Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
trêng §¹i häc Vinh
LÊ THỊ THANH HẢI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
DÂN VẬN VÀO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ
TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An, 2015
2
Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
trêng §¹i häc Vinh
LÊ THỊ THANH HẢI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
DÂN VẬN VÀO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ
TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
M· sè: 60310201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. VŨ THỊ PHƯƠNG LÊ
5
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Kí hiệu viết tắt
HĐND
UBND
CBCC
LHPN
UBMTTQ
VSTBPN
KHHGĐ
Nghĩa của từ viết tắt
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Cán bộ công chức
Liên hiệp phụ nữ
Ủy ban mặt trận tổ quốc
Vì sự tiến bộ phụ nữ
Kê hoạch hóa gia đình
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
cách mạng Việt Nam, trong đó tư tưởng về dân vận là một bộ phận hết sức quan
trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Khái niệm, nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng của Hồ Chí
Minh về dân vận của PGS.TS Nguyễn Bá Linh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2005.
- Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của TS. Thanh Tuyền,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Đề tài “Thực trạng công tác vận động quần chúng và những chủ
trương, giải pháp đổi mới công tác vận động quần chúng theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội X của Đảng” của Trung tâm nghiên cứu khoa học dân vận, Ban
dân vận Trung ương.
Các tài liệu đã làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận;
tập trung đánh giá những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân; từ đó đề
xuất một số chủ trương, giải pháp đổi mới công tác vận động quần chúng trong
giai đoạn hiện nay.
Bàn về công tác vận động phụ nữ có các công trình tiêu biểu sau:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Nxb Thông tấn,
HN, 2005;
- Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ và
công tác phụ nữ (Nxb Phụ nữ, 2012).
- Luận văn: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và
hoạt động thực tiễn của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”,
người thực hiện: Đào Tố Uyên, năm bảo vệ: 2003.
- Luận văn: “Trung ương Hội LHPN Việt Nam xây dựng đội ngũ cán bộ
hội thời kỳ đổi mới”, người thực hiện: Hoàng Thị Hương Nhung, năm bảo vệ:
2009.
8
Những công trình trên tập trung nghiên cứu về quan điểm của Đảng và Nhà
Tuy nhiên, những công trình này là những tài liệu quý báu để tôi tham
khảo, kế thừa nhằm nghiên cứu, trình bày một cách tương đối hệ thống tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân vận và vận dụng tư tưởng đó vào công tác vận động phụ nữ
tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn thứ 2 cả nước, với địa hình phức tạp và
có 6 dân tộc anh em sinh sống, tỷ lệ nữ chiếm hơn 51% số người trong độ tuổi
lao động. Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Hội Liên hiệp
phụ nữ, phong trào phụ nữ Nghệ An nói chung đã đạt nhiều thành tựu to lớn
thông qua những đóng góp của họ vào các lĩnh vực của địa phương.
Tuy vậy, trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình phụ nữ và công tác phụ nữ còn nhiều
mặt hạn chế, như: trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật của một bộ phận phụ
nữ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; số phụ nữ
nông thôn thiếu việc làm, di cư tự phát ra thành phố ngày càng tăng. Ở miền núi,
vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ phụ nữ mù chữ, nghèo còn cao, còn bị ràng buộc bởi
phong tục, tập quán lạc hậu. Bên cạnh đó cơ chế thị trường và quá trình công
nghiệp hóa một mặt có tác động tích cực, nhưng mặt khác đã và đang làm nảy
sinh nhiều vấn đề xã hội liên quan trực tiếp tới phụ nữ. Phụ nữ gặp nhiều khó
khăn, thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của con
người trong điều kiện xã hội và gia đình Việt Nam có nhiều thay đổi. Phẩm chất
đạo đức và một số giá trị truyền thống tốt đẹp có phần bị mai một, lối sống thực
dụng có xu hướng phát triển trong một bộ phận phụ nữ. Chất lượng phong trào
phụ nữ không đồng đều giữa các vùng miền; tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm
năng, thế mạnh của phụ nữ; nội dung, phương thức hoạt động của Hội, nhất là
các cơ sở vùng sâu, vùng xa, miền núi, dân tộc chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu
của công tác phụ nữ trong tình hình mới và nhu cầu ngày càng đa dạng của các
tầng lớp phụ nữ...có nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân chủ
11
- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm nâng hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về dân vận vào công tác vận động phụ nữ tỉnh Nghệ An trong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và việc vận dụng tư tưởng
đó vào công tác vận động phụ nữ ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, khảo sát thực trạng vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh về
dân vận vào công tác vận động phụ nữ trên địa bàn tỉnh Nghệ An trên một số lĩnh
vực cơ bản trong giai đoạn 2006 - 2015, định hướng giải pháp đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Một số phương pháp khác như: phương pháp logic - lịch sử; phương pháp
phân tích, tổng hợp, …
6. Đóng góp của luận văn
Đề tài là tài liệu sẽ giúp cán bộ làm công tác Hội LHPN tỉnh Nghệ An
nhận thức rõ hơn thực trạng, nguyên nhân và có thêm các bài học kinh nghiệm,
vận dụng các giải pháp phù hợp với từng đối tượng, địa bàn khác nhau, để làm
tốt hơn công tác vận động phụ nữ trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện
nay.
Báo cáo khoa học của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên
chuyên ngành chính trị, những người làm công tác dân vận, công tác vận động
phụ nữ và những ai quan tâm, tìm hiểu vấn đề này.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
Minh trong bài “Dân vận”.
Người viết: dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không
để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công
việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho. Dân vận không thể
chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ. Trước
14
nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi
ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được.
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh
nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương,
rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành. Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp
đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân. Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại
công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng [34 tr.698-699].
Như vậy, công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải có đường lối, chủ
trương, chính sách đúng đắn, kịp thời; phải làm cho người dân hiểu rõ chủ trương,
chính sách và việc thực hiện chủ trương, chính sách sẽ đưa lại lợi ích cho nhân dân và
do nhân dân thực hiện, không ai làm thay dân được. Đồng thời phải sâu sát nhân dân,
sâu sát cơ sở, bàn bạc với dân, với cơ sở về kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách
cho phù hợp với hoàn cảnh của từng địa phương, từng cơ sở, phù hợp với khả năng
của nhân dân và phải hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách. Trong và
sau khi thực hiện cần phải theo dõi, đôn đốc kiểm tra, rút kinh nghiệm để bổ sung, uốn
nắn những thiếu sót, lệch lạc, sai lầm và khen thưởng, phê bình kịp thời.
1.1.2.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của công tác dân vận
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam,
Trước hết, Người khẳng định vai trò cực kỳ to lớn, quan trọng của nhân dân đối
với sự nghiệp cách mạng nước ta. Người viết: “quyền hành và lực lượng đều nơi dân”
[34, tr.698].
Sau đó, Người chỉ rõ thế nào là công tác dân vận và chỉ rõ tầm quan trọng của
công tác này. Người viết: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người
dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân...” [34, tr.698] là
làm cho dân được làm chủ, được hưởng quyền dân chủ. Người còn khẳng định: “Lực
lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém.
Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [34, tr.700]. Như vậy, theo Hồ Chí Minh,
công tác dân vận có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cách mạng; quyết định
thành công hay thất bại của cách mạng.
16
1.1.3.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức cơ bản công tác dân
vận
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ, do đó phương thức cơ bản của công
tác dân vận phải là phương thức dân chủ, không phải là những thủ thuật chính trị. Dân
chủ là tư tưởng xuyên suốt của công tác dân vận. Người đánh giá rất cao về dân
chủ: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân; thực hành dân chủ là chìa khóa vạn
năng có thể giải quyết mọi khó khăn. Muốn vận động nhân dân thì điểm cơ bản đầu
tiên phải thực hành dân chủ. Dân chủ và dân vận là không tách rời nhau, dân chủ tất
yếu đòi hỏi công tác dân vận phải đi vào chiều sâu, dân vận tốt thì dân chủ càng thuận
lợi, càng được nâng cao một cách có ý thức.
Từ quan niệm tất cả "lực lượng đều ở nơi dân", nhìn thấy và tin tưởng ở sức
mạnh của dân và để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi
lượng, hiệu quả của mọi công việc đều có nguồn gốc từ đây; bởi ở đây, nhân dân đã
phát huy được quyền làm chủ bằng năng lực và sức sáng tạo của mình.
- Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc công việc chung, họ sẽ tự giác
tham gia thực hiện. Lúc này nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo là động viên và tổ chức
toàn dân ra thi hành. Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích
dân, phải biết "đem hết sức dân, tài dân, của dân làm cho dân" [34, tr.61] có như vậy
mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia thực hiện chủ trương,
đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- "Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh
nghiệm, phê bình, khen thưởng" [34, tr.699]. Đây là công đoạn cuối cùng của quy
trình tiến hành công tác dân vận. Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm
là vô cùng quan trọng và cần thiết, giúp chúng ta tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ
khác. Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt
động và lề lối làm việc phải dân chủ.
Những lời dạy trên đây của Bác là bài học kinh nghiệm quý báu cho cán bộ,
đảng viên của Đảng, Nhà nước trong công tác dân vận, một công tác quan trọng của
cách mạng.
18
* Cách tổ chức, các làm việc phải phù hợp với quần chúng: Theo Hồ Chí Minh
mọi phương pháp tiếp cận và vận động quần chúng đều phải phù hợp với tâm tư,
nguyện vọng của quần chúng; đồng thời phải xuất phát từ thực tế trình độ dân trí và
văn hoá, theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bao gồm cả phong tục, tập quán và cụ thể
đối với từng địa phương, từng đối tượng của nhân dân. Thực chất của dân vận là như
vậy. Muốn vận động nhân dân, thì đừng quên rằng chính mình là người dân, chứ
không phải là người đứng trên nhân dân để dìu dắt hay để chỉ huy nhân dân. Dân vận
không phải là bảo ban cho dân làm theo ý mình, mà phải thực sự là dân để cùng hiểu,
rồi cùng làm với dân.
tính sáng tạo, tự giác của quần chúng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
1.1.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng làm công tác dân vận
Công tác dân vận có tầm quan trọng chiến lược trong các thời kỳ cách mạng, là
một trong những nhân tố góp phần quyết định thắng lợi của dân tộc. Nhận thức rõ vị
trí, tầm quan trọng của công tác này, trong bài "Dân vận", Người chỉ rõ: "Tất cả cán bộ
chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên
Việt, Việt Minh, v.v...) đều phải phụ trách dân vận" [34, tr.699]. Có lẽ không cần giải
thích gì thêm chúng ta cũng hiểu rõ rằng: công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả
cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền, cán bộ Mặt trận, đoàn thể nhân dân và của tất cả hội
viên, đoàn viên của các tổ chức nhân dân. Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, mỗi
thành viên trong hệ thống chính trị phải làm công tác dân vận theo những phương thức
khác nhau, và phải luôn luôn phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác này.
- Đảng phải có đường lối, chính sách và phương thức lãnh đạo các giai cấp,
tầng lớp nhân dân một cách phù hợp để đường lối, chính sách của Đảng đi vào được
từng người, khơi dậy và phát huy tính tích cực, sáng tạo của họ để mỗi người có thể
đem tài, đem sức, đem của thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trước khi thông qua,
ban hành, cần trưng cầu dân ý.
- Dân vận không chỉ là việc riêng của Đảng, mà còn là việc của chính quyền.
Nhà nước, nhân viên Nhà nước phải coi trọng và tham gia công tác dân vận. Theo Hồ
20
Chí Minh, mọi tổ chức, mọi quyền lực, mọi cán bộ nhân viên Nhà nước đều không
được quên rằng:
“Nhiệm vụ của Chính quyền ta và Đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là
làm đầy tớ cho dân. Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là việc
gì lợicho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”
[35, tr.88].
chức Đảng, chính quyền rồi đến các đoàn thể nhân dân. Phải có nhận thức đầy đủ như
vậy, chúng ta mới thực sự đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận
theo quan điểm "quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [34, tr.698]; "Trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của nhân dân" [37, tr.276];
1.1.5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc của người làm công
tác dân vận
Phong cách của người cán bộ dân vận có rất nhiều điểm đáng đề cập, song theo
Hồ Chí Minh thì: "Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai
nghe, chân đi, miệng nói, tai làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh
lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc" [34, tr.699].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh để làm công tác dân vận, công tác vận động quần
chúng, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải có phương pháp, tác phong
công tác khoa học, sâu sát, tỉ mỉ và thiết thực; tuyệt đối không được vận động quần
chúng một cách qua loa, đại khái, giản đơn; hết sức tránh những biểu hiện lời nói
không đi đôi với việc làm; nói một đàng làm một nẻo hoặc "đánh trống bỏ dùi". Cán
bộ dân vận phải sống trong lòng dân, sát cơ sở, sát thực tế; đến với nhân dân để lắng
nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân giúp nhân dân giải quyết các công việc cụ thể,
đề xuất chính sách hoặc điều chỉnh chính sách cho phù hợp; vận động nhân dân thực
hiện các chủ trương, chính sách. Cán bộ dân vận không chỉ biết nói theo nghị quyết,
hô hào động viên quần chúng, mà phải "thật thà nhúng tay vào việc", thậm chí cầm tay
chỉ việc cho dân làm. Muốn vậy cán bộ dân vận phải có năng lực thực sự, có kiến thức
ở nhiều lĩnh vực công tác để cùng quần chúng thực hiện các công việc chung.
22
Đối với những người làm công tác dân vận đòi hỏi không chỉ có khả năng tổ
chức, vận động, thuyết phục quần chúng, mà còn phải có phương pháp, tác phong
quần chúng và phải có tư cách phẩm chất cách mạng. Để làm tốt công tác dân vận,
bộ, đảng viên có phẩm chất, đạo đức trong sáng, có năng lực thực sự, "xứng đáng là
người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" là phương thức làm dân
vận có hiệu quả; "dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" [34, tr.700].
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động phụ nữ
Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá cao phụ nữ. Người nhìn nhận thấy phụ nữ là
lực lượng quần chúng khốn cùng, bị áp bức, bóc lột nhất nên khả năng cách mạng
cũng rất to lớn. Mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm cách mạng khác nhau mà Hồ Chí Minh
đưa ra phương châm công tác, phương pháp lãnh đạo cách mạng, sử dụng những hình
thức tổ chức, phù hợp với từng đối tượng quần chúng và luôn luôn có những khẩu
hiệu đòi quyền lợi chính đáng cho phụ nữ.
Người khẳng định rằng, để vận động phụ nữ có hiệu quả nhất thì ngoài vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước còn có vai trò của Hội Phụ nữ trong việc tập
hợp giáo dục phụ nữ làm cách mạng, đồng thời chăm lo quyền lợi cho phụ nữ.
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận
khéo thì việc gì cũng thành công” [34, tr.700]. Đối với công tác phụ vận: “Cán bộ phụ
nữ đi vận động, có cô vận động khéo đến đâu dân làm gì mình làm nấy, thân thiết như
người nhà, thì có thành tích. Cô nào không hoà lẫn được với nhân dân, vẫn giữ thói
quen thành phố, thì vận động không thành công” [36, tr.57].
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu vận động phụ nữ
Để đề ra được mục tiêu của việc vận động phụ nữ thì trước hết phải thấu hiểu
hoàn cảnh hiện tại của phụ nữ, những nỗi thống khổ mà phụ nữ đang phải gánh chịu
và những vấn đề đang đặt ra đòi hỏi phải giải quyết triệt để mới mang lại cuộc sống tốt
đẹp cho phụ nữ.
Là một người Việt Nam chân chính, Hồ Chí Minh chứng kiến biết bao những
khó khăn, cực khổ của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là của phụ nữ. Hồ Chí Minh quan
niệm, giải phóng phụ nữ phải gắn liền với mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người. Chỉ có giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
24
25
trong hiến pháp là một bước ngoặt quan trọng, tạo niềm tin, tạo căn cứ pháp lí cho tất
cả mọi người nhận thức và thực thi
Hồ Chí Minh so sánh hoàn cảnh phụ nữ Việt Nam trong lịch sử và trong hiện
tại để chị em nhận thấy rằng, từ khi giải phóng, phụ nữ có cơ hội để tiến bộ và tự tiến
bộ rõ rệt mọi mặt (chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội). Bác khẳng định: “ ... một trong
những tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyền ngày càng nhiều.
Thời kỳ thuộc Pháp, phụ nữ ta làm gì được tham gia chính quyền” [39, tr.184].
Người từng khẳng định: “Đảng và Chính phủ ta luôn chú ý nâng cao địa vị của
phụ nữ” [39, tr.85]. Người cũng khuyên: “Bản thân phụ nữ phải có ý chí tự cường tự
lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình” [39, tr.226]. Rất nhiều lần Người
nêu cao quan điểm rằng: “Giải phóng người đàn bà đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng
phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông” [38, tr.524].
Hồ Chí Minh quan niệm, muốn có bình đẳng thực sự, ngoài việc Đảng, Chính
phủ có các kế hoạch, biện pháp, chính sách ưu ái với phụ nữ thì bản thân phụ nữ phải
cố gắng vươn lên. Phải kết hợp cả yếu tố chủ quan và khách quan (bản thân sự nỗ lực
của phụ nữ) mới đem lại thành công, mọi ước mơ, mục tiêu mới trở thành hiện thực.
Mục tiêu giải phóng phụ nữ xét đến cùng, theo Hồ Chí Minh, là những hành
động thiết thực nhằm cải thiện đời sống phụ nữ, nâng cao vị thế cho phụ nữ trong gia
đình và ngoài xã hội.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung vận động phụ nữ
Vận động trên lĩnh vực văn hoá, xã hội
Để dễ bề cai trị dân ta, thực dân Pháp đã dùng chính sách ”ngu dân”. Chúng
hạn chế mở trường học nhằm mục đích “Không muốn cho dân ta biết chữ để dễ lừa
dối và bóc lột dân ta” [33, tr.36]. Bởi vậy, theo Bác, có tới 95% dân số thất học, trong
đó, phụ nữ thất học nhiều hơn nam giới. Bởi vậy, ngay sau nước nhà độc lập, mặc dù
còn muôn ngàn khó khăn, rất nhiều công việc phải làm để khôi phục đất nước, nhưng