Phát triến du lịch trên địa bàn tỉnh bo kẹo cộng hoà dân chủ nhân dân lào - Pdf 33

21
lịch của CHDCND Lào nói chung và du lịch tỉnh Bo Kẹo nói riêng sẽ mất đi
MỞ ĐẦU
những cơ hội phát triến.
Tỉnh Bo Kẹo có vị trí nằm trong khu vực "Tam giác vàng", là một tỉnh có
1. Tính cấp thiết của đề tài
địa hình cả đồng bằng và miền núi, có vị trí thuận lợi cho việc phát triến kinh tế,
thương Cùng
mại vàvớidusựlịch,
trêntriến
cơ sở
tỉnh miền
núi phía
phát
củaliên
lịchkếtsửgiữa
loàicác
người,
các hoạt
động Tây
kinhBắc
tế
Lào
Trung
Thái càng
Lan và
Bo Kẹo
là một
diễn với
ra với
quyQuốc,

biên giới
Có kinh
nhiềutếđiều
nhiên phố
rất phong
nhiều
lam
trở thành
hiệnnhư:
tượng
- xãkiện
hộithiên
(KT-XH)
biến, phú,
là cầu
nối danh
tình hữu
thắng
cảnh,
có truyền
thống
cácvàdân
tộc,
vậy,các
nếuquốc
khai gia,
thácdân
tốt các
nghị, là
phương

sẽ
trở
thành
một
ngành
kinh
tế
chủ
yếu.
với tốc độ cao, đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội.
Như
lịch Cộng
tỉnh Bo
chỉ xuất
thực tiễn,
Trongvậy,
thờiphát
giantriển
qua,dunước
hoàKẹo
Dânkhông
chủ Nhân
dânphát
Làotừ(CHDCND
góp
đẩythực
tănghiện
trưởng
kinh
- xã

lý của Nhà
trong
theo. xã
Vớihội
lý do
tôi chọn
đề tài bước
“Phátđầu
triếnđãduđạt
lịchđược
trên
nước giai
theo đoạn
địnhtiếp
hướng
chủđó,nghĩa
(XHCN),
địa
bàn
tỉnh
Bo
Kẹo
Cộng
hoà
Dân
chủ
Nhân
dân
Lào”
làm

quốc tế, nên
năng
chủsốđộng
ra nghiên
các dự cún
án hợp
còn
CHDCND
Lào khả
đã có
một
côngđưa
trình
về tác
du lịch
nhiều
hạn
chế.
Bên
cạnh
đó,
những
yếu
tố
như
dịch
vụ
chưa
đa
dạng,

Phêng
(Thac
Khon).thách
Côngthức
trìnhlớnnghiên
cún ngành
tiêu biểu
của nói
tác
chung
với Phăn
các doanh
du lịch Phát
nói riêng.
tế trên
này dẫn
giả
Làovàlàđối
Hụm
Khua nghiệp
Pa Sít (2008),
triển Thực
du lịch
địa tới
bànnăng
tỉnh
lực cạnhPha
tranhBang
của ngành
sản phẩm

thức trong
ngàytương
càng lai.
lớn đối với du lịch của CHDCND
gian
lượcthách
phát triển
Lào nóiCác
chung,
du
lịch
Bo
Kẹo
nói
riêng.
công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam khá đồ sộ, trong đó
khách
quốc
do các
hànhNguyễn
quốc tếĐức
lớn Lợi:
chi
phải kếHiện
đến tại
mộtnguồn
số công
trình
tiêutế biếu
sau:công

Ba Vì (Hà Tây cũ) đế phát triến du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và du
lịch khám phá.
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hạnh: Những đặc diêm tài nguyên
du lịch Thủ đô Hà Nội phục vụ khai thác hoạt dộng kinh doanh du lịch, Hà
Nội 1997. Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận chung về tài nguyên du
lịch, đánh giá thực trạng những đặc điếm tài nguyên du lịch của Thủ đô Hà
Nội và khai thác tài nguyên du lịch phục vụ kinh doanh du lịch, đế xuất các
giải pháp đế khai thác tài nguyên du lịch phục vụ kinh doanh du lịch một cách
có hiệu quả.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lài (2008) Khai thác tiềm
năng du lịch đê phát triền kinh tế - xã hội ở tỉnh Quảng Bình, Học viện Chính
trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội lại tập trung nghiên cứu, đề
xuất giải pháp nhằm khai thác tiềm năng, điều kiện tụ’ nhiên, văn hoá, lịch
sử... ở tỉnh Quảng Bình mà theo tác giả, đến nay chưa khai thác hết. Luận văn
thạc sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Cường (2008) với tiêu đề Du lịch Nghệ An
trong hội nhập kinh tế quốc tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội lại nhìn nhận sự phát triến du lịch địa phương trong bối
cảnh tăng cường giao lưu và hợp tác kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia, vùng
lãnh thố. Theo đó, nhu cầu du lịch ngày càng tăng và chính quyền địa phương
cần thực hiện nhiều giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả xu thế này. Luận


4

văn thạc sĩ của Thái Viết Tường (2006): Du lịch văn hoá ở tỉnh Quảng Nam,
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội lại tập trung
khai thác mảng văn ho á - thế mạnh của tỉnh Quảng Bình với các di tích Mỹ
Sơn, Hội An, Phong Nha - Kẻ Bàng và bề dày truyền thống văn hoá của mỗi
địa phương trên địa bàn tỉnh. Luận văn thạc sĩ của Trần Mạnh Chí (2007) với
chủ đề Giải pháp phát triến du lịch trở thành ngành kỉnh tế mũi nhọn ở Hà

văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đề cập đến dưới góc độ quản lý kinh tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
về du lịch; thông qua việc nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển du lịch
trong thời gian qua tại tỉnh Bo Kẹo, rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và
nguyên nhân, qua đó, đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp phát triển
du lịch tỉnh Bo Kẹo trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Đe thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề
tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phân tích về mặt lý luận khái niệm, đặc điếm, vai trò, nội dung của du
lịch và phát triển du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển
kinh tế - xã hội ở Lào nói chung và ở cấp tỉnh nói riêng.
- Rút ra những bài học đối với tỉnh Bo Kẹo qua nghiên cứu kinh nghiệm
phát triển du lịch của một số tỉnh của Việt Nam và một số tỉnh của Lào.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Bo Kẹo trong
thời gian qua. Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân.
- Đe xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch tỉnh Bo
Kẹo đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn xác định phát triến du lịch trên
địa bàn tỉnh Bo Kẹo. Phát triển du lịch tỉnh Bo Kẹo, đặt mối quan hệ với quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và phát triến trên phạm vi
vùng, quốc gia.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
về không gian: Đe tài giới hạn không gian nghiên cứu trên địa bàn tỉnh
Bo Kẹo.


6


-

Khái niệm về du lịch

Thuật ngữ "Du lịch" trong tiếp Pháp là "Le Tour" - đuợc hiểu là đi một
vòng và quay về điểm xuất phát ban đầu. Theo nghĩa đen, thuật ngữ này chưa
bao hàm được tính đa dạng, phong phú của các hình thức du lịch cũng như
chưa phản ánh đầy đủ các biếu hiện khác nhau của hoạt động du lịch. Theo
tiếng Hy lạp, thuật ngữ này là "tomos" - cũng có nghĩa là đi một vòng. Thuật
ngữ "du lịch" trong tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán với sự ghép nối giữa
"du - đi chơi, tham quan" và "lịch - ngắm nhìn, xem xét". Hai tác giả người
Thuỵ Sỹ là Hunziker và Krapf đã xây dựng nền móng cho lý thuyết về du
lịch với định nghĩa: Du lịch là tông họp các mối quan hệ và các hiện tượng
phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của nhìữĩg người ngoài địa
phương - những người không có mục đích định cư và không liên quan đến bất
cứ hoạt động kiếm tiền nào. Định nghĩa này đã khái quát một cách chung nhất
hoạt động du lịch, cụ thế là hoạt động đi du lịch của các chủ thế tham gia.
Mặc dù chưa bao quát hết những đặc trưng và các loại hình du lịch nhưng
định nghĩa này đặt co sở quan trọng cho các nghiên cứu co bản tiếp theo.
Theo Liên Hiệp quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International
Union of offícial Travel oragnization: IUOTO). Du lịch được hiểu là hành động
du hành đến một nơi khác với địa điếm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục
đích không phải để làm ăn, một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống [6, tr.l].
Tại Hội nghị Liên Hiệp quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 5/9/1963) các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là


8

tống hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế, bắt nguồn tù’
các hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường

nhằm mục đích tham quan, tìm hiếu, khám phá, trải nghiệm. Có thế định
nghĩa một cách ngắn gọn: Du lịch là hình thức nghỉ ngơi năng động ngoài
môi trường định cư.
-

Khái niệm hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức cá nhân kinh

doanh du lịch, cộng đồng dân cư và co quan tổ chức, cá nhân có liên quan đến
du lịch. Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động du lịch là khách du lịch.
Đó là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trù’ trường họp đi học, làm việc
hoặc hành nghề đế nhận thu nhập ở noi đến. Hoạt động du lịch là một tồn tại
khách quan của con người nằm trong nội tại của sự phát triến xã hội loài
người. Hoạt động thông qua du lịch, nhu cầu giao lun và hưởng thụ vật chất,
tinh thần của con người phát triến cùng với sự phát triến kinh tế - xã hội của
đất nước, vùng, địa phưong. Do vậy, hoạt động du lịch luôn được đặt ra và
phát triển theo nhu cầu của con người [4, tr.5].
Có thế nói, bản chất du lịch và hoạt động du lịch là du ngoạn của con
người đế được hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn
hoá cao, đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương đất nước họ, bao gồm hệ
thống di tích lịch sử - văn ho á - phong tục tập quán, cảnh quan thiên nhiên,
văn hoá - nghệ thuật, món ăn - thức uống dân tộc, cơ sở nghỉ dưỡng - chữa
bệnh, cơ sở thể thao giải trí...Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử - văn
hoá, danh lam thắng cảnh thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc.
-

Khái niệm kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là quá trình tố chức sản xuất, lun thông - mua, bán hàng

hoá du lịch trên thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội.


Kinh tế du lịch
Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội

dung sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển du
lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dường của nhân dân và
khách quốc tế. Góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội [2, tr.10].


11

Dựa vào khái niệm trên có thế hiếu du lịch là ngành kinh tế có tính tống
hợp, lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phấm, du lịch cần thiết
cho khách du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch của họ.
Kinh tế du lịch ở một số nước phát triển mạnh, đây không phải là một sự
ngẫu nhiên, mà do Chính phủ một số nước đã quan tâm phát triển du lịch theo
hướng phát ngành kinh tế mũi nhọn. Do đó, ngành du lịch phát triển rất năng
động trong việc kế hoạch hoá đầu tư thành ngành du lịch quốc gia liên kết chặt
chẽ với ngành thương mại du lịch của các nước trên thế giới.
1.1.2. Đặc điếm của du lịch
Cùng với sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ về văn minh, vật chất,
văn minh tinh thần của loài người, du lịch nghỉ phép, nghỉ ngơi mang tính vui
chơi, giải trí dần dần trở thành thói quen của du lịch hiện nay. Đồng thời các
hình thức du lịch với mục đích khác đó là hoạt động du lịch nhằm thoả mãn nhu
cầu đặc biệt của mọi người như du lịch văn hoá, du lịch thăm viếng di tích, du
lịch điều dưỡng, du lịch thám hiểm, du lịch khảo sát... ngày càng đa dạng, nội
dung của hoạt động phát triển du lịch ngày càng phong phú. [21, tr.46].
-Du lịch vừa là kinh tế, văn hoá tinh thần
Có thế nói, cho đến nay du lịch là ngành kinh tế mang lại lợi nhuận cao
cho mồi quốc gia (ngành công nghiệp không khói), quốc gia nào biết cách phát

triển, tăng trưởng của hàng loạt các nước trên thế giới đã khiến mọi người
phải nhận thức lại vai trò của văn hoá. Năm 1988, Tố chức Giáo dục văn hoá
Liên hiệp quốc (UNESCO) đã tuyên bố đế mở đầu thập kỷ thế giới phát triển
văn hoá nhấn mạnh: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ vừa qua cho thấy trong
mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào, xu hướng
chính trị và kinh tế nào, văn hoá và phát triển là hai mặt gắn liền nhau”.
“Nước nào tự’ đặt cho mình mục tiêu phát triến kinh tế, mà tách rời môi
trường văn hoá thì sẽ xẩy ra mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn
hoá và khả năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”[l 5].
Xuất phát tù' bài học kinh nghiệm của dân tộc, tiếp nhận thành tim trí
tuệ của thời đại, Đảng và Nhà nước Lào đã có nhận thức mới về vai trò của


13

văn hoá trong phát triển. “Kinh tế và văn hoá gắn liền với nhau hết sức chặt
chẽ, kinh tế không tụ’ mình phát triến nếu thiếu nền tảng của văn hoá, văn hoá
không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế. Phát triển trên cơ sở hài hoà
kinh tế và văn hoá là sự phát triển năng động có hiệu quả và vững chắc
nhất”[15].
Ngày 09 tháng 12 năm 1986, Liên hệp quốc (LHQ) thông qua nghị
quyết tuyên bố thập kỷ 1988 - 1997 là: "Thập kỷ thế giới vì sự phát triến văn
hoá”. Kêu gọi các quốc gia, các cộng đồng dân tộc trên toàn thế giới thừa
nhận vị trí quan trọng của văn hoá trong phát triến. Điều đó càng chứng minh
rằng, văn hoá là món ăn tinh thần, là tất yếu không thể thiếu đế phát triển du
lịch. Có như vậy, văn hoá thực sự là món ăn tinh thần trong mỗi du khách.
-

Du lịch gắn với điểu kiện thiên nhiên, khí hậu, phong tục tập quán.


rước dâu, hay phong tục trước khi đi lấy vợ chú rế phải về nhà cô dâu ngủ
trước vài tháng như dân tộc Thái của Việt Nam.
Trong phát triển du lịch, trình độ văn hoá của người dân là nhân tố
quan trọng góp phần vào phát triến du lịch, con người thân thiện, hiền hoà,
truyền bá những điều tốt đẹp của đất nước, con người là điểm đến cho những
người thân quen có thể tạo được làn sóng du lịch mới. Phần lớn những khách
thăm quan và đều là người có trình độ văn hoá, nhất là người đi du lịch nước
ngoài. Người có trình độ văn hoá cao, đòi hỏi đi du lịch càng lớn, chất lượng
du lịch là một phần quan trọng, họ muốn khám phá những nét truyền thống
văn hoá, phong tục tập quán của điếm đến.
Du lịch gắn liền với thiên nhiên, là tài nguyên thiên nhiên ban tặng đế
cho con người tiến hành các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi, điều dưỡng, du
ngoạn, tham quan bao gồm: sông, núi, hang động, thác, rừng, chim thú quý
hiếm, hoa thơm, cỏ lạ... Tóm lại, có thế chia ra ba nhóm chủ lực là: tài nguyên
du lịch sông núi, tài nguyên du lịch khí hậu và tài nguyên du lịch sinh vật...cụ
thể do thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông như đường sông, đường bộ, đường
hàng không... là trung tâm của vùng kinh tế phát triến năng động, trên thế
giới. Đây là một nhân tố cơ bản đế phát triến du lịch. Quốc gia nào có nhiều
tài nguyên thiên nhiên thì quốc gia đó có nhiều tiềm năng lớn đế thu hút được


15

nhiều khách du lịch đến thăm quan.
Các điều kiện về tài nguyên du lịch là một yếu tố quan trọng đế phát triến
du lịch. Một quốc gia, một vùng có nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội phát
triển cao, song nếu không có tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển du
lịch được. Tiềm năng về du lịch là có hạn, nhất là đối vói tài nguyên thiên nhiên
những cái mà thiên nhiên ban tặng cho một số vùng và một số nước nhất định
hay do con người tạo ra. Vì vậy, chúng ta chia tài nguyên du lịch làm hai nhóm:

phương nơi khách đến, những sản phẩm lưu niệm, những sản phẩm của các
làng nghề, văn hoá cổ, những ngôi làng cổ, cái quan trọng hơn cả là sự thân
thiện, mến khách, sự lôi cuốn thu hút du khách quay trở lại...Cơ sở hạ tầng,
khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí và các dịch vụ khác, tất cả những
thứ đó làm cho sản phấm du lịch trở nên phong phú, đa dạng.
1.1.3.
-

Vai trò của du lịch trong phát triến kinh tế - xã hội ỏ’ Lào

về mặt kinh tế

Các nước trên thế giới coi du lịch là ngành công nghiệp không khói, là
“con gà đẻ trúng vàng”, tức là ngành thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều công ăn
việc làm, bán hàng, tiếp thị xuất khấu, tăng nguồn thu ngoại tệ, ngoại giao và
các quan hệ kinh tế khác. Ngành công nghiệp du lịch được các nước trên thế
giới thừa nhận là một ngành kinh doanh có lợi nhuận và phát triển với nhịp độ
tăng trưởng cao, là ngành đóng góp chủ yếu cho kinh tế - xã hội. Theo tính
toán của WTTC, thu nhập của du lịch bao gồm cả du lịch quốc tế và du lịch
nội địa năm 2005 là 6,2 nghìn tỷ USD, tăng 5,4% so với năm trước, chiếm
3,8% GDP của thế giới. Neu tính cả những đóng góp trực tiếp và gián tiếp thì
ngành du lịch chiếm 10,6% GDP toàn thế giới. Hàng năm ngành này tạo ra
74,2 triệu việc làm, chiếm 2,8% lao động trên toàn cầu [26].
Thực tế cho thấy hoạt động du lịch nó tác động rất mạnh đến cơ cấu
cán cân thu, chi của vùng du lịch, của một đất nước. Đối với du lịch quốc tế,
việc mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở khu vực du lịch làm tăng tổng số
tiền trong cán cân thu chi của vùng du lịch và của một đất nước. Nguồn thu
nhập ngoại tệ từ khách du lịchh quốc tế của nhiều nước ngày càng tăng.
Chang hạn ở Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về du lịch quốc tể: Năm
1990, ngành du lịch nước này mang lại nguồn thu là 43 tỷ USD thì đến năm

hương đất nước mình làm ra đến với bạn bè thế giới, là kênh quảng cáo hữu
hiệu ra nước ngoài, giải quyết việc làm cho người lao động làm tăng thêm cơ
hội đầu tư...tạo điều kiện thúc đấy các ngành kinh tế phát triển.


18

-

về mặt xã hội

Du lịch phát triến sẽ góp phần tạo được nhiều công ăn việc làm cho
người lao động, làm giảm thất nghiệp đáng kế, thu hút một số lượng lao động
rất lớn, nâng cao mức sống của người dân. Đối với nhiều người, du lịch nhìn
nhận như một ngành kinh doanh sinh lợi cao. Vì vậy, xu hướng chuyến đối hay
chuyển hướng sang kinh doanh du lịch là một động co tổt để mọi người trao đổi,
bố sung các kiến thức cần thiết như ngôn ngữ giao tiếp văn hoá, lịch sử...
Du lịch làm cho con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và
cảm xúc mới, mở mang kiến thức. Hoạt động du lịch là một yếu tố đòi hởi
nhiều lao động dịch vụ với nhiều ngành nhiều trình độ khác nhau, do đó du
lịch càng phát triển thì càng có nhiều cơ hội tạo việc làm cho xã hội, góp phần
giải quyết vấn đề bức xúc nhất hiện nay.
Du lịch phát triển, tạo điều kiện đế mở rộng giao lưu văn hoá, tăng
cường sự hiếu biết và mở rộng tầm nhìn, học hỏi thêm kinh nghiệm làm ăn
buôn bán của nhiều nước, nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, thông qua
đó góp phần quan trọng nâng cao dân trí. Tuy những mặt này được tiến hành
một cách không chính thức, nhưng thường có hiệu quả cao.
Thông qua sự tiếp xúc trực tiếp và rộng rãi với du khách trong nước và
ngoài nước, mà nhân dân ở vùng sở tại, nước sở tại có điều kiện tiếp thu những
tinh hoa văn hoá, những lối sống tốt đẹp, phong cách giao tiếp lịch sự văn minh

ĐỘNG

12. NỘI DUNG, ĐIÈU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ YẾU TÓ TÁC

1.2.1. Lựa chọn tầm nhìn phát trỉến du lịch
Bất cứ một ngành nào, đế phát triển, thì điều quan trọng đầu tiên là
tầm nhìn chiến lược và sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành nghề đó.
Ngành du lịch cũng không ngoại trừ. Chính phủ phải có định hướng, coi du
lịch là một ngành nghề kinh tế mũi nhọn. Nhà nước phải có những chính
sách đầu tư thoả đáng, có tầm nhìn xa trông rộng, có định hướng phát triến
lâu dài, bền vững, tập trung khai thác vào những loại hình du lịch có thế
mạnh sẵn có. Nhà nước phải có chính sách mở cửa, thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh, các tập thể cá nhân có tiềm năng
đầu tư phát triển du lịch.


20

Vai trò của Chính quyền cấp tỉnh đối với phát triến du lịch là chức năng
quản lý nhà nuớc về du lịch, không làm chức năng chủ quản, không làm chức
năng kinh doanh thay các doanh nghiệp du lịch. Việc quản lý đó thông qua
các công cụ quản lý, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch.
Quản lý nhà nuớc về du lịch phát triển theo định hướng chung là thực hiện
chức năng của quản lý nhà nước về du lịch: sự khác biệt của quản lý nhà nước
với quản lý kinh doanh ở chỗ quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà
nước, các đơn vị sản xuất kinh doanh vào các mối quan hệ và điều chỉnh các
mối quan hệ đó bằng các công cụ khác nhau (công cụ pháp luật là chính).
Nằm trong cơ cấu của bộ máy nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
hoạt động theo nguyên tắc của bộ máy nhà nước. Các nguyên tắc đó xuất phát

trình quy phạm trong hoạt động du lịch.
- Tăng cường tố chức tuyên truyền quảng cáo du lịch, tăng cường ứng
dụng khoa học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, họp tác quốc tế, bảo vệ môi trường
du lịch đang là những yêu cầu cấp thiết đối với việc phát triến du lịch ở
CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay.
- Giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật trong
hoạt động du lịch, thúc đẩy du lịch CHDCND Lào theo định hướng chung của
đất nước, hạn chế và xoá bỏ các hiện tượng không lành mạnh, mặt trái của du
lịch mà nhiều nước đã mắc phải qua hoạt động du lịch (mại dâm, văn hoá, đồi
trụy, nghiện hút...).
1.2.2. Đầu tư kết cấu hạ tầng
Du lịch phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở hạ tầng như đường xá, các khu
vui chơi giải trí, nhà hàng, khách sạn, sân bay, phương tiện vận tải...
Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng, đây là một nguồn lực, là
điều kiện không thế thiếu được đế phát triển du lịch. Cơ sở vật chất và kết cấu
hạ tầng tốt, đồng bộ là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, ngược lại sẽ
gây khó khăn cho phát triến du lịch. Đầu tư cơ sở hạ tầng bao gồm:
- Đâu tư vào cơ sở vật chât kỹ thuật và kêt câu hạ tâng nhăm đảm bảo
nơi ăn, chốn ở, hệ thống giao thông, phương tiện đi lại cho khách du lịch. Đây
là những dịch vụ đặc trưng nhất của hoạt động kinh doanh du lịch, đáp ứng


22

nhu cầu của con người (ăn, ngủ nghỉ, đi lại), khi họ sống ngoài nơi cư trú
thường xuyên của họ.
Dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành của các
sản phẩm du lịch. Đầu tư vào cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng và dịch vụ ăn
uống bao gồm các phương tiện vật chất, tham gia vào việc sản xuất và cung
ứng các dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và giải trí của du

thông qua các buổi dạ hội hữu nghị, dạ hội hoá trang, đêm ca nhạc, tố chức
các buối gặp gỡ trao đối giữa những nguời khách du lịch cùng nghề, chiếu
phim, xem kịch, tham quan bảo tàng...
- Đầu tư giao thông vận tải bao gồm đường bộ, đường hàng không,
đường sông. Mạng lưới giao thông phát triển tạo điều kiện khai thác tối đa
tiềm năng du lịch của một vùng, một địa phương, một đất nước.
- Đầu tư vào cơ sở phục vụ các dịch vụ bo sung khác chủ yếu gồm:
các công trình, thiết bị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách trong việc
tiêu dùng các dịch vụ và sử dụng triệt để các yếu tố tài nguyên. Hệ thống
này bao gồm các khu vực: giặt là, hiệu cắt tóc, vật lý trị liệu, bế bơi, sân
tenis, trạm xăng dầu, cơ sở y tế, xưởng sửa chữa dụng cụ thể thao, phòng
rửa phim ảnh, gội đầu, cửa hiệu sửa chữa thiết bị liên lạc, bưu điện, phòng
sao chép... Cơ sở vật chất - kỹ thuật của bộ phận này thường gắn liền với
các cơ sở lưu trú. Quy mô của hệ thống này phụ thuộc vào quy mô của bộ
phận lưu trú. Ngoài ra, việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng
và kịp thời, góp phần đắc lực vào thực hiện giao lưu các vùng và các khu
vực các nước.
Bên cạnh đó, điều cần thiết nhất là sự an toàn cho du khách: một đất
nước có một hệ thống chính trị bất ổn, có xung đột sắc tộc, hay có khủng bố
mất an ninh chính trị cũng là yếu tố bất an cho mỗi du khách.
1.2.3. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triến du lịch
- Xây dựng chiến lược phát triển du lịch
Thực hiện đường lối và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về phát triển du lịch: văn hoá, thiên nhiên, lịch sử, Tổng cục Du lịch kết hợp
với cơ quan, bộ ngành liên quan xây dựng chiến lược phát triển du lịch. Đây


24

là một trong những nội dung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với sự

25

đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng quy hoạch phát triến du lịch.
Công tác này được thực hiện tốt sẽ làm gia tăng những lợi ích từ du lịch và
giảm thiếu những tác động tiêu cực mà du lịch có thế đem lại cho cộng
đồng và xã hội. Công tác này được thực hiện không tốt sẽ dẫn đến sự phát
triến du lịch thiếu tính kiếm soát. Những lợi ích trước mắt có thế gây ra
những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai. Khi đó chi phí xã hội phải bỏ
ra để khắc phục những hậu quả đó có thể sẽ lớn hơn nhiều những gì mà du
lịch đã đem lại.
Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, phát triển du lịch trên một địa
bàn cụ thể cần phải có quy hoạch tổng thế phải có chiến lược phát triển bền
vững và lâu dài. Theo quan điểm của lý thuyết marketting về chu kỳ sống của
sản phẩm thì bất cứ một điểm đến du lịch nào cũng đều trải qua 4 giai đoạn cơ
bản trong quá trình phát triến của mình (hình thành, phát triến, bão hoà và
suy thoải). Điều đó cho rằng mọi điểm đến du lịch sẽ có xu hướng phát triển
tăng lên hoặc giảm xuống. Sự thay đối đó phần lớn phụ thuộc tù’ phía người
tiêu dùng - khách du lịch. Như vậy, mỗi điểm đến tù’ khi được hình thành đã
có những mầm mong tiềm ẩn đế tự’ tiêu huỷ chính mình. Nên đế đạt được
những lợi ích lâu dài các điếm đến phải tìm mọi cách đế kéo dài chu kỳ sổng
của nó. Điều đó có nghĩa là phải được dự báo trước những thay đổi đế có thế
hành động đối phó lại những thay đổi đó. Như trên đã phân tích thì đó chính
là nội dung của quy hoạch.
Như chúng ta đã biết, du lịch là một lĩnh vực có tính liên ngành. Trong
sự phát triển của mỗi điểm đến du lịch đều có sự tác động qua lại giữa du lịch
và một số lĩnh vực khác của nền kinh tế và xã hội. Đe điếm đến du lịch có thể
phát triển hiệu quả, bền vững cần phải có phương án ngăn ngừa những vấn đề
tiêu cực có thể phát sinh.
Ngành du lịch nếu so với các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân,
du lịch vẫn còn là một lĩnh vục mới mẻ ở nhiều quốc gia, trong đó ở

- Tạo cơ sở đế kiểm soát thường xuyên và duy trì định hướng phát triển
du lịch.
Công tác quy hoạch phát triển du lịch có tầm quan trọng bao nhiêu thì
việc phát triển du lịch thiếu quy hoạch sẽ có hậu quả nhiều bấy nhiêu, nếu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status