NGUYỄN MAI HƯƠNG
VẬN DỤNG Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÈ ĐẠO ĐỨC VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
ĐỨC
•
•
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
NGUYỄN MAI HƯƠNG
•
•
•
VẬN DỤNG Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÈ ĐẠO ĐỨC VÀO VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC
•
•
•
•
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: ThS. VI THI LẠI
•
Nguyễn Mai Hưo’ng
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô giáo
ThS. Vi Thị Lại. Tôi xin cam đoan rằng:
•
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
•
Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
•
•
Nguyễn Mai Hương
•
MỤC LỤC
Sinh viên
LỜI CẢM
•.......................................................................................................................
lớn đó, còn có những tác động tiêu cực do quá trình hội nhập mang lại như tệ nạn xã
hội, cờ bạc, ma túy, mại dâm, những biểu hiện của sự suy thoái đạo đức. Một bộ
phận sinh viên vì nhu cầu lợi ích trước mắt, vì chạy theo lợi ích cá nhân mà đánh
mất đi những phẩm chất, những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Nhiều sinh viên chạy theo xu hướng thực dụng, buông lỏng, cẩu thả trong cuộc
sống, trong quan hệ tình bạn, tình yêu... gây ảnh hưởng rất lớn tới học tập. Đây là
một nguy cơ lớn tác động không nhỏ tới sự phát triển tương lai của đất nước.
•
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một trường thuộc hệ thống các trường
sư phạm, nơi góp phần đào tạo các thế hệ giáo viên cho đất nước.
•
Trong môi trường sư phạm việc giáo dục đạo đức là vô cùng quan trọng
nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, xây dựng môi trường học tập lành
mạnh, giúp sinh viên phát huy được hết khả năng của mình, đào tạo ra những thế hệ
“ giáo viên tương lai” đủ “đức” đủ “tài” để góp phần xây dựng xã hội thêm giàu đẹp
văn minh. Do đó, trong nhiều năm qua, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã có
nhiều hoạt động nhằm giáo dục đạo đức cho sinh viên trong trường: kêu gọi hiến
máu nhân đạo, tham gia cuộc thi “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”... và đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những thành
tựu đã đạt được thì vẫn còn một số hạn chế cần phải được khắc phục. Vì vậy tiếp tục
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và vận dụng có hiệu quả vào việc giáo
dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một việc làm có ý
nghĩa to lớn về mặt lí luận và thực tiễn.
•
•
Vì vậy, trên cơ sở của những bài viết trên, tôi tham khảo và viết khóa luận
của mình với hi vọng có thể đóng góp công sức của mình vào việc tìm hiểu tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức và vận dụng vào công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1.
Mục đích
•
Tìm hiểu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và làm rõ thực trạng giáo dục đạo
đức cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho
sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.2.
Nhiệm vụ
-
Làm rõ cơ sở hình thành, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
-
Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
5. Co’ sỏ’ lí luận và phưong pháp nghiên cứu
5.1.
Cơ sở lí luận
•
Đe tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp những quan điểm cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng các tác phẩm của Hồ Chí Minh, các văn kiện
của Đảng và Nhà nước. Đe tài còn kế thừa và chọn lọc những công trình nghiên cún
tư tưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
5.2.
Phương pháp nghiên cứu
•
Quán triệt phương pháp luận của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như: phương pháp lịch sử cụ thể, logic
cụ thể, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng họp, so sánh - đối chiếu
... để làm rõ nội dung của đề tài.
6. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
-
Góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.
-
ở một góc độ khác nhau và không ngừng hoàn thiện tri thức cho mình. Cho nên chưa
có một định nghĩa cụ thế, đầy đủ về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mà tác giả mới
chỉ nghiên cứu và đưa ra những quan niệm ở những góc độ khác nhau tùy theo cách
nhìn nhận của mỗi người.
•
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành lên tư tưởng Hồ
Chí Minh, cho nên nguồn gốc của nó cũng là nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt
Nam, tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại và nhũng tư tưởng đạo đức của chủ
nghĩa Mác - Lênin.
1.1.
Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.1.1.
Nhân tố khách quan
•
Ke thừa, phát triến những giá trị truyền thong đạo đức tốt đẹp của dân tộc.
•
Đó là chủ nghĩa nhân văn kết tụ từ ngàn đời qua quá trình sinh sống, dựng
nước và giữ nước của cả dân tộc từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ
kia, cùng nhau giải quyết những nhiệm vụ lịch sử để tồn tại và phát triển. Đạo đức
cổ truyền của dân tộc ta hình thành do quá trình đấu tranh chống sự khắc nghiệt của
Hồ Chí Minh tiếp thu tục ngữ nước Tấn nói rằng: “theo điều thiện như leo
lên cao, theo điều ác như sa xuống dốc” và Người đưa ra quan điểm của mình: theo
con đường ác thì dễ dàng như lăn xuống hố, theo con đường thiện thì khó nhọc
nhưng vẻ vang.
•
Tiếp thu tư tưởng của “Luận ngữ”, Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức cách mạng
không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát
triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
[10, tr.262].
•
Tiếp thu tư tưởng “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”
của Nho giáo, Hồ Chí Minh nói: “các sự hi sinh khó nhọc thì mình làm trước người
ta, còn sung sướng thanh nhàn thì nhường người ta hưởng trước”. [7, tr.216].
•
Thuyết tam tòng tứ đức, Hồ Chí Minh tiếp thu “tứ đức” và gạt bỏ “tam
tòng”. Người hết lòng yêu thương, quý trọng mọi người xung quanh. Trong di chúc
Người đã viết: “cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn
Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các thiếu niên nhi đồng”. [18, tr.613]. Không chỉ vậy,
người còn tiếp thu tư tưởng đạo đức của cách mạng tư sản với khẩu hiệu “tự do, bình
đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản Pháp, tư tưởng dấu tranh vì công bằng của Cơ
Đốc giáo, tư tưởng “bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mun cầu hạnh phúc”
Nhân tố chủ quan
•
Hồ Chí Minh sinh ra ở Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước, ở một
vùng nghèo khổ nhung giàu truyền thống yêu nước, văn hiến, Người được nuôi
dưỡng, thấm nhuần sâu sắc triết lí sống của cha ông: Muốn dựng làng giữ nước phải
bắt đầu từ việc làm người một cách thành thật, đúng nghĩa. Gia đình, quê hương, đất
nước đã hình thành nên một Hồ Chí Minh mang nhân cách vĩ đại, giàu lòng yêu
nước, thương dân, nhất là với những người nghèo khổ.
•
Trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng tiến bộ trên thế giới, Người đã xây dựng
nên những tư tưởng phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam. Yêu
nước, thương dân, tất cả vì dân, vì nước là suy nghĩ thường trực, nhất quán trong con
người Hồ Chí Minh. Người sang nước ngoài để học hỏi xem bên ngoài người ta làm
thế nào để về nước giúp đồng bào mình giải phóng khỏi áp bức, bóc lột. Người đấu
tranh không ngừng nghỉ, thậm chí hi sinh bằng mọi giá giành được độc lập cho Tổ
quốc, tự do cho đồng bào.
•
Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, Người có đời tư trong sáng, cuộc sống
giản dị, khiêm tốn hết mực, đồng thời coi khinh sự xa hoa để sống một đời trong
sạch, suốt đời thực hành cần, kiệm, liêm, chính một cách cần mẫn. Hồ Chí Minh
luôn luôn nói đi đôi với làm, luôn trung thành, tận tụy vì lợi ích của Tổ quốc và nhân
dân, không mưu cầu lợi ích cá nhân, gia đình. Trong kì họp thứ hai Quốc hội khóa I
gương đấu tranh không mệt mỏi chống lại cái ác, cái xấu trong xã hội, trong mỗi con
người, chống lại những biếu hiện tiêu cực, nhất là bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu
trong bộ máy nhà nước.
1.2. Nhũng nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 1.2
Quan điếm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đạo đức
•
Theo Hồ Chí Minh đạo đức có vị trí, vai trò rất quan trọng. Người khẳng
định: Thứ nhất: Đạo đức là gốc của người cách mạng
•
Đạo đức cách mạng trước hết là sức mạnh tinh thần, là vũ khí sắc bén của
cách mạng. Đạo đức cách mạng là mẫu số chung, là thước đo lòng cao thượng của
mỗi con người, là mục tiêu đồng thời là nhân tố quyết định thành công của cách
mạng.
•
Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng, đạo đức là
nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người như gốc của cây, như ngọn nguồn của
sông, suối. Việc chăm lo cái gốc, cái nguồn ấy phải là công việc thường xuyên của
toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và cả xã hội. Do đó nó ảnh hưởng tới sự
nghiệp biến đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng thuần phong mĩ tục của dân
tộc ta, có vai trò to lớn tới hành vi đạo đức của mỗi con người. Làm cách mạng để
cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp vẻ vang nhung nó cũng là một
nhiệm vụ 1'ất nặng nề. “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách
mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách
mạng vẻ vang” [10, tr.601].
•
Thứ hai: Đạo đức là nhân tố tạo nên sự hấp dân của chủ nghĩa xã hội Theo
Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa xã hội hấp dẫn chưa phải ở lí tưởng cao quý, ở mức sống
vật chất đầy đủ, ở tự do tư tưởng mà là ở giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất đạo
đức của nhũng người cộng sản ưu tú,bằng nhũng tấm gương sống và hành động của
mình, chiến đấu cho lí tưởng đó trở thành hiện thực. Chính tấm gương đạo đức lối
sống của cán bộ, đảng viên đã tạo nên nét đẹp riêng biệt, đặc thù của chế độ mới mà
ở các chế độ khác không hề có, nhân dân không thấy được ở những con người trong
chế độ xã hội cũ. Chính tấm gương đạo đức cách mạng, nhân cách, lí tưởng cao đẹp,
lối sống giản dị, gần gũi với nhân dân lao động đã tạo nên sự hấp dẫn của chế độ
Chủ nghĩa xã hội được nhân dân ta và nhân dân thế giới tin theo, ca ngợi, là nguồn
cổ vũ, động viên cho toàn thể dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới trong cuộc đấu
tranh vì hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
•
Chủ nghĩa xã hội trở thành nhân tố quyết định vận mệnh loài người không
chỉ do chiến lược, sách lược cách mạng vô sản mà còn do phẩm chất đạo đức của
người Cộng sản. Phẩm chất đạo đức cao quý là sức mạnh tạo nên sự hấp dẫn của chủ
nghĩa xã hội. Sức mạnh đó là chủ nghĩa nhân đạo Cộng sản.
•
Bác nói: “ Đối với phương Đông một tấm gương sống còn có giá trị hon 100
bài diễn văn tuyên truyền”. Và cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức sáng
ngời, vĩ đại cổ vũ nhân dân ta và nhân loại tiến bộ đoàn kết đấu tranh vì hòa bình,
Đưa ra khái niệm “Trung với nước”, Hồ Chí Minh đã thực hiện bước đột phá
trong quan hệ đạo đức nói chung và chủ nghĩa yêu nước nói riêng. Chữ “trung” của
Người đã mở rộng ra thành mối quan hệ cá nhân với cộng đồng, xã hội, đặc biệt mục
đích của nó là sự cống hiến, phục vụ Tổ quốc và nhân dân - Chữ trung ngày xưa là
trung với vua, còn ngày nay trung với nước là trung thành với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc và con đường đi lên của dân tộc. Chính Người đã khẳng định: Cả
đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của
nhân dân. Những khi tôi ẩn nấp ở núi non hoặc ra vào chốn tù tội xông pha sự hiểm
nghèo đều vì mục đích đó.
•
Đảng và nhân dân ta đã và đang quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội, vì vậy những cán bộ, đảng viên cần giữ vũng lập trường tư tưởng, bản lĩnh
chính tri vững vàng, không nghe kẻ xấu xúi giục mà có những tư tưởng muốn đưa
nước ta phát triển theo con đường khác như đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
•
Với Hồ Chí Minh, “trung” và “hiếu” không tách rời nhau, mà có mối quan hệ
hữu cơ với nhau. Yêu nước phải gắn liền với thương dân, thương dân chính là biểu
hiện của lòng yêu nước. Người nói: “Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với
cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân” [9, tr.400], “đạo đức ngày nay cao
rộng hon: không phải chỉ có hiếu với bố mẹ, mà trung với nước, hiếu với dân” [14,
tr.673]. Qua đó, ta thấy Hồ Chí Minh đã chuyển khái niệm trung, hiếu của Nho giáo
thành một tư tưởng đạo đức thống nhất: “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.
•
văn hóa, xã hội, phải làm sao để: “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” trong quản lí và
xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
•
Thứ hai: Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
•
Hồ Chí Minh có một tình yêu thương sâu sắc, bao la đối với con người, đây
là điểm nổi bật nhất trong đạo đức Hồ Chí Minh.
•
Ke thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết họp truyền thống nhân
nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại
qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương
con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.
•
Tình yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh có phạm vi rất rộng
lớn, đó là tình thương bao la dành cho nhũng người cùng khổ, những người lao
động bị áp bức, bóc lột không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới. Người
viết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được
hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,
ai cũng được học hành” [14, tr.627]. Trong Di chúc, Người đã dặn dò các vị lãnh
đạo Đảng và Nhà nước: Nhân dân lao động ta ở miền núi đã bao đời chịu nhiều gian
khổ, bị chế độ phong kiến, thực dân áp bức, bóc lột, lại qua nhiều năm chiến
tranh.. .Đảng cần có kế hoạch tốt để phát triển kinh tế, văn hóa nhằm không ngừng
đều có, dù nhiều ít khác nhau.
•
Người nói “cần làm cho phần tốt trong con người nảy nở như hoa mùa xuân
và phần xấu mất dần đi”. Bác căn dặn, Đảng “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn
nhau”, trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành, thẳng thắn, để giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ, không “dĩ hoà vi quý”, không hạ thấp con người, càng không
phải vùi dập con người.
•
Thứ ba: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
•
Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức truyền
thống của phương Đông, được ông cha ta đặc biệt coi trọng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh coi đây là một phẩm chất đạo đức gắn liền với cuộc sống hàng ngày của
tất cả mọi người, cho nên từ tác phẩm “Đường cách mệnh” đến bản “Di chúc” cuối
cùng Người đề cập đến phẩm chất này nhiều nhất. Người thường dùng những khái
niệm đạo đức truyền thống, nhưng lược bỏ đi những nội dung đã lạc hậu, giữ lại
những gì tốt đẹp và thêm vào nhũng nội dung mới phù hợp với thời đại nhằm giáo
dục nhân dân và cán bộ. Người chỉ rõ: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm,
liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự
quyền lợi cho chúng. Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện
làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân” [9, tr.220].
•
giải thích nội dung cần, kiệm, liêm, chính rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ. Mặc dù bận trăm
công nghìn việc, song Người đã dành thời gian viết hẳn một cuốn sách giải thích
bốn chữ "Cần, kiệm, liêm, chính", với bút danh Lê Quyết Thắng vào năm 1949. Cụ
thể như sau:
-
Cần: Người phân tích cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp. Chỉ ra rằng cần không chỉ là cần cù,
siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai, mà còn là phải biết làm việc có kế hoạch, có sự phân
công, tĩnh toán một cách khoa học, là phải biết lao động có năng suất cao, cải tiến
kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động và phải thấy rõ: “Lao
động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta” [12,
tr.69]. Vì xét cho đến cùng, như Lênin nói, cái quyết định thắng lợi của chế độ mới
đối với chế độ cũ là ở chỗ nó đưa ra được năng suất lao động mới cao hơn.
•
Đối với cán bộ công nhân viên chức, Người cho rằng: cần là làm việc phải
đến đúng giờ, chớ đến muộn, về sớm, làm việc mau chóng, chu đáo. Việc ngày nào
nên làm xong ngày ấy, chớ để đến ngày mai. Phải nhớ rằng dân đã lấy tiền mồ hôi
nước mắt để trả lương cho ta, trong những thời giờ đó, ai lười biếng tức là lừa gạt
dân. Nhìn trên tầm vĩ mô, cả nước cần cù siêng năng có ý nghĩa hết sức to lớn đối
với sự phát triển kinh tế xã hội. Mỗi người siêng năng thì ắt sẽ tiến bộ. Cả nhà siêng
năng thì chắc chắn ấm no. Cả làng siêng năng thì làm phồn thịnh. Cả nước cần cù
siêng năng thì dân giàu nước mạnh.
•
Theo Hồ Chí Minh, cần cù, siêng năng phải đi liền vói kế hoạch thì cần cù,
xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trù’ bỏ chủ nghĩa cá nhân”
[10, tr.609].
•
Một người mà cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì đó là một con người
đáng kính. Vì đó là nhũng người: "Giàu sang không thể quyến rũ; nghèo khó không
thể chuyển lay; uy vũ không thể khuất phục" [9, tr.50]. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ
cần, kiệm, liêm, chính là một phẩm chất đạo đức làm cho dân tộc ngày càng văn
minh: Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh
thần, là dân tộc văn minh, tiến bộ.
•
Đó là những con người trọng đạo lý, vì đạo lý, tôn thờ đạo lý, vì lẽ công
bằng, không khuất phục quyền uy.
•
Thứ tư: Tỉnh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung
•
Không chỉ giành tình thương của mình với nhân dân trong nước, mà Người
còn quan tâm và phấn đấu vì hạnh phúc của nhân loại, vì những người lao khổ:
Những tình cảm vĩ đại của Hồ Chủ Tịch không phải chỉ hạn chế trong phạm vi một
nước, một dân tộc, mà còn rộng ra với giai cấp công nhân các nước, nhân dân lao
động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc
tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức, nhân văn của Người ra phạm vi toàn
nhân loại.
bạn với tất cả các nước trên thế giới”.
•
Người khẳng định: “Bốn phương vô sản đều là anh em”, giúp bạn là tự giúp
mình, thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới. Người đã góp
phần to lớn, tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, kiến
tạo một nền văn hoá hoà bình cho nhân loại.
•
Giờ đây, Đảng và Nhà nước ta quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại “Việt
Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”. Chủ
động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. ỉ.2.3. Quan niệm của Hồ
Chí Minh về nguyên tắc xây dựng đạo đức
•
Một là: Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
•
Nói đi đôi với làm là nguyên tắc quan trọng nhất để xây dựng đạo đức mới.
Nói là suy nghĩ, làm là hành động. Nói đi đôi với làm nghĩa là lời nói phải đi liền
với hành động. Nói đi đôi với làm khẳng định bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh, là cơ sở để phân biệt đạo đức cách mạng với đạo đức của các giai cấp bóc lột.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra căn bệnh quan liêu, coi thường quần chúng của một số cán bộ
nói mà không làm: “miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc theo lối “quan” chủ,
miệng thì nói “phụng sự quần chúng” nhung họ làm trái ngược lại với lợi ích quần
chúng, làm tốn hại uy tín của Đảng và Chính phủ trước nhân dân” [9, tr. 176].
phải xác định đây là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài. Hồ Chí Minh coi nhiệm vụ xây và
chống trong rèn luyện đạo đức cũng là “cuộc chiến đấu khổng lồ” giữa tiến bộ và lạc
hậu, giữa cách mạng và phản cách mạng.
•
Ba là: Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
•
Theo Bác Hồ, thì chỉ có những người có cái tâm trong sáng mới đủ bản lĩnh
và năng lực lãnh hội được những chuẩn mực của đạo đức cách mạng. Và, khi đạo
đức cách mạng đã vững rồi thì “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyến
lay, uy vũ không khuất phục”. Đây cũng là phấm chất của người đảng viên cộng sản.
Đức tính trên cũng được coi là khí phách của đấng trượng phu của thời phong kiến.
Nhung với người cán bộ cách mạng, đạo đức cách mạng dù bất luận hoàn cảnh nào
đều phải giữ mình; trước sự giàu sang không thể làm cho mình thèm muốn, sự
nghèo khó cũng không thế làm cho mình lay chuyển, nao núng; uy quyền, võ lực,
hay dù phải đứng trước cái chết cũng không thể làm cho mình khuất phục, đầu hàng.
•
Tu dưỡng đạo đức là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí
Minh nói: “Chúng ta phải nhớ câu “chính tâm, tu thân” để “trị quốc bình thiên hạ”,
dù khó khăn gian khổ nhưng muốn cải tạo thì nhất định dưỡng bền bỉ suốt đời như
công việc rửa mặt hàng ngày. Neu không sẽ dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân.
•
•
từ hàng
nghìn năm lịch
sang thế
sử và được lun truyền từ thế
hệ
khác,đó là
truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”, là truyền thống
“thương người như thể thương thân”... Đây là những tiêu chuẩn đạo đức quy định,
điều chỉnh hành vi của con người. Mặc cho mọi thủ đoạn xấu của các thế lực thù
địch nhằm hạ thấp hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Việt Nam
và bạn bè quốc tế, nhưng giá trị về tư tưởng, đạo đức của Người vẫn mãi ngời sáng,
soi rọi, cổ vũ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người và tiến
bộ xã hội. Đồng thời, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là những chuẩn mực đạo đức
xã hội, nó là cơ sở để ta nhận thức cái đúng, cái sai, tốt, xấu, nó giúp ta làm theo cái
đúng, cái tốt, đồng thời ngăn chặn, hạn chế những cái sai, cái xấu, những hiện tượng
tiêu cực trong xã hội nhằm xây dựng một xã hội ngày càng văn minh. Nó là điểm
tựa chắc chắn cho mỗi cá nhân phát huy năng lực sáng tạo của mình trong sự nghiệp
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
•
Đối với nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ, trong thế kỷ XX, Hồ Chí