ĐỀ CƯƠNG DẪN LUẬN NGÔN NGỮ: CÂU HỎI + ĐÁP ÁN - Pdf 33

Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
Đề cương Dẫn luận ngôn ngư

Lý thuyết:
Câu 1: Khái niệm ngôn ngữ , các đơn vị ngôn
ngữ, các quan hệ ngôn ngữ.
Trả lời:
Ngôn ngư là một hệ thống các đơn vị (âm vị, hình vị, từ, câu) và nhưng quy tắc kết hợp
để tạo thành lời nói trong giao tiếp. Nhưng đơn vị ngôn ngư và quy tắc kết hợp các đơn vị
ngôn ngư để tạo thành lời nói được cộng đồng sử dụng ngôn ngư ấy quy ước và được
phản ánh trong ý thức của họ.
-> ngôn ngư là 1 hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và
quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng. Đồng thời cũng là phương tiện để
phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống lịch sử từ thế hệ này san thế hệ khác.
- các đơn vị ngôn ngư: âm vị, hình vị, từ và ngư, câu, văn bản.
+ Âm vị: là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngư mà người ta không thể chia nhỏ hơn.
Vd: các âm [b ], [t], [v]….hoàn toàn không thể chia nhỏ chúng hơn được nưa.
Âm vị không có nghĩa nhưng lại có chức năng khu biệt nghĩa của từ. Âm vị là thành tố
tạo nên hình vị.
Ví dụ: bào có nghĩa là “ một dụng cụ của thợ mộc để làm mòn, nhẵn gỗ” còn vào có
nghĩa là “ một hành động đi từ ngoài tới trong”. Bào có nghĩa khác với vào do sự đối lập
giưa âm /b/ và /v/.
Tương tự, màn có nghĩa khác với bàn nhờ có sự đối lập giưa âm vị /b/ và âm vị /m/, do
vậy chúng khu biệt nghĩa của hai từ này.
+ Hình vị: Là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa nhưng không có khả năng hoạt động độc lập, là
chuỗi kết hợp các âm vị tạo thành.Hình vị có thể mang ý nghĩa từ vựng ( hình vị thực )
hoặc có thể mang ý nghĩa ngư pháp (hình vị hư).
Hình vị đứng ở vị trí khác nhau có ý nghĩa khác nhau là hình vị độc lập
Vd: đo đỏ, may đo
Hình vị là thành tố để tạo nên từ.
Ví dụ: Ví dụ: “Quốc kỳ” được tạo bởi 2 hình vị là “Quốc” và “kỳ” kết cấu với nhau theo

thực dân cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân
tộc ta!

 Đây là lời phát động, kêu gọi toàn bộ nhân dân Việt Nam đứng lên chống lại sự
xâm lược của thực dân Pháp vào cuối năm 1946.


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

-

Các quan hệ trong ngôn ngư

Ngôn ngư là một hệ thống
Sự tồn tại của hệ thống kết cấu ngôn ngư được xác định không chỉ dựa vào các
yếu tố( các loại đơn vị ) mà còn dựa vào mối quan hệ chung nhất giưa chúng. Đó
là mối quan hệ tồn tại trong hệ thống bao gồm quan hệ ngang,dọc và quan hệ cấp
bậc.
+quan hệ tuyến tính( quan hệ ngang hay quan hệ ngư đoạn )
Là quan hệ nối kết các đơn vị ngôn ngư thành chuỗi khi ngôn ngư đi vào hoạt
động.
Cơ sở của quan hệ này là tính hình tuyến bắt buộc các đơn vị phải kết nối với
nhau lần lượt trên một trục nằm ngang.
Trên trục này chỉ nhưng đơn vị đồng hạng mới kết hợp trực tiếp với nhau: từ kết
hợp với hình vị, hình vị kết hợp với âm vị
Vd: Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

quan hệ với các yếu tố ko hiên hưu mà chỉ tồn tại nhờ sự liên tưởng của con
người.Tuy nhiên giưa quan hệ tuyến tính và quan hệ liên tưởng có mối liên hệ với
nhau, mỗi vị trí đều nằm trong mối quan hệ bị quy định bởi chức năng kết hợp và
ngư nghĩa của nó với các yếu tố khác
Ví dụ: Ví dụ: “ Dân tộc Việt Nam” tạo thành ngư danh từ
“rất anh hùng” tạo thành ngư tính từ.
Hai thành phần này tạo nên quan hệ chủ-vị.

+ Quan hệ cấp bậc (quan hệ bao hàm và quan hệ thành tố)
Quan hệ cấp bậc là quan hệ giưa các đơn vị ở cấp độ khác nhau của hệ thống ngôn
ngư . Quan hệ cấp bậc thể hiện ở 2 quan hệ : quan hệ bao hàm và quan hệ thành tố
Quan hệ bao hàm thể hiện giưa các đơn vị cấp cao đối với các đơn vị cấp thấp: câu
bao hàm từ, từ bao hàm hình vị, hình vị bao hàm các âm vị.
Quan hệ thành tố(quan hệ tôn ti) được xét từ thấp đến cao : âm vị là thành tố cấu
tạo nên hình vị , hình vị là thành tố cấu tạo nên từ, từ là thành tố cấu tạo nên câu…
Trong quan hệ bao hàm và quan hệ thành tố ta chỉ xét nhưng đơn vị đồng loại .
Quan hệ cấp bậc trở thành một thực thể có tầng lớp, thứ bậc, tạo cơ sở cho sự hành
chức của ngôn ngư.
Tóm lại, toàn bộ hoạt động của hệ thống ngôn ngữ được thể hiện trên hai mối
quan hệ : quan hệ cấp bậc và quan hệ ngang, dọc

Câu 2 :Nguồn gốc của ngôn ngữ
-

-

Thời
gian

Một số giả thiết về nguồn gốc của ngôn ngư:

mạnh vào tk


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
triển mạnh vào
18-20.
tk 17-19.
Tác giả Platon, Augustin Rutso,
humbon,
stangdan..
Cơ sở Trong thực tế 1 Trong ngôn
số nhưng âm
ngư vẫn còn
thanh mô phỏng xuất hiện
tự nhiên tạo ra 1 nhưng thán từ
hệ thống không và nhưng từ
nhỏ từ tượng
phái sinh từ
thanh trong
thán từ
ngôn ngư
Nội
Toàn bộ ngôn
Ngôn ngư
dung
ngư nói cung và loài người có
các từ riêng biệt được là do âm
của nó đều do ý thanh của sự
muốn tự giác
mừng, vui,

Đời sống tập
thể và đời sống
trong lao động
hiện nay

Ngôn ngư có
được bắt nguồn
từ tiếng kêu
gọi của người
nguyên thuỷ
hoặc đó là âm
thanh phát ra
khi lao động

Ngôn ngư là do
con người thoả
thuận vs nhau
mà quy định
ra.

Ban đầu con
người chưa có
ngôn ngư bằng
tiếng để giao
tiếp vs nhau.
Người ta dùng
cơ thể để giao
tiếp.Ngôn ngư
ban đầu chỉ là
ngôn ngư của

ngôn ngư,chỉ có Angghen giải thích đúng.
Theo ăngnghen : Lao động là điều kiện làm nảy sinh ra ngôn ngư. Ông khẳng định
“ Đem so sánh con người vs các loài động vật, ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngư bắt
nguồn từ trong lao động và cùng nảy sinh với lao động, đó là cách giải thích duy
nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngư”
Lao động đã hoàn thiện con người: Tổ tiên của loài người là loài vượn người sống
trên cây sau đó chúng rời khỏi cây xuống mặt đất.Việc di chuyển và tìm kiếm thức
ăn buộc loài vượn tập đi bằng 2 chân sau và đứng thẳng lên.Như vậy là hai tay


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
vượn người đươc giải phóng.Đôi tay ngày càng trở nên khéo , biết sử dụng các
vật sẵn có làm công cụ tự vệ, kiếm ăn; và quan trọng hơn: nó biết chế tạo ra công
cụ lao động. Convượn người đã chuyển dần thành con người vượn rồi thành người
(người nguyên thuỷ) .Dáng đứng thẳng cũng làm cho tầm mắt của tổ tiên chúng ta
được rộng và xa hơn; đồng thời bộ ngực nở hơn đồng thời các cơ quan của bộ máy
phát âm có điều kiện phát triển hơn.Mặt khác, có công cụ trong tay, nhưng người
tiền sử đó kiếm được nhiều thức ăn hơn và chuyển dần từ đời sống ăn thực vật
(cây, quả, củ, rễ…) sang đời sống ăn thịt. Thêm vào đó, việc tìm ra và sử dụng
được lửa cũng khiến họ chuyển từ ăn sống sang ăn chín. Một hệ quả quan trọng đã
diễn ra, thức ăn chín, mềm khiếm xương hàm người ta không cần phải to như
trước nưa; lồi cằm (phần trước xương hàm dưới) vểnh ra rõ dần.Tuy nhiên, trong
số các biến đổi về mặt sinh học của con người, sự tiến bộ của bộ não là quan
trọng nhất. Nhờ lao động, nhờ ăn thịt, bộ não của tổ tiên chúng ta cũng phức tạp
dần lên; nhưng phần vỏ não trực tiếp liên quan đến tiếng nói như thuỳ trán, thuỳ
thái dương và phần dưới thuỳ đỉnh, phát triển mạnh. Kết cục là so với nhưng
người bà con và anh em họ của tổ tiên chúng ta, bộ não con người ngày nay (tính
theo tỉ lệ giưa trọng lượng của não với trọng lượng của toàn thân) lớn hơn khỉ đột
10 lần, hơn đười ươi 6 lần, hơn khỉ đen 2 lần và hơn vượn 4 lần.Như vậy, lao động
đã tạo ra con người và tạo ra nhưng tiền đề thứ nhất về mặt sinh học để ngôn ngư

Qđ2: Đồng nhất ngôn ngư với bản năng sinh vật của con người, nghĩa là họ cho hoạt
động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động ăn, khóc, cười, chạy, nhảy,
v.v. của con người.
->Sai:Thực ra nhưng bản năng sinh vật như ăn, khóc, cười, v.v. có thể phát triển ngoài xã
hội, trong trạng thái cô độc, còn ngôn ngư không thể có được trong nhưng điều kiện như
thế.Nó chỉ có được và phát triển được trong môi trường xh loài người.
Qđ3: đồng nhất ngôn ngư với nhưng đặc trưng về chủng tộc, nghĩa là ngôn ngư có tính
chất di truyền. Nhưng ngôn ngư không có tính di truyền. Nếu trẻ sơ sinh sống ở một môi
trường ngôn ngư khác cách li hẳn với bố mẹ và chủng tộc xuất thân thì chúng sẽ nói bằng
ngôn ngư của môi trường xã hội này, chứ không phải bằng ngôn ngư của bố mẹ nó, của
chủng tộc xuất thân. Chẳng hạn, nếu một đứa trẻ sơ sinh người Việt Nam phải sống và
tiếp xúc với toàn nhưng người nói tiếng Anh thì sau đó nó không biết nói tiếng Việt mà
chỉ biết nói tiếng Anh.
Qđ4: Nhưng người bảo vệ quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngư còn đồng nhất ngôn
ngư với tiếng kêu của loài vật. Tiếng kêu của loài vật cũng có thể báo cho đồng loại biết
về một điều gì đó, như: báo tin có thức ăn, báo nguy hiểm, bộc lộ cảm xúc, kêu gọi bạn
tình, v.v. nhưng tiếng kêu đó là bẩm sinh và có tính di truyền. Chúng chỉ là nhưng phản
xạ có điều kiện hay không có điều kiện chứ không có tư duy trừu tượng còn ngôn ngư
của con người găn liền vs tư duy trừu tượng.
- Ngôn ngư là 1 hiện tượng cá nhân: Một số nhà bác học phê phán quan điểm sinh vật
học đối với ngôn ngư nhưng vẫn không thừa nhận bản chất xã hội của ngôn ngư mà lại
cho ngôn ngư là hiện tượng cá nhân. Sakhomatop cho rằng có ngôn ngư của mỗi cá
nhân.Ngôn ngư của mỗi làng xóm, 1 tập thể xã hội chỉ là chuyện bịa đặt phản khoa học
->Điều này không chính xác, bởi ngôn ngư được hình thành và phát triển trong phạm vi
cả một xã hội, cả một cộng đồng. Nó là sự quy ước chung của cả cộng đồng.Nó có chức
năng là giao tiếp nếu chỉ có ngôn ngư cá nhân thì vai trò của ngôn ngư k đảm nhận được.
Do đó ngôn ngư mang rõ bản sắc và phong cách của từng cộng đồng, từng xã hội và từng
dân tộc.. Ngôn ngư không phải là hiện tượng cá nhân, mà là tài sản, là sản phẩm chung
của xã hội.
=> TheoMác và Ăngghen: “ ngôn ngư là ý thức thực tại, thực tiễn, ngôn ngư cũng tồn tại

giưa mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến trong xã hội, làm phương tiện giúp cho
người ta hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt
động.
+ kiến trúc thượng tầng luôn phục vụ cho một giai cấp nhất định còn ngôn ngư phục vụ
chung cho mọi giai cấp,cho toàn xã hội.
+ cơ sở hạ tầng phục vụ xã hội về mặt kinh tế, kiến trúc thượng tầng phục vụ xã hội về
mặt chính trị, còn ngôn ngư phục vụ xã hội với tư cách là 1 phương tiện giao tiếp,điều
này chỉ ngôn ngư mới có. Gưa con người với con người, giưa tầng lớp này với tầng lớp ,
giưa các giai cấp đều phải có sự lien hệ với nhau về kinh tế và về tổ chức xã hội. Vì vậy
giưa họ phải có 1 phương tiện giao tiếp chung đó là ngôn ngư. Ngôn ngư có thể được các
giai cấp sử dụng như 1 phương tiện đấu tranh giai cấp nhưng bản thân nó không mang
tính giai cấp, nó là phương tiện giao tiếp của toàn dân.


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

Câu 4: bản chất tín hiệu của ngôn ngữ
Kn hệ thống: hệ thống là 1 thể thống nhất bao gồm các yếu tố quan hệ và liên hệ
với nhau. Nói đến hệ thống cần có 2 điều kiện: 1. Tập hợp các yếu tố đồng loại
2.nhưng mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giưa các yếu tố.
Kn kết cấu: kết cấu là mạng lưới của nhưng mối quan hệ và liên hệ giưa các yếu tố
khác loại trong hệ thống. Vd: từ bao gồm các âm vị, câu bao gồm các từ được kết
cấu thành hệ thống theo quy tắc.
Đã là hệ thống thì phải có kết cấu.Kết cấu là 1 thuộc tính của hệ thông
Ngôn ngư là 1 hệ thống vì nó gồm nhiều yếu tố được kết cấu và hoạt động tuân
theo nhưng quy tắc nhất định của 1 chỉ thể có mối quan hệ chặt chẽ.Các yếu tố
trong hệ thống ngôn ngư chính là đơn vj ngôn ngư.
Khái niệm: Tín hiệu là một sự vật (hoặc một thuộc tính vật chất, một hiện tượng) kích
thích vào giác quan của con người, làm cho con người ta tri giác được và lí giải, suy diễn
tới một cái gì đó nằm ngoài sự vật ấy.

cái được biểu hiện .cái biểu hiện là chư viết, âm thanh thể hiện trên măt
giấy, cái đc biểu hiện là ý nghĩa của nó.


Cái biểu hiện (hình thức của tín hiệu)

Là nhưng dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã
thiết lập lên mã cụ thể cho mình, đó chính là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn
ngư.


Cái được biểu hiện (nội dung của tín hiệu)

Là nhưng thông tin, nhưng thông điệp về nhưng mảnh khác nhau của thế giới hiện
tại mà con người đang sống, hoặc nhưng dấu hiệu hình thức để phân cắt tư duy, phân cắt
thực tại.
Ví dụ: Tín hiệu “cây” trong tiêng việt là sự kết hợp giưa lược đồ sau:
Âm thanh: Cây (cái biểu hiện)
Ý nghĩa: loài thực vật có lá (cái được biểu hiện )
->Cái biểu hiện và cái được biểu hiện của tín hiệu ngôn ngư gắn bó khăng khít với nhau
không thể tách rời
 Tính võ đoán: Quan hệ giưa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện mang
tính quy ước và được xã hội chấp nhận vì thế mà có 2 trường hợp xảy ra
1. cùng 1 ý nghĩa ở ngôn ngư khác nhau thì biểu thị các từ khác nhau.
2. Cùng 1 vỏ phát âm ở ngôn ngư khác nhau nghĩa của vỏ ngư âm khác
nhau.


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
Ví dụ: “Cây là tín hiệu được cộng đồng người Việt quy ước để chỉ loài thực vật

-

-

Phụ âm

Tính phức tạp: hệ thống ngôn ngư phức tạp bao gồm nhiều loại đơn vị khác nhau
và số lượng từ và câu vô cùng lớn không thể thống kê được, bởi vì chúng thường
xuyên biến đổi và được bổ sung thêm. Các hệ thống ngôn ngư có tính đồng loại và
khác loại, đồng thời các đơn vị của ngôn ngư thuộc nhiều cấp độ khác nhau.
Tính nhiều tầng bậc: Các đơn vị thuộc cấp độ khác nhau có quan hệ cấp bậc. Do
đó, hệ thống ngôn ngư là một hệ thống của nhiều hệ thống: Hệ thống âm vị, hệ
thống hình vị. hệ thống từ vựng, hệ thống câu…Các hệ thống này lại gồm các hệ
thống con khác.
Ngôn ngư
Âm vị
Hình vị
Câu
Từ
Ví dụ: hệ thống từ vựng có thể chia ra hệ thống từ đơn và hệ thống từ ghép…
Nguyên âm
Thực

đơn
ghép
láy
Đơn
Ghép

Phức


Tính hình tuyến
Khi ngôn ngư đi vào hoạt động, chúng hiện ra lần lượt nối tiếp nhau thành 1 chuỗi
liên tục theo trật tự trước sau, trật tự đó có tính chất 1 chiều. Con người không
cùng lúc phát ra nhiều tín hiệu cũng không cùng 1 lúc nghe nhiều tín hiệu
Trục không gian biểu thị bằng chư viết: đươc sắp xếp theo trật tự trái sang phải, từ
trên xuống dưới.
Tính độc lập tương đối
Các hệ thống tín hiệu thường được sáng tạo ra theo sự thoả mãn của một số
người.Do đó nó được sáng tạo theo ý muốn của con người.
Ngôn ngư mang tính xã hội, có quy luật phát triển nội tại, không lệ thuộc ý kiến
cá nhân. Ngôn ngư tồn tại độc lập từ phương thức sản xuất này đến phương thức
sản xuất khác, từ chế độ xã hội này đến chế độ xã hội khác. Tuy nhiên, ngôn ngư
có tính độc lập tương đối, vì bằng chính sách ngôn ngư cụ thể, hợp với quy luật
phát triển của nó, con người có thể tạo điều kiện cho ngôn ngư phát triển theo
hướng nhất định

Tính năng sản của tín hiệu ngôn ngữ:


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
-

Từ tín hiệu đã có sẵn, tín hiệu ngôn ngư có thể tạo ra các tín hiệu mới cho hệ
thống của nó. Đó là phương thức tạo từ mới. Xuất phát trên cơ sở từ đơn, người
Việt đã dùng các phương thức cấu tạo từ khác nhau để tạo ra nhưng từ mới, chẳng
hạn từ láy và từ ghép. Chính nhờ đặc điểm này mà hệ thống ngôn ngư ngày càng
phát triển.
Cấu tạo từ: Địa: địa cầu, địa chất, địa đạo, địa lý
Dễ -> dễ dãi, dễ dàng… Đất -> đất đai, đất vườn, đất ruộng

quan hệ biểu đạt: hình thức ân thanh lẫn khái niệm đều thay đổi hoặc đôi khi mối quan hệ
giưa tín hiệu và ý niệm bị lỏng lẻo đi.
Ví dụ: Trong tiếng La Tinh từ necăre chuyển sang tiếng Pháp thành noyer (chết
đuối). Trong tiếng Việt từ: Bẩm -> Kính (kính thưa) có sự thay đổi lẫn âm và nghĩa.


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục
Do đó, tính khả biến của tín hiệu ngôn ngư là làm di chuyển mối quan hệ giưa
cái biểu hiện và cái được biểu hiện
Cũng vậy, sự biến đổi nghĩa của từ “nắm” khởi đầu là từ đơn, nghĩa biểu vật là dùng bàn
tay siết chặt để giư vật gì hoặc gấp các ngón tay lại vào lòng bàn tay. Theo dòng thời
gian, tín hiệu này được phối hợp với một số tín hiệu khác, tạo thành từ ghép, tự thân nó
chuyển sang nghĩa khác mang tính trừu tượng như: nắm tình hình, nắm kiến thức, nắm
ngoại ngư, nắm chiến thuật…Sự kết hợp các từ này đã làm biến hoá cái biểu hiện và cái
được biểu hiện nguyên thuỷ của nó. Như vậy, theo thời gian và kết hợp với sự phát triển
xã hội, ngôn ngư phát triển. Sự phát triển này kéo theo sự thay đổi mối quan hệ giưa cái
biểu hiện và cái được biểu hiện.
Đây là một trong nhưng hệ quả của tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngư.
Nó có thể tự do xác lập các mối quan hệ giưa chất liệu âm thanh (từ) và các ý niệm
(nghĩa của từ) và theo thời gian ngôn ngư cứ biến hoá. Sự biến hoá này là tất yếu trong sự
phát triển của loài người.
-

Gía trị đồng đại và lịch đại:

Các tín hiệu khác chỉ phục vụ xã hội trong 1 thời đại, 1 giai đoạn lịch sử nhất định.
Ngôn ngư tồn tại qua các thời đại, lưu truyền từ hiện tại đến tương lai.

Câu 5: chức năng của ngôn ngữ
1.NN là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.

với chức năng thể hiện tư duy.Bởi vì NN là hiện thực trực tiếp của tư
duy. Nhưng không thể đồng nhất 2 chức năng với nhau vì chức năng giao
tiếp chỉ thực hiện được khi có giao tiếp, tức là dùng ngôn ngư với
nhau.Nhưng trong thực tế người ta có thể nói 1 mình, viết 1 mình, tức là
không tư duy mà giao tiếp. Vậy, chức năng tư duy độc lập với chức năng
giao tiếp, giao tiếp phụ thuộc vào tư duy.
Chức năng tư duy của ngôn ngư được thể hiện ở hai khía cạnh: ngôn ngư
trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng, ngôn ngư là hiện
thực trực tiếp của tư tưởng.
a. NN là hiện thực trực tiếp của tư duy : không có từ nào, câu nào không
biểu hiện dưới dạng khái niệm tư tưởng, ngược lại ngôn ngư tư tưởng
được hình thành từ ngôn ngư.
b. NN trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư duy: moi ý nghĩ tư
duy chỉ rõ ràng khi bộc lộ bằng ngôn ngư,còn nhưng tưu duy chưa bộc lộ
ra bằng ngôn ngư là chưa rõ ràng.
c. Mối quan hệ: NN và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất,chủ
nghĩa Mác quan niệm nó giống như 2 mặt của tờ giấy: không có ngôn
ngư thì không có tư duy-không có tư duy ngôn ngư chỉ là nhưng âm
thanh trống rỗng.
Sự khác biệt:
- NN là vật chất còn tư duy là tinh thần : ngôn ngư là vật chất vì đơn vị
của nó là âm vị, hình vị,câu đều là âm thanh với các thuộc tính vật
chất(cao độ, cường độ…) Tư duy nảy sinh phụ thuộc vào 1 vật chất được
tổ chức đặc biệt là não, bản thân nó chỉ có tính chất tinh thần: nó không
có đặc tính vật chất như mùi,màu vị,độ cao, độ sâu


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

- Tư duy có tính nhân loại còn NN có tính dân tộc : quy luật của tư duy là

nên
tuần hoàn.Được tạo nên do
- Có đường cong biểu
kiểu luồng hơi ra tự do
diễn không tuần hoàn
- cấu âm vs sự “căng thẳng
- Được tạo nên do sự cản
toàn thể khí quản phát âm”
trở không khí
-Bộ máy cấu âm chỉ
“căng thẳng cục bộ”
Khi phát âm luồng hơi cần cho Khi phát âm luồng hơi
nguyên âm yếu
cần cho phát âm bao giờ
cũng mạnh( dù chỉ là
tương đối)

không

Câu 7: Cấu tạo tư


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

Ba bộ phận cấu tạo của ngôn ngư là từ vựng, ngư âm và ngư pháp.
KN: Tư là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và có khả năng hoạt động độc lập.
Đặc điểm: là đơn vị hiển nhiên sẵn có cơ bản của mỗi ngôn ngư
Có hình thức ngư âm và ngư nghĩa
Có tính chất cố định và bắt buộc
• Cấu tạo

do để tạo câu.
Ngữ cố định - Ðơn vị tư vựng tương đương với tư
Đơn vị dùng làm chất liệu cơ sở để tạo ra câu – đơn vị giao tiếp – không phải chỉ có từ.
Ngoài từ ra, còn có một loại đơn vị gọi là cụm từ cố định. Có thể nêu một khái niệm giản
dị cho cụm từ cố định điển hình như sau:
Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như
từ, có thành tố cấu tạo và ngư nghĩa cũng ổn định như từ.
Chính vì thế cụm từ cố định được gọi là đơn vị tương đương với từ. Chúng tương đương
với nhau về tư cách của nhưng đơn vị được làm sẵn trong ngôn ngư, và tương đương với
nhau về chức năng định danh, chức năng tham gia tạo câu.
Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàn diện nhưng
đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trong nhà trường đại
học và tạp chí chuyên ngành.
Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệm của chúng,
thì có thể tóm tắt một trong nhưng bức tranh phân loại cụm từ cố định tiếng Việt như sau:

Dưới đây là một số miêu tả cụ thể:
Thành ngữ
Định nghĩa
Thành ngư là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính
hình tượng hoặc/và gợi cảm.Các cụm từ cố định (thành ngư) như thế đều thoả mãn định
nghĩa nêu trên. Chúng là nhưng thành ngư điển hình.
Có nhiều cách phân loại thành ngư. Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung
lẫn hình thức) để chia thành ngư tiếng Việt ra hai loại: thành ngư so sánh và thành ngư
miêu tả ẩn dụ.
Quán ngữ
Quán ngư là nhưng cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse)
thuộc phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh
hoặc để liên kết trong diễn từ.
Thật ra, tính thành ngư và tính ổn định cấu trúc của quán ngư không được như thành ngư.

với các từ ghép chính phục thì chúng ta phải thừa nhận.
Ở nhưng mức độ khác nhau, chúng hiện diện như là đơn vị đứng giưa cụm từ cố địnhthành ngư với từ ghép.
Những hiện tượng trung gian
Việc phân loại các cụm từ cố định tiếng Việt như vừa trình bày trên đây không phải là đã
vạch ra nhưng ranh giới tuyệt đối giưa các loại, và không phải các đơn vị trong mỗi loại
đều thể hiện nhưng thuộc tính thuần khiết của loại. Chúng ta đã thấy là quán ngư ít nhiều
mang tính chất trung gian giưa cụm từ cố định với cụm từ tự do, còn ngư cố định định
danh thì có tính trung gian giưa cụm từ cố định với từ ghép.
Mặc dầu vậy, chúng vẫn là nhưng cụm từ có tính cố định. Chỉ có điều tính cố định đó cao
hay thấp, nhiều hay ít mà thôi.
Có thể coi các cụm từ cố định tiếng Việt có vùng tâm và vùng biên, có đơn vị điển hình
và đơn vị không điển hình. Thành ngư chắc chắn thuộc vùng trung tâm.
Thế nhưng, ngay ở khu vực thành ngư cũng có nhưng đơn vị trung gian được cấu tạo
theo lối thành ngư nhưng tính tự do, kém ổn định vẫn còn rõ nét.
Có nhưng đơn vị đã đạt được tính thành ngư khá cao nhưng tính bền chắc, tính chỉnh thể
về cấu trúc lại còn kém ổn định. Nghĩa là số thành tố cấu tạo nên chúng có thể còn tăng
hay giảm được một cách tuỳ nghi.
Rất nhiều cụm từ cấu tạo theo kiểu thành ngư so sánh, là như thế: Nhức như búa bổ, Đắt
như vàng, Gầy như gọng vó, Buồn như cha chết, Hôi như chuột chù, Bẩn như hủi, Lôi
thôi như ổ chó,...
Ngược lại, có nhưng đơn vị khác, tính ổ định về cấu trúc khá bảo đảm, tức là không thể
thêm bớt các thành tố cấu tạo một cách tuỳ nghi, nhưng tính thành ngư, tính nhất thể về
nghĩa vẫn chưa cao. Nghĩa của cả cụm từ vẫn là nghĩa được hiểu nhờ từng thành tố cộng
lại. Ví dụ: Bàn mưu tính kế, Đi ra đi vào, Buôn gian bán lận, Suy đi tính lại, Nghĩ tới
nghĩ lui, Gìn vàng giữ ngọc, Trăng tủi hoa sầu, Chân mây cuối trời, Than thân trách
phận, Ăn thô nói tục, Yêu trẻ kính già,...
Nhưng đơn vị như thế, đã, đang và chắc sẽ còn được tạo lập trong tiếng Việt. Đó là
nhưng sản phẩm được tạo ra trong đời sống hoạt động ngôn ngư. Trả lời cho câu hỏi
"Chúng có trở thành thành ngư hay không?" thật là khó. Hẳn rằng còn phải qua thời gian,


Ý nghĩa lâm thời là loại ý nghĩa chỉ thể hiện ở một số dạng thức nhất định của đơn vị.
Ví dụ: Ý nghĩa "thời hiện tại, quá khứ, tương lai" của động từ. Ý nghĩa "số ít, số
nhiều" của danh từ, v.v.

II. PHƯƠNG THỨC NGỮ PHÁP (Grammatical manner)
phương thức ngư pháp là cách thức chung nhất để biểu hiện ý nghĩa ngư pháp.
Vd: trong tiếng Anh dung các phương tiện ngư pháp có hình thức chư viết là s/es để
biểu thị ý nghĩa ngư pháp số nhiều, ed biểu thị ý ghĩa ngư pháp là quá khứ.


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

2. Các phương thức ngư pháp phổ biến
2. 1. Phương thức phụ tố (affixation)
Phương thức phụ tố là phương thức dùng phụ tố để biểu thị ý nghĩa ngư pháp.
Ví dụ:
Books, hands, wives, lookers on, v.v.
Ngôi thứ 3 số ít
gets up
S là một phụ tố
Nhưng không thể hiện số nhiều như trong danh từ
- He gets up at 7 a.m every morning.
Lưu ý: Trường hợp này hoàn toàn khác trường hợp phụ tố cấu tạo từ. Phụ tố cấu tạo từ
là dùng phụ tố để tạo ra từ mới với nghĩa mới.
- Có thể mang nghĩa người làm (sau động từ).
Ví dụ: Teacher , worker , singer , v.v.
- Có thể mang nghĩa trừu tượng (sau danh từ).
Ví dụ: neighborhood , childhood , friendship
- Có thể mang nghĩa:đầy đủ, nhiều (sau danh từ).
Ví dụ: hopeful , beautiful , v.v.

goes "đi, ngôi thứ 3, số ít, thì hiện tại"
went "đi, thì quá khứ"
Hoặc trong so sánh hơn, so sánh nhất của tính từ bất quy tắc
Good>better> the best
Little > less> the least
Much/many> more> the most
Hoặc trong so sánh hơn, so sánh nhất của trạng từ bất quy tắc
Well >better> the best
Far>further>the furthest
2. 4. Phương thức trọng âm
Phương thức trọng âm là phương thức dùng trọng âm để phân biệt các ý nghĩa ngư
pháp.
Ví dụ: ímport (sự nhập khẩu - danh từ)
impórt (nhập khẩu - động từ)
íncrease (tăng lên - danh từ)
incréase (tăng lên - động từ)
2. 5. Phương thức lặp
Phương thức lặp là phương thức dùng phép lặp để biểu thị sự thay đổi ý nghĩa ngư
pháp.
Ví dụ: nhà (số ít) -----> nhà nhà (số nhiều)
đêm (số ít)-----> đêm đêm (số nhiều)
2.6. Phương thức hư từ
Phương thức hư từ là phương thức dùng hư từ để thể hiện ý nghĩa ngư pháp.
Ví dụ: nhưng sinh viên, đã đi, sẽ về nhà.
2.7. Phương thức trật tự từ
Phương thức trật tự từ là phương thức sử dụng cách sắp xếp vị trí của các từ trong câu
để thể hiện ý nghĩa ngư pháp.
Ví dụ: Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều.
V


tìm hiểu nhưng cái giống nhau và khác nhau trong kết cấu của hai hoặc nhiều ngôn
ngư. Khi so sánh, người ta có thể xuất phát từ các mặt khác nhau của ngôn ngư như
ngư âm, từ vựng và ngư pháp. Nhưng sự so sánh các cấu trúc ngư pháp có ý nghĩa
to lớn nhất, bởi vì cấu trúc ngư pháp và vốn từ cơ bản là cơ sở của các ngôn ngư,
tạo nên tính tiêng biệt của chúng. Ngư pháp lại bao gồm từ pháp và cú pháp.
Nhưng đặc điểm về cú pháp không bao giờ biểu hiện một cách độc lập với nhưng
đặc điểm về từ pháp. Cho nên trong so sánh loại hình, cấu trúc từ pháp có tầm
quan trọng đặc biệt. Bằng cách so sánh như vậy, người ta có thể rút ra đâu là
nhưng thuộc tính phổ quát (còn được gọi là nhưng phổ niệm ngôn ngư), đâu là
nhưng thuộc tính riêng biệt và đâu là nhưng thuộc tính loại hình. Căn cứ vào
nhưng thuộc tính loại hình người ta chia các ngôn ngư thế giới thành các nhóm loại
hình khác nhau.

Tiêu biểu cho loại hình này là tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái, các tiếng MonKhmer, v.v... Đặc điểm chính của loại hình này là:
- Từ không biến đổi hình thái. Hình thái của từ tự nó không chỉ ra mối quan hệ
giưa các từ ở trong câu, không chỉ ra chức năng cú pháp của các từ. Qua hình thái,


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

tất cả các từ dường như không có quan hệ với nhau, chúng thường đứng ở trong
câu tương tự như đứng biệt lập một mình. Chính xuất phát từ đặc điểm này mà
người ta gọi loại hình này là "đơn lập".
- Quan hệ ngư pháp và ý nghĩa ngư pháp được biểu thị chủ yếu bằng hư từ và trật
tự từ. Ví dụ:
Dùng hư tư:

cuốn vở – những cuốn vở
đọc





Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status