Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - Pdf 30


1

Công tác phát trin kin thc thông tin cho sinh viên
ng i hm Hà Ni
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong xu hướng toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức hiện
nay, giáo dục đại học có vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục
của mỗi quốc gia. Giáo dục đại học được công nhận là một công cụ hiệu
quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển xã hội
trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục đại học của Việt
Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng nhu cầu xã hội và là thách thức với quá
trình hội nhập quốc tế.
Một trong những hướng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học mà
nhiều nước phát triển trên thế giới rất coi trọng là phát triển kiến thức thông
tin (KTTT) và khả năng tự học suốt đời. GS.TS Phạm Tất Dong cho rằng:
“Học tập suốt đời là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập. Nền giáo
dục trong xã hội học tập, hướng vào việc xây dựng cho con người năng lực
tiếp nhận, xử lý, sử dụng, tạo ra, truyền bá thông tin để hình thành tri thức
mới. Việc đề cao phương thức học tập suốt đời phải đồng thời đề cao năng lực
tự học mà chủ yếu học cách học (Learning how to learn).
Hơn thế nữa, ngày nay, các hoạt động học tập đang diễn ra không chỉ
tại giảng đường đại học mà còn theo sinh viên đến hết cuộc đời. Bởi, họ chính
là những người lao động cần phải nhận biết, đánh giá, phân tích, tiếp cận và
quản lý thông tin một cách có hiệu quả để thành công trong việc giải quyết
các vấn đề, cung cấp các giải pháp, các sáng kiến cải tiến công việc trong
cuộc sống. Xuất phát từ thực tế đó, các trường đại học cần phải có chiến lược
trong đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập cho sinh

2

- Phương pháp điều tra bảng hỏi;
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp phỏng vấn.
5. Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận: Đề tài góp phần làm đầy đủ và phong phú hơn các khái
niệm về KTTT, đồng thời nắm bắt được công tác đào tạo người dùng tin của
thư viện.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của khóa luận là cơ sở để khẳng
định tầm quan trọng của KTTT, đồng thời sẽ giúp Trung tâm TT – TV ĐHSP
HN và Ban giám hiệu Nhà trường nhận ra thực trạng công tác đào tạo KTTT
cũng như năng lực KTTT của sinh viên. Trên cơ sở đó, Nhà trường và thư
viện đề ra những giải pháp giúp sinh viên có khả năng tốt hơn trong việc nhận
biết nhu cầu thông tin, khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung bài khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội với công tác phát triển KTTT cho sinh viên
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển KTTT cho sinh viên Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao KTTT cho sinh viên
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

4

Chƣơng 1
TRUNG TÂM TT-TV TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI VỚI
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KTTT CHO SINH VIÊN

1.1. Khái niệm kiến thức thông tin

nghiên cứu nói riêng làm chủ được kho tàng tri thức của nhân loại. Sự bùng
nổ thông tin như hiện nay đã cho ra đời một lượng thông tin khổng lồ hỗn
loạn và vô cùng phức tạp. Làm thế nào để tìm đúng và đủ thông tin mà mình
cần, đồng thời đánh giá được sự phù hợp, sử dụng chúng một cách hiệu quả?
Không khó để trả lời nếu chúng ta có hiểu biết sâu sắc về kiến thức thông tin.
Tại Hội nghị về KTTT và kỹ năng học tập suốt đời ( Information
Literacy and Lifelong learning) diễn ra vào ngày 6 – 9 tháng 11 năm 2005 tại
Alexandria, Ai Cập, KTTT được định nghĩa “ là khả năng tìm kiếm đánh giá,
sử dụng và tái tạo thông tin một cách hiệu quả phục vụ mục đích cá nhân, xã
hội, công việc và học tập”. Trong thời đại công nghệ số, con người có hiểu
biết, kiến thức về công nghệ, kỹ thuật thôi chưa đủ mà cần phải học cách tìm
kiếm, truy cập, tổ chức, phân tích và đánh giá thông tin nhằm sử dụng vào
việc ra quyết định và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất [17].
Theo UNESCO, KTTT là sự kết hợp của kiến thức, sự hiểu biết, các kỹ
năng và thái độ mà mỗi thành viên cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thông tin.
Khi mỗi cá nhân có kiến thức thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, tiếp biến,
đánh giá, thao tác và trình bày thông tin. Theo khái niệm này, người sử dụng
thông tin không chỉ cần có trình độ để lựa chọn thông tin phù hợp mà còn
phải có thái độ đúng đắn trong việc sử dụng thông tin. Nói cách khác, người
có KTTT phải sử dụng thông tin một cách có đạo đức. Hơn ai hết, đối với
người làm công tác nghiên cứu càng phải chứng tỏ được việc sử dụng thông
tin một cách hợp pháp luật, hợp đạo đức của mình. Sẽ không quá khó khăn

6

nếu chúng ta có hiểu biết về KTTT. Quan trọng hơn cả, kiến thức này cũng
giúp cho các nhà nghiên cứu có một thái độ nghiên cứu nghiêm túc, giúp họ
tránh được những vi phạm liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, đạo đức
nghiên cứu. Và đó cũng chính là cơ sở để chúng ta tính tới vấn đề hội nhập và
hợp tác bình đẳng với bạn bè quốc tế trên mặt trận nghiên cứu khoa học. Với

hoặc mở rộng kiến thức [16]. Khái niệm này bao gồm cả khái niệm ICT và
khái niệm các nguồn tin và cá nhân được xem như các hệ thống thông tin có
khả năng tra cứu, đánh giá, xử lý và phổ biến thông tin để ra các quyết định
nhằm tồn tại [3].
Qua các định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng KTTT không chỉ đơn
thuần là khai thác thông tin trên mạng hay chỉ khai thác thông tin trong các tài
liệu truyền thống. KTTT đòi hỏi những kỹ năng như định hướng nhu cầu
thông tin, sử dụng các công cụ tìm tin hiệu quả và khả năng thẩm định các
nguồn tin. KTTT đòi hỏi khả năng khá toàn diện với mục tiêu giúp con người
chủ động hơn trong việc học tập, nghiên cứu; chú trọng tới rèn luyện kỹ năng
tiếp nhận thông tin có chọn lọc hay tư duy phê phán của người dùng tin. Đồng
thời KTTT cũng là điều kiện đầu tiên để mọi người tham gia có hiệu quả vào
xã hội thông tin và là yếu tố để con người thực hiện quyền học tập suốt đời.
Mục tiêu hướng tới của KTTT là tạo ra khả năng cho các cá nhân nhận ra nhu
cầu thông tin của họ và tìm kiếm thông tin một cách có hiệu quả; quản lý
thông tin thu thập được, đánh giá có phê phán thông tin và các nguồn tin; ứng
dụng thông tin trong việc học tập, sáng tạo tri thức mới; nắm bắt được các
khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị, văn hóa và xã hội trong việc sử dụng
thông tin hợp pháp. 8

1.1.2. Các thành t ca KTTT
Tháng 9 năm 2003, dưới sự tài trợ của UNESCO, Ủy Ban quốc gia về
khoa học thư viện và thông tin và Diễn đàn quốc gia về KTTT (Hoa Kỳ) đã tổ
chức hội thảo bàn về KTTT. Hội thảo này đã ra một tuyên bố, gọi là Tuyên bố
Praha: Tiến tới xã hội KTTT (The Prague Declaration: Towards an
Information Literate Society). Tuyên bố Praha đã đưa ra 6 nguyên tắc cơ bản
của KTTT. Trong đó, nguyên tắc thứ hai đề cập: “KTTT bao gồm kiến thức

 Pháp luật thư viện, luật bản quyền.

Về kỹ năng, bao gồm các kỹ năng sau:
 Kỹ năng công cụ: biết định hướng trong các bộ máy tra cứu- tìm tin của
các thư viện và cơ quan thông tin trong và ngoài nước tìm kiếm thông tin bằng
phương pháp truyền thống và hiện đại; Các phương pháp làm việc với vật mang
tin khác nhau, kỹ thuật đọc để thu nhận thông tin từ những gì đã đọc,…
 Kỹ năng về nguồn tin: Xác định , đánh giá đúng nguồn thông tin,
nguồn tài liệu cần thiết cho quá trình tìm kiếm thông tin.
 Kiến thức về cấu trúc xã hội: Tính chính xác và chân thực của thông
tin phù hợp với nhu cầu tin của toàn xã hội, của tập thể, nhóm người, của từng
cá nhân
 Các kỹ năng nghiên cứu và đánh giá thông tin thông qua công tác xử
lý, đánh giá, tổng hợp và phân tích tin;
 Kỹ năng truyền đạt, phổ biến thông tin;
 Kỹ năng tạo lập các sản phẩm thông tin, thư viện đặc biệt như cách
lập bản thư mục, giới thiệu sách, biên soạn bài tóm tắt, các bài tổng luận,…
 Kỹ năng về xuất bản, công nghệ… 10

1.2. Vài nét về Trung tâm Thông tin – Thƣ viện Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội
1.2.1. Quá trình hình thành và phát trin Hình 1.1 : Trung tâm TT  i hm Hà Ni



khoa về nơi sơ tán để cán bộ, giảng viên và sinh viên không thiếu tài liệu học
tập, giảng dạy, thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Dù khó khăn đến
đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”.
Giai đoạn 1975–1993: Giai đoạn này, trường có tên là trường Đại học
Sư phạm Hà Nội I trên cơ sở sát nhập 2 trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và
Đại học Sư phạm Hà Nội II. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nhà
trường trong giai đoạn này là chi viện cho việc xây dựng trường ĐHSPHN2
mới được thành lập ở Xuân Hoà (1976) và các trường đại học Sư phạm, cao
đẳng Sư phạm ở miền Nam, Lào, Campuchia… Thực hiện nhiệm vụ của Nhà
trường giao cho, Thư viện vừa phải đảm bảo tài liệu phục vụ cho học tập,
giảng dạy, nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, sinh viên của trường ĐHSPHN
I vừa phải chia sẻ tài liệu cho các trường bạn.
Giai đoạn 1993 – 1999: Thời điểm này, trường Đại học Sư phạm là một
trường thành viên thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội. Thư viện của trường sát

12

nhập vào Trung tâm Thông tin Thư viện – Đại học Quốc Gia Hà Nội, vẫn duy
trì tốt nề nếp phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường một
cách hiệu quả.
Giai đoạn 1999 đến nay: Tháng 12/1999 theo Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ, trường ĐHSPHN tách ra khỏi Đại học Quốc Gia Hà Nội,
theo đó Thư viện cũng được tách khỏi Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học
Quốc Gia Hà Nội. Đây là giai đoạn Thư viện nhận được sự quan tâm đầu tư
lớn của Nhà trường từ phát triển đội ngũ cán bộ đến cơ sở vật chất, trang thiết
bị…Từ đây Thư viện đã có những chuyển biến mạnh mẽ, từng bước ứng dụng
công nghệ thông tin vào các mặt hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu tài liệu,
thông tin của đông đảo bạn đọc phục vụ hiệu quả yêu cầu đào tạo và nghiên
cứu khoa học của nhà trường trong giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng trường
Đại học Sư phạm trọng điểm.

thu thập, bổ sung, xử lý và cung cấp các tài liệu về lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa
học giáo dục và các khoa học khác, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, giảng dạy và
nghiên cứu của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong và ngoài trường ĐHSPHN.
 Nhiệm vụ
Với vai trò là giảng đường thứ hai trong trường đại học, là cầu nối giữa
tri thức với con người, là đầu mối quan trọng về công tác Thông tin - Tư liệu
phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trung tâm Thông tin –
Thư viện trường ĐHSPHN phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
 Tham mưu lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn cho Ban Giám hiệu về
công tác thông tin tư liệu phục vụ học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và
học tập trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường.
 Thu thập, bổ sung, trao đổi và xử lý tài liệu nhằm cung cấp những
thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu tra cứu tìm tin của bạn đọc.
 Tổ chức sắp xếp, lưu trữ và bảo quản nguồn tư liệu của trường bao
gồm các loại hình ấn phẩm và vật mang tin.
 Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin theo phương pháp truyền thống và
hiện đại nhằm phục vụ và phổ biến thông tin.
 Thu thập, lưu chiểu những ấn phẩm do nhà trường xuất bản, các luận
văn Thạc sĩ, các luận án Tiến sĩ được bảo vệ tại trường và của các cán bộ nhà

14

trường bảo vệ tại các cơ sở đào tạo khác.
 Nghiên cứu khoa học TT-TV, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật
mới vào việc xử lý và phục vụ nhu cầu thông tin của bạn đọc.
 Duy trì và phát triển các mối quan hệ nhằm trao đổi và chia sẻ nguồn
lực thông tin với các cơ quan TT-TV Trường ĐHSPHN, các tổ chức khoa học
trong và ngoài nước.
 Đảm bảo cung cấp thông tin cho NDT một cách đầy đủ, chính xác, đúng
đối tượng, điều tra đánh giá đúng nhu cầu thông tin của cán bộ giảng dạy, cán bộ

- tầng 2) của Trung tâm.

: Phục vụ bạn đọc sử dụng, khai thác Internet và hệ
thống thiết bị đa phương tiện với nguồn tài liệu điện tử, được bố trí tại phòng
402, 403, 404, 405 - tầng 4 của Trung tâm.

Nguồn lực thông tin là một trong những yếu tố tiên quyết cấu thành
hoạt động thông tin thư viện và cũng là tài nguyên vô cùng quan trọng để
phục vụ nhu cầu của bạn đọc. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lực
thông tin Trung tâm Thông tin -Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
không ngừng xây dựng và phát triển được một nguồn lực tài nguyên thông tin

16

tương đối lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin trong trường. Vốn tài
liệu của trung tâm rất phong phú bao gồm tất cả các ngành đào tạo và nghiên cứu
của trường hiện nay. Trong khóa luận này tác giả tạm chia thành 2 loại là: Tài
liệu truyền thống và tài liệu điện tử. Cụ thể như sau:

Tài liu truyn thng :
Trung tâm có khối lượng tài liệu truyền thống với khoảng 103.246 tên,
với khoảng 386.975 bản (tính đến tháng 04 năm 2014) bao gồm các sách thuộc
các lĩnh vực giáo dục, sách tham khảo, sách tra cứu, giáo trình, đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các tài liệu bằng các thứ tiếng
như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Trung Quốc…
Cụ thể số tài liệu truyền thống được thống kê qua bảng sau:
Bng 1.1: Thng kê s ng tài liu truyn thng
STT
Loại hình tài liệu
Số lƣợng tên tài liệu

103.246
386.975  Kho tài liệu tiếng Việt
Gồm 49.170 tên tài liệu tương đương với 235.960 bản chiếm khoảng 61%
tài liệu truyền thống. Trong đó chủ yếu tập trung các sách về các ngành KHXH,
KHTN, các sách về lí luận sư phạm và đổi mới phương pháp giảng dạy. Kho
sách Việt còn có tài liệu tham khảo, sách tra cứu như từ điển, bách khoa toàn
thư, niên giám, thống kê, sổ tay, sách giáo trình - đây là loại tài liệu tương đối

17

lớn của Trung tâm, cung cấp cho học viên, sinh viên những kiến thức cơ bản, có
hệ thống về các chuyên ngành thuộc lĩnh vực giáo dục mà họ đang theo học.
 Kho sách ngoại
Gồm 37.144 tên tài liệu tương đương với 85.000 bản, chiếm 22% lượng
tài liệu truyền thống. Chủ yếu là các sách tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức,
tiếng Trung, tiếng Nga. Tài liệu Hán Nôm lưu giữ khoảng 700 bản và hiện
nay chưa được đưa ra phục vụ.
 Kho tài liệu luận án, luận văn
Gồm 13.071 tên tài liệu tương đương với 15.875 bản, chiếm 4% lượng
tài liệu truyền thống. Đây là hệ thống luận án, luận văn do trường ĐHSPHN
đào tạo, đây có thể coi là kho tài liệu quý của Trung tâm. Chính vì vậy, hàng
năm Trung tâm có trách nhiệm thu thập, lưu giữ và bảo quản tất cả những sản
phẩm được bảo vệ tại trường. Đây loại hình tài liệu được nghiên cứu sinh và
học viên cao học sử dụng tham khảo thường xuyên và rất hữu ích cho các đề
tài nghiên cứu của họ.
 Kho báo, tạp chí
Có 46.000 cuốn tạp chí chuyên ngành với khoảng 935 đầu tạp chí

Sách Việt
49.170
59,2
2
Bài trích tạp chí
16.917
20,4
3
Luận án, luận văn
13.071
15,7
4
Tạp chí
935
1,1
5
Đề tài NCKH
2.926
3,6
Tổng

83.019

Sách Việt
Sách ngoại
Tạp chí
Luận án, luận văn
Đề tài NCKH
61%
22%

20.4%
15.7%
3.6
1.1%

20

Các loại CSDL mà Trung tâm đã mua để bạn đọc tra cứu bao gồm:
- Tạp chí khoa học Giáo dục Anh Mỹ (1983-2007)
- Tạp chí tiếng Việt
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và Nhà nước từ 1984 đến 2008
- Tạp chí điện tử trực tuyến của Viện Vật lý Mỹ (IOP)
- Tạp chí điện tử trực tuyến của Hội hóa học Hoàng Gia Anh (RSC)
- Phần mềm học tiếng Anh
- CSDL tạp chí điện tử ProQuest Education
-CSDL tạp chí điện tử Springer
-CSDL tạp chí điện tử APS
-CSDL tạp chí điện tử ACS
-CSDL tạp chí điện tử ACM
Ngoài ra còn có một số lượng nhỏ tài liệu điện tử như:
- Băng video: 87 băng
- Băng cassette: 157 băng
- Đĩa CD - ROM: 1.300 đĩa
i dùng tin và nhu cu tin
Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin. Đó là đối
tượng phục vụ của công tác thông tin tư liệu. Người dùng tin vừa là khách
hàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông
tin mới. Người dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin và
luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin.
Ngoài đối tượng phục vụ chính là sinh viên, nghiên cứu sinh và cán bộ

phục vụ riêng: Thông tin phục vụ chính xác, có độ tin cậy cao, có tính chất
khách quan, có độ cô đọng, xúc tích. Hình thức phục vụ thường là các thông
tin chuyên đề, tổng quan, tổng luận, ấn phẩm thông tin, bản tin,… Phương

22

pháp phục vụ chủ yếu mà Trung tâm áp dụng là phục vụ từ xa với cá nhân
từng người theo những yêu cầu cụ thể mà họ gửi tới.
Nhóm 2 : Nhóm cán b nghiên cu, ging dy
Đây là nhóm NDT chiếm số lượng khá lớn, chiếm khoảng 18,75% số
lượng NDT thường xuyên tại Trung tâm. Họ là lực lượng nòng cốt quyết định
tới quá trình đào tạo và NCKH cơ bản, khoa học giáo dục của Nhà trường.
Nhà trường luôn dành những điều kiện thuận lợi nhất trong việc bổ sung và
trao đổi tài liệu, phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất để thực hiện tốt
nhiệm vụ giảng dạy phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục. Cán bộ giảng dạy,
nghiên cứu của trường ĐHSPHN là nhóm NDT tích cực, họ vừa là người
sang tạo ra thông tin ( bằng việc trực tiếp tham gia NCKH, viết giáo trình…)
vừa là người chuyển giao thông tin, tri thức tới người học. Họ là những người
có trình độ chuyên môn và trình độ học vấn cao. Hoạt động chủ yếu của nhóm
này là giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhiều người trong số họ thường
xuyên tham gia các đề tài NCKH cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước… Nhu
cầu thông tin của nhóm NDT này chủ yếu là các loại sách tham khảo, đặc biệt
là các tài liệu nước ngoài. Ngoài ra các tài liệu như: Từ điển, bách khoa toàn
thư, sổ tay, sách tra cứu , các tài liệu phi ấn phẩm: băng đĩa, băng hình, CD-
ROM, các CSDL cũng là tài liệu có giá trị mà họ quan tâm.
Nhóm 3: Nhóm nghiên cu sinh, hi hc và sinh viên
Hiện nay, tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đối
tượng NDT chiếm tỷ lệ số lượng đông đảo nhất là sinh viên, chiếm khoảng
75% trên số lượng NDT. Ngoài ra, thuộc nhóm NDT này còn có bạn đọc là
học sinh các lớp chuyên do trường ĐHSPHN đào tạo và một số là bạn đọc

i vi hong ging dy và nghiên cu khoa hc

KTTT với hoạt động giảng dạy
Cán bộ giảng dạy không chỉ được coi là người cung cấp kiến thức cho

24

sinh viên mà còn là người giúp sinh viên tự tiếp cận, đánh giá, sử dụng thông
tin có hiệu quả. Từ đó, thúc đẩy quá trình tự học, tự tìm hiểu tri thức và sáng
tạo tri thức mới. Một trong những nguyên tắc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện
nay chính là đổi mới phương pháp dạy – học. Song song với mục tiêu đó,
phương pháp giáo dục không còn là phương pháp tiếp cận thông tin một cách
thụ động “ thầy đọc trò chép” nữa mà người học trở thành trung tâm của quá
trình dạy và học. Người học có những cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin, các
cơ sở dữ liệu… để tự chủ trong học tập và sáng tạo. Chính phương pháp giáo
dục này đòi hỏi cán bộ giảng dạy phải luôn cập nhật thông tin, đổi mới kiến
thức, tự nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu của người học. Vì vậy, việc trang
bị KTTT cho sinh viên và giáo viên chính là chìa khóa giúp cho cả thầy và trò
làm chủ thông tin, tri thức, làm chủ quá trình tự học và tự học suốt đời.
Tuy nhiên, hiện nay KTTT vẫn thiếu sự tập trung vào công tác giảng
dạy vốn được coi là một chức năng chủ chốt của thư viện đại học. Sự hợp tác
giữa cán bộ giảng dạy, ban quản trị nhà trường với cán bộ thư viện trong công
tác đào tạo KTTT cho sinh viên là hết sức cần thiết. Bawden ( 2001) cho
rằng: “ KTTT phải được coi như một khái niệm có liên kết chặt chẽ đến cải
tiến chương trình đại học và nó không chỉ được coi như một con ngựa gỗ của
cán bộ thư viện. Hiểu một cách rộng rãi kiến thức thông tin nên được coi như
một chiến lược để nâng cao năng lực lĩnh hội của sinh viên” [15].

Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét,

 Khả năng định vị : Xác định được nguồn cung cấp thông tin và tìm
được nguồn tin cần có
 Đánh giá thông tin: Thẩm định tính chính xác của các thông tin
 Khả năng phê phán : Tư duy nhận xét, phê bình trước các vấn đề,
hiện tượng

Trích đoạn Giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status