Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đạo đức vào việc giáo dục đạo đức cho sinh viên trường đại học sư phạm hà nội 2 hiện nay - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

NGUYỄN MAI HƢƠNG

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
ĐẠO ĐỨC VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

HÀ NỘI - 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

NGUYỄN MAI HƢƠNG

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
ĐẠO ĐỨC VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:


Nguyễn Mai Hƣơng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC ................................ 5
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức ............................. 5
1.2. Những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh ................. 9
1.3. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức ...................................... 22
Chương 2. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH..... 25
2.1. Sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức đồi với sinh viên trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay ........................................................... 25
2.2. Thực trạng đạo đức lối sống sinh viên trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 hiện nay ........................................................................................ 28
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay........................................ 42
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 59


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam là
người anh hùng giải phóng kiên cường, bất khuất, danh nhân văn hóa thế giới.
Người đã kết tinh trong mình những phẩm chất giá trị tinh thần to lớn của dân
tộc Việt Nam. Bên cạnh sự nghiệp cứu nước vĩ đại, Người con để lại một di
sản vô giá trong đó có tư tưởng đạo đức.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn đề cao
việc tuyên truyền giáo dục đạo đức, và đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục và

hạn chế cần phải được khắc phục. Vì vậy tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức và vận dụng có hiệu quả vào việc giáo dục đạo đức cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một việc làm có ý nghĩa to lớn về
mặt lí luận và thực tiễn.
Từ lí do trên, tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức vào việc giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh đã được công trên các sách,báo, tạp chí như: “Bồi dưỡng
đạo đức sinh viên trong nền kinh tế thị trường” của Huỳnh Khái Vinh, thông
tin những vấn đề lí luận, số 6- 1998; “Tìm hiểu tư tưởng đạo đức cách mạnh
Hồ Chí Minh” của tiến sĩ Nguyễn Thế Thăng, nhà xuất bản lao động- Hà Nội2002…Trong tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2003 của tập thể
nhiều tác giả, TS Nguyễn Lương có đề cập tới một số khía cạnh tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh dưới góc độ truyền thống và hiện đại.
Trần Hậu Kiêm – Đoàn Đức Hiếu, Hệ thống phạm trù đạo đức và giáo
dục đạo đức cho sinh viên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

2


Cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và việc vận dụng tư tưởng này nhằm giáo dục
đạo đức cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Vì vậy, trên cơ sở của những bài viết trên, tôi tham khảo và viết khóa
luận của mình với hi vọng có thể đóng góp công sức của mình vào việc tìm
hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và vận dụng vào công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện
nay.

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng các tác phẩm của Hồ Chí Minh,
các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đề tài còn kế thừa và chọn lọc những
công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học trong và
ngoài nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quán triệt phương pháp luận của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như: phương pháp lịch sử cụ thể,
logic cụ thể, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, so
sánh - đối chiếu ... để làm rõ nội dung của đề tài.
6. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
- Góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.
- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay.
- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, rèn luyện của sinh
viên các trường đại học, cao đẳng và nhất là cho sinh viên trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
còn gồm có 2 chương, 6 tiết.

4


Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc
Việt Nam, của cả loài người tiến bộ đang đấu tranh cho hạnh phúc của con
người. Cái cốt lõi, tinh hoa trong đạo đức Hồ Chí Minh là lòng yêu nước,
thương dân sâu sắc, lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và lí tưởng cộng sản

thống hòa đồng, bao dung, khoan thứ “Đánh kẻ chạy đi ai đánh người chạy
lại”, truyền thống giữ chứ tín “Một lần mất tin, vạn lần mất tín”, truyền thống
công bằng “Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng”.
Tiếp thu, phát triển tinh hoa đạo đức nhân loại:
Tư tưởng Hồ Chí Minh còn được hình thành trên cơ sở tiếp thu một cách
sang tạo tư tưởng đạo đức phương Đông, phương Tây. Hồ Chí Minh tiếp thu
tư tưởng đạo đức phương Đông, đó là tư tưởng đạo đức của Nho giáo, Phật
giáo… Khi nói về Khổng Tử, Người viết: “học thuyết Khổng Tử có ưu điểm
của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”, Khổng Tử nói rằng: “Từ Thiên tử
đến thứ dân đều phải coi tu thân là việc hàng đầu”. Hồ Chí Minh nói: “đức là
gốc” và Người ví cái gốc của đức như cái gốc của cây: “Cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo…Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.[7, tr.292]
Hồ Chí Minh tiếp thu tục ngữ nước Tấn nói rằng: “theo điều thiện như
leo lên cao, theo điều ác như sa xuống dốc” và Người đưa ra quan điểm của
mình: theo con đường ác thì dễ dàng như lăn xuống hố, theo con đường thiện
thì khó nhọc nhưng vẻ vang.
Tiếp thu tư tưởng của “Luận ngữ”, Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức cách
mạng không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng
ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng
càng luyện càng trong”. [10, tr.262].

6


Tiếp thu tư tưởng “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên
hạ” của Nho giáo, Hồ Chí Minh nói: “các sự hi sinh khó nhọc thì mình làm
trước người ta, còn sung sướng thanh nhàn thì nhường người ta hưởng trước”.
[7, tr.216].
Thuyết tam tòng tứ đức, Hồ Chí Minh tiếp thu “tứ đức” và gạt bỏ “tam

1.1.2. Nhân tố chủ quan
Hồ Chí Minh sinh ra ở Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước, ở
một vùng nghèo khổ nhưng giàu truyền thống yêu nước, văn hiến, Người
được nuôi dưỡng, thấm nhuần sâu sắc triết lí sống của cha ông: Muốn dựng
làng giữ nước phải bắt đầu từ việc làm người một cách thành thật, đúng nghĩa.
Gia đình, quê hương, đất nước đã hình thành nên một Hồ Chí Minh mang
nhân cách vĩ đại, giàu lòng yêu nước, thương dân, nhất là với những người
nghèo khổ.
Trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng tiến bộ trên thế giới, Người đã xây
dựng nên những tư tưởng phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt
Nam. Yêu nước, thương dân, tất cả vì dân, vì nước là suy nghĩ thường trực,
nhất quán trong con người Hồ Chí Minh. Người sang nước ngoài để học hỏi
xem bên ngoài người ta làm thế nào để về nước giúp đồng bào mình giải
phóng khỏi áp bức, bóc lột. Người đấu tranh không ngừng nghỉ, thậm chí hi
sinh bằng mọi giá giành được độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào.
Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, Người có đời tư trong sáng, cuộc
sống giản dị, khiêm tốn hết mực, đồng thời coi khinh sự xa hoa để sống một
đời trong sạch, suốt đời thực hành cần, kiệm, liêm, chính một cách cần mẫn.
Hồ Chí Minh luôn luôn nói đi đôi với làm, luôn trung thành, tận tụy vì lợi ích
của Tổ quốc và nhân dân, không mưu cầu lợi ích cá nhân, gia đình. Trong kì
họp thứ hai Quốc hội khóa I (31/10/1946), Người tuyên bố rằng: “Hồ Chí
Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan, phát tài”.
Với tư duy độc lập và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ thực tiễn

8


Việt Nam thực hiện kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức của quá khứ để
đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của nước Việt Nam
trong thời đại mới.

Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng, đạo đức
là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người như gốc của cây, như ngọn
nguồn của sông, suối. Việc chăm lo cái gốc, cái nguồn ấy phải là công việc
thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và cả xã hội. Do đó
nó ảnh hưởng tới sự nghiệp biến đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng
thuần phong mĩ tục của dân tộc ta, có vai trò to lớn tới hành vi đạo đức của mỗi
con người. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự
nghiệp vẻ vang nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề. “Sức có mạnh mới
gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng
làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [10, tr.601].
Muốn cho dân tin, dân phục không phải cứ viết lên trên trán chữ cộng
sản mà phải được dân yêu mến, quần chúng chỉ yêu mến những người có tư
cách đạo đức: “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là
một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình
đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì” [5, tr. 292-293].
Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa mặt đạo đức coi nhẹ mặt tài. Đức là
gốc nhưng đức với tài, hồng và chuyên phải kết hợp với nhau, phẩm chất và
năng lực phải đi đôi với nhau, đức là gốc của tài, hồng là gốc của chuyên,
phẩm chất là gốc của năng lực. Tài là biểu hiện của đức trong hành động,
không thể có mặt này mà thiếu mặt kia. Chính vì vậy, cùng với việc giáo dục
nâng cao trình độ hiểu biết, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên và
nhân dân lao động, Người đã thường xuyên quan tâm giáo dục đạo đức cho
mọi người. Từng thời kì cách mạng, Người lại đề ra những yêu cầu đạo đức
sát hợp để mọi người cùng nhau phấn đấu rèn luyện nhằm hoàn thiện nhiệm
vụ , giành thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng.

10


Hồ Chí Minh yêu cầu đối với Đảng cầm quyền thì phải là Đảng đạo đức,

Chí Minh
1.2.2.1. Trung với nước, hiếu với dân
Đây là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các
phẩm chất khác.
“Trung” và “Hiếu” là những khái niệm trong tư tưởng đạo đức truyền
thống Việt Nam và phương Đông phản ánh mối quan hệ lớn nhất “Trung với
vua, hiếu với cha mẹ”
Hồ Chí Minh đã mượn khái niệm “Trung, Hiếu” trong tư tưởng đạo đức
truyền thống dân tộc Người đã làm một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo
đức và đưa vào đó một nội dung mới “Trung với nước” đã loại bỏ công cụ
thống trị đắc lực đã ngự trị hàng ngàn năm của chế độ phong kiến và thay vào
đó là chuẩn mực đạo đức mới của con người Việt Nam. Người nói “Đạo đức
cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời” [9, tr.220]
Đưa ra khái niệm “Trung với nước”, Hồ Chí Minh đã thực hiện bước đột
phá trong quan hệ đạo đức nói chung và chủ nghĩa yêu nước nói riêng. Chữ
“trung” của Người đã mở rộng ra thành mối quan hệ cá nhân với cộng đồng,
xã hội, đặc biệt mục đích của nó là sự cống hiến, phục vụ Tổ quốc và nhân
dân - Chữ trung ngày xưa là trung với vua, còn ngày nay trung với nước là
trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và con đường đi lên
của dân tộc. Chính Người đã khẳng định: Cả đời tôi chỉ có một mục đích là
phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi
tôi ẩn nấp ở núi non hoặc ra vào chốn tù tội xông pha sự hiểm nghèo đều vì
mục đích đó.
Đảng và nhân dân ta đã và đang quyết tâm xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội, vì vậy những cán bộ, đảng viên cần giữ vững lập trường tư
tưởng, bản lĩnh chính tri vững vàng, không nghe kẻ xấu xúi giục mà có những

12




Minh là người dân có quyền lực trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, phải làm sao để: “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” trong quản lí
và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Thứ hai: Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
Hồ Chí Minh có một tình yêu thương sâu sắc, bao la đối với con người,
đây là điểm nổi bật nhất trong đạo đức Hồ Chí Minh.
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân
nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân
loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình
yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.
Tình yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh có phạm vi rất
rộng lớn, đó là tình thương bao la dành cho những người cùng khổ, những
người lao động bị áp bức, bóc lột không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế
giới. Người viết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao
cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [14, tr.627]. Trong Di chúc,
Người đã dặn dò các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Nhân dân lao động ta ở
miền núi đã bao đời chịu nhiều gian khổ, bị chế độ phong kiến, thực dân áp
bức, bóc lột, lại qua nhiều năm chiến tranh…Đảng cần có kế hoạch tốt để
phát triển kinh tế, văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân .
Đối với thanh thiếu niên, nhi đồng Người luôn dành một tình yêu vô bờ bến.
Nhân dịp lễ khai giảng năm học mới hay ngày tết thiếu nhi, trung thu, Bác
luôn nhớ tới các các cháu, viết thư thăm hỏi, khen ngợi, động viên các cháu.
Người luôn tin tưởng ở thanh, thiếu niên: Thanh niên là người chủ tương lai
của đất nước, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh
niên . Người khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,
dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc

14

15


phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm
mà bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay,
ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân
theo để lợi cho nước cho dân” [9, tr.220].
Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức cơ bản của con
người. Bác viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người” [8, tr.117].
Như vậy đạo đức là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với con người.
Người giải thích nội dung cần, kiệm, liêm, chính rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ.
Mặc dù bận trăm công nghìn việc, song Người đã dành thời gian viết hẳn một
cuốn sách giải thích bốn chữ "Cần, kiệm, liêm, chính", với bút danh Lê Quyết
Thắng vào năm 1949. Cụ thể như sau:
- Cần: Người phân tích cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp. Chỉ ra rằng cần không
chỉ là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai, mà còn là phải biết làm việc có
kế hoạch, có sự phân công, tính toán một cách khoa học, là phải biết lao động
có năng suất cao, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng suất
lao động và phải thấy rõ: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống,
nguồn hạnh phúc của chúng ta” [12, tr.69]. Vì xét cho đến cùng, như Lênin
nói, cái quyết định thắng lợi của chế độ mới đối với chế độ cũ là ở chỗ nó đưa
ra được năng suất lao động mới cao hơn.
Đối với cán bộ công nhân viên chức, Người cho rằng: Cần là làm việc
phải đến đúng giờ, chớ đến muộn, về sớm, làm việc mau chóng, chu đáo. Việc

“Quan san muôn dặm một nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em” [11, tr.670].
Nội dung của chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn
và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp

19


vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những
người tiến bộ trên toàn cầu. Đó là sự đoàn kết với nhân dân lao động các nước
vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột; đoàn
kết với nhân loại tiến bộ vì hòa bình, công lí và tiến bộ xã hội, chống lại mọi
sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng và phân biệt chủng tộc; chống chủ nghĩa
dân tộc hẹp hòi, sô vanh, chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Sự đoàn kết đó
nhằm những mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị
với tất cả các nước, các dân tộc: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước
trên thế giới”.
Người khẳng định: “Bốn phương vô sản đều là anh em”, giúp bạn là tự
giúp mình, thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới. Người
đã góp phần to lớn, tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho
đối đầu, kiến tạo một nền văn hoá hoà bình cho nhân loại.
Giờ đây, Đảng và Nhà nước ta quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại
“Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế”. Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người.
1.2.3. Quan niệm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc xây dựng đạo đức
Một là: Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
Nói đi đôi với làm là nguyên tắc quan trọng nhất để xây dựng đạo đức
mới. Nói là suy nghĩ, làm là hành động. Nói đi đôi với làm nghĩa là lời nói
phải đi liền với hành động. Nói đi đôi với làm khẳng định bản chất của tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status