Nghiên cứu thành phân loài thực vật ngành thông đất (lycopodiophyta) và dương xỉ (polypodiophyta) ở xã bình chuẩn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên pù huống, nghệ an - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA SINH HỌC

NGUYỄN THỊ HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT NGÀNH THÔNG ĐẤT
(LYCOPODIOPHYTA) VÀ DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA) Ở XÃ BÌNH
CHUẨN THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

VINH- 10/2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA SINH HỌC

NGUYỄN THỊ HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT NGÀNH THÔNG ĐẤT
(LYCOPODIOPHYTA) VÀ DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA) Ở XÃ BÌNH
CHUẨN THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật
Mã số: 60.42.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Ngọc Đài


VINH- 10/2015

Bảng 3.3. Phân chia số loài và cho theo họ của ngành Thông đất và 37
Dương xỉ
Bảng 3.4. Thống kê 5 họ đa dạng nhất của ngành Thông đất và Dương xỉ
39
Bảng 3.5. Thống kê các chi đa dạng nhất trong ngành Thông đất và 39
Dương xỉ
Bảng 3.6. So sánh ngành Thông đất và Dương xỉ ở Bình Chuẩn với Pù Mát
40
Bảng 3.7. So sánh ngành Thông đất và Dương xỉ ở Bình Chuẩn với Việt 41
Nam
Bảng 3.8. Các nhóm dạng sống của các loài thuộc ngành Thông đất và 42
Dương xỉ
Bảng 3.9. Giá trị sử dụng của các loài cây trong ngành Thông đất và 43
Dương xỉ
Bảng
Phân bố các bậc taxon loài hai ngành theo nơi sống
45
3.10.
Bảng 3.11. Yếu tố địa lý của các loài trong hai ngành ở Bình Chuẩn
47
Bảng
Danh lục ngành Thông đất và Dương xỉ ở xã Bình Chuẩn bổ 49
3.12.
sung cho Khu BTTN Pù Huống
Bảng
Thống kê các loài đang bị đe dọa ở Bình Chuẩn
54
3.13.



MỤC CÁC ẢNH (PHẦN PHỤ LỤC)
Ảnh
1.
Tác
giả
chuẩnDANH
bị bào
nghiên
Ảnh
2.
Tác
giảvàquan
sát
tử cứu
Ảnh
3.
Xử

ép
mẫu
Ảnh
4.
Định
loại
trong
phòng
thí nghiệm
Ảnh
5.
Sinh

Selaginella
effusa
Alston
Ảnh
12.
Selaginella
giffithii
Spring
Ảnh
13.
Selaginella maireiH.
intermedia
(Blume) Spring
Ảnh
14.
Selaginella
Lev.
Ảnh
15.
Selaginella
ornata
(Hook.&Grev.)
Spring
Ảnh
16.
Selaginella
petelotii
Aslton
Ảnh
17.

(L.)
Rothm.
Ảnh
23.
Lycopodiella
cernua (L.)
Pic. Serm
Ảnh
24.
Lycopodium
clavatum
L.
Ảnh
25.
Adiantum
soboliferum
Wall.
ex Hook.
Ảnh
26.
Adiantum
stenochlamys
Baker
Ảnh
27.
Angiopteris
annamensis
C.
Chr. & Tardieu
Ảnh

thunbergii
Ảnh
35.
Athyrium
anisopterum
H.
Christ
Ảnh
36.
Belvisia annamensis
(C.Chr.)
Tagawa
Ảnh
37.
Calymnodon
gracilis
(Fee)
Copel
Ảnh
38.
Colysis
digitata
(Baker)
Ching
Ảnh
39.
Colysis
longisora
(Baker)
Ching

gigantea
(Wall.
ex
Hook.)
Holttum
Ảnh
45.
Athyrium
boryanum
(Widd.)
Tagawa
Ảnh
46.
Dicranopteris
linearis
(Burm.f.)
Underw.Nakai
Ảnh
47.
Diplopterygium
laevissimum
(H.Christ)
Ảnh
48.
Diplazium
dilatatum
Blume
Ảnh
49.
Diplazium

Diplazium
virescens
Kunze
Ảnh
56.
Drynaria
bonii
H. (Kunze
Christ. ex Mett.) J. Sm.
Ảnh
57.
Drynaria
fortunei
Ảnh
58.
Helminthostachys
zeylanica
(L.) &
Hook.
Ảnh
59.
Heterogonium
colaniae
(C.(Mett.)
Chr.
Tardieu) Houlttum
Ảnh
60.
Heterogonium
sagenoides

japonicum
Ảnh
67.
Lygodium
salicifolium
C. Presl Ching
Ảnh
68.
Microsorum
fortune
(T.Moore)
Ảnh
69.
Microsorum
steerei
(Harr.)
Ching
Ảnh
70.
Ophioglossus
petiolatum
Hook.
Ảnh
71.
Phymatosorus
nigrescens
(Blume)
Pic.Pic.
Serm.
Ảnh

parishii
(Bedd.)
HolttumChing
Ảnh
78.
Pteris
ensiformis
Burm.
f.
Ảnh
79.
Wall. ex Agardh
Ảnh
80. Pteris
Pteris grevilleana
tokioi
Masam.
Ảnh
vitatta
L.
Ảnh 81.
82. Pteris
Pyrrosia
lanceolata
(L.) Farw.
Ảnh
83.
Pyrrosia
piloselloides(Wall.
(L.) M.G.

Vittaria
forrestiana
Ching
Ảnh 90. Crepidomanes radicans (Sw.) I. Iwants


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTTN: Bảo tồn Thiên nhiên
VQG: Vườn quốc gia
DS: Dạng sống
Ph:Cây chồi trên đất
Th:Cây chồi một năm
Ch: Cây chồi sát đất
Hm: Cây có chồi nửa ẩn
YTĐL: Yếu tố địa lý
2. Liên nhiệt đới
3.1. Cổ nhiệt đới châu Á và châu Úc
4. Nhiệt đới Châu Á
4.1. Đông Dương – Malêzi
4.3. Lục địa Đông Nam Á
4.4. Đông Dương - Nam Trung Quốc
4.5. Đông Dương
5.3. Ôn đới Địa Trung Hải-Châu Âu-Châu Á
5.4. Đông Á
6. Đặc hữu
6.1. Cận đặc hữu
8. Chưa xác định
GTSD: Giá trị sử dụng
M: Cây làm thuốc
F: Cây ăn được

xỉ ở Việt Nam đang còn rất lẻ tẻ nằm trong một số công trình chung của cả hệ
thực vật, chưa có một công trình nào mang tính hệ thống. Trong đó, hai ngành
này ở khu BTTN Pù Huống chỉ được đề cập trong các công trình điều tra đa dạng
sinh học chung của hệ thực vật, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
2 ngành này ở Bình Chuẩn. Do đó tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần
loài thực vật ngành Thông đất (Lycopodiophyta) và ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta) ở xã Bình Chuẩn thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống,
tỉnh Nghệ An”.
10


2. Mục tiêu
Xác định thành phần loài thực vật hai ngành Thông đất (Lycopodiophyta)
và ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), lập phổ dạng sống và các yếu tố địa lý thực
vật của 2 ngành trên tại xã Bình Chuẩn thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống.
3. Ý nghĩa của đề tài
Cung cấp những dẫn liệu mới về ngành Thông đất và Dương xỉ xã Bình
Chuẩn cho Khu BTTN Pù Huống và Nghệ An.
Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài, dạng sống, yếu tố địa lý, giá
trị sử dụng và nguồn gen quý hiếm.

11


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Nghiên cứu thực vật
1.1.1. Trên thế giới
Thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của con người như

nước đó đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh như Thái Lan, Indonexia,
Malaysia,.... [theo36].
Đến nay, trên thế giới đã thống kê được 1.700.000 loài sinh vật, trong đó
thực vật bậc cao có 250.000 loài và dưới loài (số loài ước tính khoảng 300.000
loài) [theo46]. Như vậy, số lượng loài chưa xác định được còn khá lớn. Đặt ra cho
các nhà nghiên cứu thực vật nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu để xác định và đặt tên
cho những loài chưa được xác định đó.
1.1.2. Ở Việt Nam
Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam diễn ra chậm hơn ở các nước khác, tuy
nhiên giá trị của các công trình nghiên cứu đã được đánh giá cao trong việc góp
phần vào sự phát triển khoa học, phục vụ chính đời sống của người dân. Thời
gian đầu chỉ có các nhà nho, thầy lang sưu tập các loài cây có giá trị làm thuốc để
chữa bệnh như: Lý Thời Chân (1595) trong “Bản thảo cương mục” đã đề cập đến
trên 1.000 vị thuốc thảo mộc. Trong tác phẩm “Nam dược thần hiệu”, Tuệ Tĩnh
(1623 - 1713) đã mô tả được 759 loài cây có giá trị làm thuốc; trong “Vân đài loại
ngữ”, Lê Quý Đôn (thế kỷ XVI) đã phân ra cây cho hoa, quả, ngũ cốc,…; Lê Hữu
Trác (1721 - 1792) đã có những nghiên cứu dựa trên tác phẩm “Nam dược thần
hiệu” của Tuệ Tĩnh, ông đã bổ sung thêm 239 vị thuốc mới trong tác phẩm “Hải
Thượng y tôn tâm linh”. Trong tác phẩm “Lĩnh nam bản thảo”, Lê Hữu Trác đã
tổng hợp được 2.850 bài thuốc chữa bệnh; Đến đời nhà Lê, Nguyễn Trữ trong tác
phẩm “Việt Nam thực vật học” đã mô tả nhiều loài cây trồng khác nhau,…
[theo37].
13


Thời kỳ Pháp thuộc, có một số công trình mang tính chất cơ bản và cổ điển
của các tác giả là người nước ngoài nhằm thống kê các loài thực vật Việt Nam: J.
Loureiro (1793), trong tác phẩm “Thực vật Nam Bộ” đã mô tả gần 700 loài cây;
J.B.L. Pierre (1880) [57] trong “Thực vật rừng Nam Bộ” đã mô tả 800 loài cây gỗ
và đến đầu thế kỷ XX có H. Lecomte và cộng sự (1907 - 1952) [56] trong “Thực

Việt Nam. Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê, mô tả và kèm theo hình vẽ của
hơn 11.600 loài và dưới loài của hệ thực vật Việt Nam. Gần đây, tập thể các nhà
thực vật Việt Nam đã cùng nhau biên soạn 3 tập “Danh lục các loài thực vật Việt
Nam” (2001, 2003, 2005) [4], [45]. Mặc dù không có phần mô tả chi tiết và hình vẽ
nhưng thực sự đây là một công trình có giá trị khoa học cao thể hiện tính đa dạng,
phong phú của hệ thực vật Việt Nam, là tài liệu quý giúp cho công tác nghiên cứu
phân loại thực vật.
Ngoài ra, còn có những bộ sách của các tác giả như: “1900 loài cây có ích ở
Việt Nam” của Trần Đình Lý và cộng sự (1993) [30], “Từ điển cây thuốc Việt
Nam” của Võ Văn Chi (2012) [10], “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” của Võ Văn Chi
và Trần Hợp (1999, 2001) [12], “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” của Triệu Văn Hùng
và cs (2007) [20], “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2003)
[26], “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của Đỗ Huy Bích và cs
(2004) [6], … Đây thực sự là những công trình nghiên cứu có ý nghĩa về hệ thực
vật Việt Nam trong đó quan tâm đến giá trị kinh tế của chúng.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về hệ thực vật nói chung, còn có một số
tài liệu về các họ riêng biệt đã được công bố như Euphorbiaceae (Nguyễn Nghĩa
Thìn, 2006) [51], Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000) [5], Lamiaceae (Vũ Xuân
Phương, 2002) [32], Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002) [25], Cyperaceae
(Nguyễn Khắc Khôi, 2002) [23], Verbenaceae (Vũ Xuân Phương, 2005) [33],
Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2005) [31], ... Tuy chỉ đề cập đến một họ nhất định
nhưng đây là các công trình nghiên cứu chuyên sâu, trình bày đầy đủ các thông tin
cần thiết về các loài trong họ. Là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh
giá về đa dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam.
15


Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về
hệ thực vật bậc cao có mạch ở các vùng khác nhau của Việt Nam như: năm 1996,
Phùng Ngọc Lan và cộng sự khi nghiên cứu hệ thực vật ở Cúc Phương đã xác định

"Cây thuốc của đồng bào Thái, Con Cuông, Nghệ An" đã công bố 551 loài cây
thuốc, 364 chi, 120 họ [40]. Đặc biệt nhất là năm 2004 vườn Quốc gia Pù Mát
cho xuất bản cuốn sách "Đa dạng VQG Pù Mát" công bố với 2.494 loài thực vật
có mạch [42]. Gần đây, Phạm Hồng Ban và cs (2010) đã công bố 509 loài thực
vật bậc cao có mạch ở khu vực phía Bắc của huyện Quỳnh Lưu [2]. Nguyễn Đức
Linh và cs (2010), đã công bố hơn 300 loài thực vật ở núi đá vôi vùng Đông Bắc
huyện Nghĩa Đàn [28]. Năm 2012, Lê Thị Hương và cs đã công bố 856 loài thực
vật có mạch ở Khu BTTN Pù Hoạt [19].
1.2. Nghiên cứu về Dương xỉ và Thông đất
1.2.1. Trên thế giới
Ngành Thông đất và ngành Dương xỉ đã được chú ý nghiên cứu từ lâu. Một số
tác giả như: Linnaues (1753 - 1754) dựa vào cấu tạo của túi bào tử đã mô tả được 17
chi, 213 loài của ngành Dương xỉ [59]. Swartz (1806) sử dụng đặc điểm túi bào tử,
áo túi bào tử và một số đặc điểm về hình thái, đã phân chi Dương xỉ thành 38 chi và
mô tả được hơn 700 loài và dưới loài [theo 36]. W.J. Hooker (1842) dựa vào đặc
điểm cấu tạo của cơ quan sinh sản, đã vẽ hình và mô tả cho 135 chi với trên 2.400
loài và dưới loài [theo 36]. A. L. A. Féc đã sử dụng các đặc điểm hình thái và giải
phẫu để phân loại Dương xỉ, kết quả đã liệt kê được 2.100 loài và dưới loài của 188
chi, trong đó có một số chi được tác giả mô tả lần đầu tiên [theo 36]…. Năm 1947,
Copeland đã chia ngành Dương xỉ thành 3 bộ (Phioglosales, Marattiales và
Filicales), trong đó, Filicales được phân loại thành 19 họ với 298 chi. Ông đã phân
tích, lựa chọn và giới hạn các đặc điểm phân loại ở bậc chi [theo 36].
1.2.2. Ở Việt Nam
Trên bình diện chung của cả nước, chưa có công trình nghiên cứu riêng lẻ
nào về ngành Dương xỉ. Ở khu vực Miền Trung, kết quả nghiên cứu của Nguyễn
17


Thị Quý tại khu BTTN Pù Mát, Nghệ An, tác giả đã xác định được 90 loài và
dưới loài của 42 chi thuộc 23 họ của ngành Dương xỉ [36].

Nam [53].
1.2.3. Ở Nghệ An
Ngoài công trình nghiên cứu khá đầy đủ về ngành Dương xỉ ở Pù Mát của
Nguyễn Thị Quý (1999) đã điều tra các loài dương xỉ ở khu bảo tồn thiên nhiên
Pù Mát thống kê được 90 loài, 42 chi, 32 họ [36]. Đặc biệt nhất là năm 2004 vườn
Quốc gia Pù Mát cho xuất bản cuốn sách "Đa dạng VQG Pù Mát" công bố với
168 loài thuộc 25 họ của ngành Dương xỉ và Thông đất [42].
Ở các khu vực khác nhau của Nghệ An thì chỉ có một số công trình được
công bố về ngành Thông đất và Dương xỉ được ở các công trình nghiên cứu về đa
dạng thực vật như: Phạm Hồng Ban (2001)[1],Nguyễn Anh Dũng (2002)
[13],Nguyễn Nghĩa Thìn, Ngô Trực Nhã, Nguyễn Thị Hạnh (2001)[40].
1.3. Nghiên cứu đa dạng về yếu tố địa lý thực vật
Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý thực vật khác nhau, các yếu tố này thể hiện
ở yếu tố đặc hữu và yếu tố di cư, các loài thuộc yếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các
hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cư sẽ chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó.
Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những nội dung quan trọng khi nghiên
cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu bản chất cấu thành của nó làm
cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫn giống vật nuôi, cây trồng...
Phân tích và đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt địa lý trước tiên
phải kể đến các công trình của Gagnepain: “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1926)
và “Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương” (1944) [theo 44]. Theo tác giả, hệ thực vật Đông
Dương bao gồm các yếu tố:
Yếu tố Trung Quốc

33,8%

Yếu tố Xích Kim - Himalaya

18,5%


Từ Trung Quốc

12,89 %

Từ ấn Độ và Himalaya

9,33 %

Từ Malaysia - Indonesia
Từ các vùng nhiệt đới khác

25,69 %
7,36 %

- Nhân tố khác
Ôn đới

4,83 %
3,27 %

Thế giới

1,56 %

Tổng:

100,00 %

Nhân tố nhập nội, trồng trọt


4.5- Yếu tố Đông Dương
5- Yếu tố Ôn đới
5.1- Yếu tố Đông Á - Nam Mỹ
5.2- Yếu tố ôn đới Cổ thế giới
5.3- Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải
5.4- Yếu tố Đông Nam Á
6- Yếu tố đặc hữu Việt Nam
6.1- Yếu tố gần đặc hữu.
6.2- Yếu tố đặc hữu.
7- Yếu tố cây trồng.
Từ khung phân loại các yếu tố địa lý đó Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự đã lần lượt xác
định các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên
trong cả nước. Tài liệu mới nhất về các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật chính ở Vườn
Quốc gia Bạch Mã (2003) [41] được chỉ ra như sau:
Yếu tố toàn cầu:

0,61 %

Yếu tố nhiệt đới:

62,93 %

Yếu tố ôn đới:
Yếu tố đặc hữu:
Yếu tố cây trồng:

3,76 %
25,12 %
1,64 %



Yếu tố nhiệt đới:

80,21 %

Yếu tố ôn đới:

5,25%

Yếu tố đặc hữu:

8,87 %

Yếu tố cây trồng:

0,34 %

Năm 2010, Đỗ Ngọc Đài và cs [15] đã đưa ra yếu tố của hệ thực vật Xuân Liên như sau:
Yếu tố nhiệt đới: 66,49%
Yếu tố đặc hữu: 25,95
Yếu tố ôn đới: 2,10%
Yếu tố cây trồng: 1,79%
Yếu tố toàn cầu: 0,42%

1.4. Nghiên cứu đa dạng về phổ dạng sống của hệ thực vật
Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều kiện môi
trường. Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của các dạng với
điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự tác động của điều kiện sinh thái đối với từng
loài thực vật.
Trên thế giới, người ta thường dùng thang phân loại của Raunkiaer (1934) [50] về phổ dạng

- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)

8,02%

- Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp)

9,08%

- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)

6,45%

- Cây chồi sát đất (Ch)
- Cây chồi nửa ẩn (Hm)
- Cây chồi ẩn (Cr)

}

40,68%

- Cây chồi một năm (Th)

7,11%

Và phổ dạng sống như sau:
SB = 52,21Ph + 40,68 (Ch,Hm, Cr) + 7,11Th.
Raunkiaer [50] đã phân tích hơn 1000 loài thực vật trên khắp thế giới và đưa ra phổ dạng
sống tiêu chuẩn sau:
SB = 48Ph + 9Ch + 26Hm + 8Cr + 15Th.
RichardP.R.[34] đưa ra phổ dạng sống cho rừng mưa ẩm nhiệt đới:

Huống đến Pù Lòn với chiều dài 43km, có các đỉnh núi cao như Pù Lòn cao
1.447m, Pù Pâng cao 1.302m, Pù Huống cao 1.200m, Pa Hồng cao 1.022m, Pa
Cẩu cao 959m, Cô Tầng cao 957m, Pù Tèn Be cao 931m,... và nhiều đỉnh núi
khác có độ cao trên 900m. Khu vực có rừng trên núi đá vôi ở các xã Bình Chuẩn
và Nga My, nhìn chung khu vực có độ cao giảm dần từ Tây sang Đông, từ Tây
24


Bắc xuống Đông Nam. Độ cao trung bình 750m, độ dốc trung bình 25 0, nhiều nơi
có độ dốc trên 400… Địa hình hiểm trở, dốc lớn với hệ thống chia cắt mạnh của
sông suối đã tạo nên vùng có tính đa dạng sinh học cao và giàu tài nguyên thiên
nhiên.
1.5.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng
Lịch sử phát triển địa hình bề mặt trái đất nói chung và khu vực nghiên cứu
nói riêng liên quan chặt chẽ với các chuyển động tân kiến tạo. Vận động tân kiến
tạo là những vận động của vỏ trái đất xảy ra vào các thời kỳ Neogen-Đệ Tứ và có
ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành những nét căn bản của địa hình hiện đại.
Khu vực đã hình thành các tiểu vùng lập địa có nhiều đặc thù riêng biệt như vùng
núi cao dốc, có xen lẫn những vùng đất thấp giữa núi, những thung lũng hẹp và
sâu... Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình, đặc điểm địa chất, đá mẹ, của khí hậu,
thực bì che phủ và tác động của con người đã tạo cho Khu BTTN Pù Huống đa
dạng về đất đai với sự xuất hiện các nhóm đất chính sau: nhóm dạng đất feralít
mùn trên núi trung bình (FH), nhóm dạng đất feralít điển hình trên vùng đồi và
núi thấp (F) và nhóm dạng đất thung lũng (T).
1.5.1.4. Khí hậu thủy văn
Khu BTTN Pù Huống thuộc khí hậu miền Trường Sơn Bắc, không những
phân hóa theo độ cao từ 300m đến 1.500m mà còn phân hóa do ảnh hưởng yếu
dần của mùa Đông Bắc tới sườn Bắc Pù Huống và sườn Nam lại chịu ảnh hưởng
của vùng khô hạn điển hình Mường Xén-Kỳ Sơn. Sự mạnh lên của gió mùa Tây
Nam và suy yếu của gió mùa Đông Bắc khi tới Pù Huống tạo nên những nét riêng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status