành
mạnh
của
tổ chức tham
gia
bảo
đỗng
nghiệp
vụ
tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi bằng
các
hình
thức
hỗ
trợ
phù
hợp giúp các tổ
chức
tham gia
bảo
hiếm
có
thể khắc phục
và
duy trì
hoạt
đỗng.
Đối với những
tổ
chức
hoạt
doanh
cùng
lĩnh
vực.
•
Góp
phần
xây
dựng
mỗt
thị
trường có tính
cạnh
tranh
và
bình đẳng cho
các
tổ
chức tài
chính có
qui
mô
và trình
đỗ
phát
triển
khác
nhau
Các
tổ chức
niềm
tin
rằng
Chính phủ sẽ không bao
giờ
đế các
tổ chức
như
vậy
phá
sản.
Ngược
lại,
các
tổ
chức
tín
dụng,
ngân hàng mới thành
lập
thường gặp khó khăn
trong việc
huy
đỗng vốn
vì
người gửi
tiền
thiếu
tin
tưởng
trường
cạnh
tranh
và
bình đẳng cho các
tổ chức
tài chính
có
qui
mô và
trình
đỗ phát
triển
khác
nhau.
• Qui định rõ trách
nhiệm
và
quyền
của
người
gửi
tiền,
tổ chức
tài chính,
chính phủ và
giảm
thiểu
gánh
nặng
cuối
cùng nhằm tránh
những
đổ
vỡ dây
chuyền,
bảo vệ
quyền
lợi
của nguôi
gửi
tiền
và
góp
phần
ổn
định
xã
hắi.
Như
vậy
là
gánh
nạng
đè lên
ngân sách chính phủ
mà xét đến
cùng là
tiền
thuế
hiểm.
Điều
đó
khiến
gánh
nặng
thuế
của người
dân được
giảm
nhẹ.
3.
Hợp
đồng bảo
hiểm
tiền
gửi
Khi
tổ chức
có
hoạt
đắng huy đắng
tiền
gửi
để
nghị tham gia
Bảo
hiểm
tiền
gửi
tiền
gửi
-
Tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi:
Là bên
cung
cấp
dịch
vụ
bảo
hiểm
tiền
gửi,
có
quyền
thu
phí
bảo
hiểm
từ
các
tổ
chức tham gia
bảo
hiểm
Bảo
hiếm
tiền
gửi:
Là bên mua bảo
hiểm,
có
nghĩa
vụ đóng phí bảo
hiểm
và
được bảo
hiểm
cho
những khoản
tiền
gửi
tại
tổ
chức
mình.
-
Người
hưởng
lợi
bảo
hiểm:
Là
các
tổ chức,
tại
tổ chức tham
gia
bảo
hiểm
tiền
gửi.
Giá
trị
bảo
hiểm
có
thể
là toàn
bắ
tiền
gửi
tại
tổ chức tham gia
bảo
hiểm,
hoặc
là
tiền
gửi
thuắc
đối
tượng được bảo
hiểm
tại
gửi
nào làm cơ sở
tính
phí
bảo
hiểm tuy
thuộc
vào
chính sách
bảo
hiểm
tiền
gửi
của
từng
quốc gia
cụ
thể.
•
Số
tiền
bảo
hiểm
Trong
hợp
đồng
bảo
hiểm
tiền
gửi
có
khoản
tiền
gửi
thuộc
đối
tượng được
bảo hiểm
có
thể
nhận
được.
Hạn mấc
chi
trả
này áp
dụng
chung
cho
tất
cả các
khoản
tiền
gửi
thuộc
đối
tượng được
bảo
hiểm
ở
hiếm
cho
tiền
gửi
tại
tổ chấc
mình. Phí bảo
hiểm
được tính
theo
công
thấc:
Pa
=
r.
D
Trong đó:
Pa
là
phí bảo
hiểm,
r
là
tỉ lệ
phí bảo
hiểm,
D là số dư
tiền
gửi
của
phí
bảo
hiểm
sẽ
được
đề
cập
chi
tiết
trong
các
phần
sau của chương
này.
li.
VAI TRÒ CỦA
HOẠT
ĐỘNG BẢO HIỂM
TIẾN
GÙI
1. Bảo
hiểm tiên gửi
góp
phần củng côi niềm
tin
của
quần chúng với
hệ
thống
ngân hàng
tín
dụng,
trung
gian
thanh
toán
và
chấc
năng
tạo
tiền.
- Ngân hàng
làm
trung
gian
tín
dụng,
tấc
cầu
nối
giữa
người
có vốn
nhàn
rỗi
và
người
cần
vốn,
đây
hoạt
động này
diễn
ra liên
tục,
làm
tiền
đề và
điều
kiện
cho
nhau.
Với
chức
năng này ngân hàng vừa là
người
đi
vay,
vừa là
người
cho
vay.
- Ngân hàng làm
trung gian
thanh
toán
khi
họ
thực
hiện
theo lệnh
của
người gặi
tiền.
Với
chức
nâng
này,
ngân hàng đóng
vai
trò là
thủ
quỹ cho các
doanh
nghiệp
và các
tổ
chức,
cá nhân. Nền
kinh
tế thị
trường càng phát
triển,
chức
năng làm
trung
gian
thanh
toán càng được phát huy.
Hoạt
kinh tế
quốc
dân.
- Các ngân hàng
(trừ
ngân hàng
trung
ương) đều có khả năng
tạo
tiền
thông qua
việc
thực
hiện
chức
năng
trung gian
thanh
toán và
trung gian
tín
dụng.
Với
hai chức
năng đó, các ngân hàng có
thể tạo ra
tiền
ghi
sổ
thể
nhau;
trong
đó
chức
năng
trung gian
tín
dụng
là
chức
nâng cơ
bản,
nền
tảng
cho
việc
phát
triển
các
chức
năng
khác;
tuy
nhiên,
chức
năng
trung gian
thanh
toán
lại
chung
việc
thực
hiện tốt
cả ba
chức
năng trên
thể
hiện
trình độ phát
triển
cũng
như uy tín của hệ
thống
ngân hàng một
quốc
gia.
Hoạt
động bảo
hiểm
tiền
gặi
góp
phần
thực
hiện tốt
hơn các
chức
năng
của
về các
ngân hàng
trong
chừng
mực
nhất
định.
-
Hỗ
trợ
các
tổ chức tham
gia
BHTG
gặp khó
khăn,
trong
đó có
hỗ
trợ
tài
chính để giúp các ngân hàng
giửi
quyết
các khó
khăn,
duy
trì hoạt
động có
hiệu
tiếp
tục
bửo
vệ
quyền
lợi
cho
người gửi
tiền
chưa được
thanh
toán
hết
tiền
gửi
tại
tổ
chức tham gia
bửo
hiểm
bị
phá
sửn,
giửi
thể
và
duy trì quĩ
BHTG để
bửo
vệ
thanh
toán
cho
người
gửi
tiền.
Mặc dù
đối với
bửn thân tổ
chức
huy động
tiền
gửi
mất khử
năng
thanh
toán và
phửi
đóng cửa thì
việc
duy
trì niềm
tin
của công chúng
đối
với
họ
không
còn
quan
hiệu
quử.
Mật
khác,
tập
chung
vào
việc
thực
hiện
các
nghiệp
vụ
kiểm
tra,
giám sát
hoạt
động của các
đơn
vị
tham gia
BHTG
nhằm ngăn
chặn
kịp
thời
những
biểu
hiện
có
hiểm
tiền
gửi tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho hệ
thống
ngân
hàng phát
triển
Các
hoạt
động của
tổ chức
BHTG như đã
trình bày,
mang
lại
ý
nghĩa
củng
cố
niềm
tin
của công chúng
đối
với
hệ
thiện
và
9
nâng cao về uy tín
trong
cộng
đồng,
các ngân hàng sẽ
có
nhiều thuận
lợi
trong
việc
huy động vốn và
triển
khai
mạng
lưới hoạt
động,
cải
tiến
dịch
vụ,
đa
dạng
hoa
dịch
vụ Vai
trò
của
hoặc
ngân hàng
với qui
mô
hoạt
động hạn chế
có
điều
kiện
phát
triển tốt
han:
Trong
nền
kinh
tế thị
trường,
xét
về góc độ
huy động vốn
thì
lợi
thế
luôn
thuộc
về các ngân hàng
lớn
có bề dày uy
tín
và
gổi
thì
người
gổi
tiền
ở
các ngân hàng đều được bảo vệ
như
nhau,
nhờ
đó
xoa
đi
tâm lý
e
ngại
mất
tiền
của
người
gổi
tiền
khi gổi
tiền
vào các
đơn
vị huy động
tiền
gổi qui
mô
kinh
doanh
ngân hàng một cách
có
trật
tự,
không ảnh
hưởng
tới
các ngàn hàng khác
và
toàn
bộ
hệ
thống
ngân
hàng.
Thông qua
nghiệp
vụ
kiểm
tra
giám sát của mình,
tổ
chức
BHTG
có khả
nâng đánh
giá
kịp
hỗ
trợ
như: (1)
đưa
ra
phương
án
sát
nhập
với
ngân hàng khác,
(2) chi
trả
BHTG
cho
người
gổi
tiền
thuộc đối
tượng
BHTG,(3)
tham
gia
vào quá trình
thanh
lý
tài sản của ngân hàng
đó để
tiếp
tục
pháp
này,
sẽ giúp các ngân
hàng
khó
khăn
có
thể
sớm
chấm dứt
hoạt
động,
xổ lý
nhanh
gọn
các
trách
nhiệm
đối với
chủ
nợ,
do đó có ý
nghĩa
to lớn
trong
việc
duy trì
niềm
tin
của
lẫn
nhau,
thúc đẩy
nhau
nâng cao
chất
lượng
hoạt
động.
Tổ
chức
BHTG
hoạt
động
trên
cơ
sở thúc đẩy
cơ
chế
hỗ
trợ lẫn
nhau
trong
cộng
đồng các
tổ chức
huy
động
tiền
gửi
cho các ngân hàng
tham gia
BHTG có
nhu cầu giám sát
lẫn
nhau
trong
hoạt
động, đặc
biừt
là
ở
những
nước
mà các
thành viên
tham gia
BHTG
đóng góp cho
tổ chức
BHTG
theo
hình
thức
"đóng góp
sau".
Hình
thức
đóng góp sau là hình
thức
thực tế
của
ngân
hàng bị
đổ
vỡ. Với
hình
thức
này, các
tổ chức tham
gia
BHTG
sẽ
nỗ
lực
giám
sát
hoạt
động của
nhau
để
tránh tình
trạng
ngân hàng
hoạt
động
tốt
phải
đóng
góp để hỗ
un
viừt
để
ngân
hàng
có
thể
huy động
phục
vụ đầu tư
phát
triển
kinh
tế
của đất
nước.
Học
thuyết
về tăng trưởng
kinh
tế
của
Mankiw
(1992)
đã
khẳng
định
nguồn
vốn
từ
dân cư
là
nguồn
vốn
có
tính
ổn
định
cao
và có
thời
hạn dài
nên
thuận
lợi
cho đầu tư kì
hạn.
Mặc dù
đối với
các ngân hàng
lớn,
ngoài
nguồn
tiền
gửi
của cá
nhân,
họ còn
thu
hút được
triển
dài
hạn.
Sự
biến
động
lớn
về
tiền
gửi
của
dân cư
tuy
thuộc nhiều
vào
tính
ổn
định của
hừ
thống
ngân hàng.
NẾU
ngân hàng
hoạt
động
có
hiừu
quả,
trả
lãi huy động vốn
gửi
cá nhân.
Tổ
chức
BHTG
với
các
hoạt
động của
họ như
nêu
ở
trên,
thực chất
là
tạo
điều
kiện
cho ngân hàng
hoạt
động
có
hiệu
quả
đế
ngân hàng
có
thễ
cung
cấp
thực chất
họ
cung
cấp
đảm
bảo cho
người
gửi
tiền.
Như
vậy
tổ
chức
BHTG
đã
tạo ra
các yếu
tố
trực
tiếp
và gián
tiếp
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
ngân hàng
trong
huy
động
loại tiền
gửi thuộc đối
tượng bảo
hiếm
sẽ
có
xu
thế
tăng.
Ngược
lại,
tốc
độ
huy động
loại tiền
gửi
không
thuộc đối
tượng bảo
hiễm
sẽ
có
xu hướng
giảm
khi
có
hoạt
động
đi vào
hoạt
động đã
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho các tổ
chức
tín
dụng
huy động vốn tăng trưởng
mức
bình
quân là 20%/năm [Bùi
khắc
Sơn
(2005)]
và mức
tăng trưởng
này dự
tính
sẽ
còn cao
hơn
trong
những
năm
tiếp
1.
Các
loại
hình Tổ chức bảo hiểm
tiền
gửi
Tô
chức
bảo hiểm
tiền
gửi
thuộc
sở
hữu nhà nước
Xuất
phát
từ
bản
chất
của
hoạt
động
BHTG
là
loại
hoạt
động
cung
cấp
dịch
chức
dưới
hình
thức
là
12
một
cơ
quan quản
lý nhà
nước.
Theo
đó, sự
kết
hợp
giữa
tổ
chức
BHTG
với
ngân hàng
trung
ương,
cơ
quan điều
hành và
kiểm
soát toàn bộ hệ
thống
ngân
hơn.
Theo
nghiên cứu
của
Garcia (1990)
có ba
yếu
tổ
cơ
bản
quyết
định
tổ
chức
BHTG
nên
tổ
chức
theo
hình
thức
sở hữu
nhà
nước:
- Khả năng
củng
cố và duy
trì
niềm
tin
về
các
tổ
chức tham
gia
BHTG
phụ
thuộc
vào các cơ
quan
nhà
nước.
Theo
khảo sát của Kunt
và
Sobaci (2000)
trên 68
quốc
gia
có
hoạt
động
BHTG
thì
có đến 33
quốc
gia tổ
chức
theo
mô
tài
chính.
Vốn thành
lập
ban đẩu và hỗ
trợ
khi
cần
thiết
sẽ
được nhà nước
đảm
bảo.
Tổ
chức
bảo hiểm
tiên
gửi
thuộc
sở
hữu
tư
nhân
Tại
những quốc
gia
mà
việc
điều
hành hệ
chức
BHTG
có
thể
được
tổ
chức
theo
hình
thức
sở
hữu tư
nhân.
Nghiên cứu cả
Kunt
và
Sobaci
cho
biết
trong
68
quốc
gia
thì
11
quốc
gia
có
hệ
thống
khi
có đổ vỡ ngân hàng
xảy
ra
để bù đắp
cho khoản
tiền
đã
thực
hiện chi trả
BHTG.
13
• Có khó khăn
trong việc
thu thập
thông
tin
từ
các đơn
vị
thực
hiện
chức
năng
thanh
tra
ngân hàng và
từ
ngân hàng
trung
chức
BHTG
theo
hình
thức
sở
hữu tư nhân được thành
lập
dưới
hình
thức
công
ty
cổ
phần,
do
hiệp
hội
ngân hàng của
quốc
gia
tổ
chức,
được thành viên
tham
gia
và đóng góp
vốn là
các ngân hàng và
tổ
nhân
thuận
tiện
trong việc
phát huy được ưu
thế
và hớn chế
được
những
nhược
điểm
của
mỗi
hình
thức
đơn
lẻ.
Hiện
trên
thế
giới
có
khoảng
30 hệ
thống
BHTG
áp
dụng
hình
thức
thành
lập hoớt
động
BHTG
cần
nghiên cứu đặc
điểm
phát
triển
của hệ
thống
ngân hàng nước mình để
từ
đó có
những
quyết
định
đúng đắn
trong việc
xác
định
hình
thức tổ
chức
phù hợp nhằm
đớt
được
những
mục
tiêu
mục
tiêu đề
ra,
tổ chức
BHTG
cần
tiến
hành
công
tác
kiểm
tra
khách
hằng
theo
2 giác
độ: Kiểm
tra
việc
chấp
hành các
qui
định
về
BHTG; Và
kiểm
tra việc
chấp
hành các
qui
thông
tin
cho
tổ
chức
BHTG
thông
tin
về
tổ
chức tham
gia
BHTG,
và
qui
định về tính và nộp phí
BHTG.
Các
qui
định về
đảm
bảo an toàn
trong
hoớt
động ngân hàng bao gồm:
qui
định về
tổ
chức
bộ
các
nghiệp
vụ
ngoại
bảng,
qui
định về liên
doanh,
liên
kết
Việc kiểm tra
không chỉ nhằm phát
hiện
những sai
phạm
trong việc
chấp
hành
những qui
định của
BHTG, mà còn
nhằm phát
hiện
những
ngân
hàng
hoạt
động yếu
kém để có
biện
có
hiệu
quả,
tổ
chức
BHTG
cần
có
qui
trình,
nội dung,
trình
tự
kiểm
tra
có
tính
khoa
học
sao
cho công tác
kiểm tra
của tổ
chức
BHTG
trở
thành cần
thiết
và
hạn chế
hoạt
động
có
tác
dụng
kích thích tính tự
giác tuân
thủ
kỷ
cương khách hàng.
Như
vậy sẽ giúp nâng cao
hiệu
quả công
ích
của
hoạt
động
BHTG.
2.2.
Giám
sát
các
tổ
chức tham gia
bảo
hiểm
tiền
gửi
Công tác giám sát
động của
tổ chức tham gia
BHTG và
từ
đó đưa
ra
các
khuyên
nghị
uốn nắn
hoạt
động của các
tổ
chức
đó
với
mục
đích
đảm
bảo tuân
thủ
các
qui
định về
BHTG
và
qui
định về an toàn
trong
hoạt
hành công tác
kiểm
tra
thường xuyên khách
hàng
có
thể
sẽ là khó khăn cho cả
tổ chức
BHTG
lẫn tổ chức tham
gia.
Hoạt
động
giám sát cho phép
tổ chức
BHTG có
thể
tiến
hành
kiểm
tra
theo
phương
pháp
chọn
mẫu, không
nhất
thiết
phải
tổ
chức tham gia
bảo
hiểm
tiền
gửi
Nghiệp
vụ hỗ
trợ
khách hàng của tổ
chức
BHTG
bao gồm:
Hỗ
trợ
tài
chính,
hỗ
trợ
ổn
định
tổ chức
(trường hợp sát
nhập
với
các
ngân hàng
khác),
hỗ
trợ
hiặm
tiền
gửi
có
vai
trò đặc
biệt
quan
trọng
đối với
mục
đích duy trì
và
phát huy tính
ổn
định,
an
toàn
trong
hoạt
động của hệ
thống
ngân hàng
quốc
gia.
Tổ
chức
BHTG
thực
hiện
biệt
là tài sản
có
chưa đến hạn
thanh
toán
đặ
củng
cố
khả năng
thanh
khoản
của
họ;
bảo lãnh cho
tổ
chức tham
gia
BHTG
đi vay vốn
tại
các đơn
vị
khác.
Có
những
hỗ
trợ
ổn
định
tiền
gửi
tại
tổ chức
đó.
Từ
đó có
phương
án hỗ
trợ
đặ ổn
định
và
nâng cao năng
lực quản ly
của tổ
chức tham
gia
trên
cơ
sở đưa
ra
các khuyên cáo
đổi
mới
cơ
cấu
tổ chức, hoặc
tìm
đối
hiện rất tốt trong
nhiều
năm
qua
[FDIC
(1998)].
Tổ
chức
BHTG
còn
có
các
hoạt
động hỗ
trợ
kĩ năng
hoạt
động trên
lĩnh
vực
tài chính, ngân hàng
đối với
tổ
chức tham gia
BHTG.
Hoạt
động
này có
thặ
được
cán bộ
nhưng vẫn duy trì được
hoạt
động
bình thường của
tổ
chức tham
gia
BHTG.
-
Tổ
chức
các
lớp
đào
tạo
nghiệp
vụ cho cán
bộ,
viên
chức
của
tổ chức
tham
gia
BHTG.
16
-
Cử
cán
các tổ
chức tham gia
BHTG
thực
hiện
công tác tuyên
truyền
và
phổ cập các
kiến
thức
về BHTG
tới
đông
đảo
quọn
chúng nhân dân.
2.4.
Chi
trả
tiền
bảo
hiểm và giám
sát
thanh
lý
tài
sản sau chi
trả
bảo hiểm
lãi
theo
một
mức độ
nhất
định
tuy
thuộc
vào
qui
định
về hạn
mức
chi
trả
tiền
bảo
hiểm
ở
mỗi hệ
thống
BHTG.
Việc chi
trả
bảo
hiểm
sẽ được
thực
hiện
khi
gia.
Mục
đích của
hoạt
động
chi
trả
tiền
BHTG
là nhằm
tạo ra
cơ
chế
đảm
bảo
quyền
lợi
cho
người
gửi
tiền
cả
về giá
trị
lẫn
hình
thức thực
hiện.
Về
mặt giá
về
hình
thức, nghiệp
vụ
chi trả
tiền
bảo
hiểm
cọn được
thực
hiện
sao cho
đảm
bảo tính kịp
thời,
thuận
tiện
và an
toàn
quyền
lợi
của
người gửi
tiền.
Việc chi trả
chậm
trễ,
thủ
tục
phiền
toàn của ngân hàng
khác trên địa bàn.
Thông thường
ở
nhiều
quốc
gia
có
hoạt
động
BHTG,
tổ chức
BHTG có
vai
trò
quan
trọng trong việc
quản
lý các
mối
quan
hệ
tài chính của
tổ chức
tham
gia
BHTG
sau
chi
trả
việc
thanh
toán các
khoảnxông,
nợ
của tổ
,
|<-ìư
Vii
N
chức tham
gia
BHTG
đã được
chi
trả
tiền
bảo
hiếm
Ị,ì
•',, .,.
„nc
Ị
•
ỉ
ÃÃS'
3.
Các nhân
tô
ảnh
góp như
đóng
góp
ban đầu,
đóng
góp
thường xuyên, đóng
góp
sau Nhưng cách phân
loại
phổ
biến
trên
thế giới
vẫn là đóng góp trước
và
đóng
góp
sau.
Dưới
đây
sẽ
xin
trình
bày về
hai
hình
thức
đóng góp này.
• Hình thức đóng
thành viên bị
phá sản
coi
như đã
chi trả
phí
xử
lý
phá
sản.
Nguồn quỹ
này có
thề
được
bổ
sung
thêm
bằng
các
khoản
lệ
phí
và
phí bảo
hiểm
do các
tổ
chức
thành viên
góp sau
tổ chức
bảo
hiểm
sẽ không được
dùng
vào các mục
đích khác
như
cho vay sản
xuửt,
cho vay tiêu dùng Do
vậy,
nếu
áp
dụng
cơ
chế
góp vốn trước thì
tổ chức
bảo
hiểm
tiền
gửi
phải
đảm
bảo quản
lý
tốt
quỹ bảo
hiểm
đầy
đủ
và chính xác.
Hình
thức
đóng
góp
trước hay đóng phí thường xuyên được
nhiều
tổ
chức quan
tâm áp
dụng.
Tuy nhiên
khi
áp
dụng
hình
thức
đóng phí này khách
hàng
tham
gia
BHTG
cần xác định
loại tiền
gửi
thuộc
đối
tượng
BHTG
hàng năm
mà
một
tổ
chức tham
gia
BHTG
cần
đóng.
18
r:
là
tỉ lệ
phí bảo
hiểm
áp
dụng
đối với tổ
chức tham
gia
BHTG.
D:
là số
dư
tiền
gửi
của các
tổ chức tham gia
bảo
phí đồng hạng:
Là
hình
thức
đóng
góp
tài chính cho
tổ chức
BHTG
theo
một
tữ
lệ
thu
phí
BHTG
chung
áp
dụng
cho
tất
cả các
tổ chức tham gia
BHTG
trong
cùng một
hệ
thống
BHTG
của
một
tỉ
lệ
phí
BHTG,
nên nhu cầu
phải
đánh giá chính xác tình hình
hoạt
động của
từng
tổ chức tham
gia
là
điều
không
nhất
thiết
trong việc
xem
xét trách
nhiệm
tài chính của
tổ chức tham
gia
BHTG
đối với
tổ chức
BHTG. Ưu
điểm
đẩu
bằng
việc
áp
dụng
đóng góp
tài
chính
theo
phí đồng
hạng.
Hạn chế:
Tữ
lệ
phí
BHTG
đổng
hạng
áp
dụng chung
cho mọi khách
hàng sẽ
có
thể tạo
nên các
biểu hiện
ữ
lại
xét về
góc độ
Là
đóng phí bảo
hiểm
theo
tữ
lệ
phí bảo
hiểm
có
phân
biệt
căn cứ vào
độ
rủi
ro
trong
hoạt
động của mỗi tổ
chức tham
gia
BHTG.
Theo
hình
thức
này,
cơ
sở
để
xác định
tữ
động
tốt, rủi
ro
thấp
sẽ
đóng bảo
hiểm
theo
tữ
lệ
phí
thấp
hơn.
ưu điểm: Thu phí
theo
tữ
lệ
phí không đồng
hạng
có
phân
biệt
theo
độ
rủi
ro
trong
hoạt
động của các
tổ chức tham gia thể