Nghiên cứu thành phần loài thực vật có chứa tinh dầu ở vườn quốc gia vũ quang, tỉnh hà tĩnh tt - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ DUY LINH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT CÓ CHỨA TINH
DẦU Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 9 42 01 11

VINH, 04/2020


Luận án được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Phạm Hồng Ban
2. PGS. TS. Trần Minh Hợi

Người phản biện 1:
Người phản biện 2:
Người phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường, tại Trường Đại học
Vinh vào hồi

giờ

, ngày


càng có nhiều chất thơm tổng hợp, nhưng không thể thay thế cho tinh dầu tự
nhiên, vì không tạo ra được mùi thơm mát và đặc biệt các chất thơm tổng hợp
thường quá đắt, lại có độ độc cao.
VQG Vũ Quang được thành lập theo Quyết định số 102/2002/QĐ-TTg ngày
30 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, với tổng diện tích khoảng 54.000
ha, trong đó có 76% diện tích rừng tự nhiên với 5 kiểu rừng chính được phân chia
theo các đai cao khác nhau. Nơi đây là nơi sinh trưởng của nhiều loài cây gỗ quý:
Cẩm lai, Lát hoa, Lim, Giổi, Trầm hương,…và nhiều cây dược liệu quý. Tại VQG
Vũ Quang đã có một số công trình nghiên cứu về Đa dạng thực vật bậc cao có
1


mạch nhưng còn thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu về tài nguyên thực vật.
Trong lúc đó khả năng tiềm tàng của tài nguyên cây có tinh dầu ở VQG Vũ Quang
rất phong phú. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài thực
vật có chứa tinh dầu ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh” làm nội dung
nghiên cứu của đề tài Luận án
2. Mục tiêu
Đánh giá tính đa dạng các loài thực vật có chứa tinh dầu và thành phần hóa
học của tinh dầu một số loài trong một số họ thực vật có chứa tinh dầu ở VQG Vũ
Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài luận án là những dẫn liệu điều tra,
nghiên cứu cơ bản về tính đa dạng của các loài thực vật có tinh dầu tại VQG Vũ
Quang Hà Tĩnh, đồng thời cung cấp những dẫn liệu mới về thành phần hoá học
tinh dầu của một số loài thuộc một số họ trong hệ thực vật VQG Vũ Quang.
4. Điểm mới luận án
- Cung cấp dẫn liệu mới gồm 366 loài thực vật có tinh dầu ở VQG Vũ
Quang; đây là dẫn liệu tương đối đầy đủ và có hệ thống về nguồn tài nguyên thực
vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.

và tích luỹ tinh dầu.
1.1.2. Khái niệm về tinh dầu
Tiêu chuẩn Pháp (1987), đưa ra định nghĩa về tinh dầu như sau: “Sản phẩm
thu được từ nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, bằng cách cất kéo hơi nước hoặc
bằng các phương pháp cơ học đối với vỏ trái cây thuộc chi Citrus. Tinh dầu được
tách ra khỏi nước bằng các phương pháp vật lý”. Định nghĩa này có hạn chế là loại
trừ các sản phẩm thu được bằng cách chiết xuất với dung môi cũng như các sản
phẩm thu được nhờ các phương pháp khác.
Tinh dầu được hiểu là những hỗn hợp của hợp chất hữu cơ, có cấu tạo phân tử
phức tạp và khác nhau về các đặc tính lý học cũng như hóa học. Tinh dầu có một số
đặc tính sau:
- Tất cả tinh dầu đều là hợp chất lỏng, sánh, có hoạt tính quang học, gây hiện
tượng quay cực của ánh sáng.
3


- Đa số tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn nước (d1), không tan hoặc rất ít tan trong nước, nhưng lại tan trong các dung môi
hữu cơ.
- Có mùi thơm do thành phần tinh dầu có các cấu tử dạng tự do.
- Tinh dầu có khả năng bay hơi.
Căn cứ vào cấu tạo phân tử hóa học của tinh dầu được sắp xếp vào 4 nhóm
chủ yếu sau:
- Các hợp chất aliphatic.
- Các terpen và những dẫn xuất của chúng.
- Các dẫn xuất benzen.
- Các thành phần khác.
1.2. Nghiên cứu về các loài thực vật có tinh dầu
1.2.1. Nghiên cứu về các loài thực vật có tinh dầu trên thế giới
Cho tới nay chưa có đủ tài liệu để hình dung ra lịch sử của lĩnh vực nghiên cứu

điển hình X. D. Ji và cộng sự (1991), L. Zhu và cộng sự (1993), Choudhury, S. N
và cs (1995), Sriramavaratharajan, V. và cs (2019),…
1.3.1.2. Họ Ngọc lan (Magnoliaceae)
Nhiều công trình khoa học công bố thành phần hóa học tinh dầu của các loài
trong chi Magnolia như: Theo Oyen L.P.A., Nguyen Xuan Dung (1999),Grag,
S.N. & Sushil Kumar (1999);Zheng et al. (2015), Scharf et al. (2016),...
1.3.1.3. Họ Gừng (Zingiberaceae)
Trong họ Gừng (Zingiberaceae) thì nghiên cứu về thành phần hóa học tinh
dầu được tập trung ở trong các chi chính như Nghệ (Curcuma), Riềng
(Alpinia),Gừng (Zingiber), Sa nhân (Amomum). K. C. Wong và cs (2005), B.
Sabulal và cs (2006), Zhenyang Chenvà cs (2019), Marliani L. và cs. (2016), S.
Thubthimthed và cs. (2005), Wang và cs. (2015),….
1.3.2. Ngiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu ở Việt Nam
1.3.2.1. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu họ Long não ( Lauraceae)
Nghiên cứu về tinh dầu họ Long não (Lauraceae) tập trung chủ yếu trong các
chi Cinnamomum, Litsea, Machilus, Phoebe,... Các công trình điển hình như
Nguyễn Xuân Dũng (1996), Trần Đình Thắng và cộng sự (2005), Lê Công Sơn
(2013), Đỗ Ngọc Đài và cs (2019,...
5


1.3.2.2. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu họ Ngọc lan (Magnoliaceae)
Các công trình nghiên cứu về tinh dầu họ Ngọc lan có Do et al. (1997),
Lesueur et al. (2007), Do et al. (2016a), Bùi Văn Hướng và cộng sự (2014), Do et
al. (2016b),...
1.3.2.3. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu họ Gừng (Zingiberaceae)
Ở Việt Nam thì nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu của họ Gừng
(Zingberaceae) điển hình là các công trình của Nguyễn Xuân Dũng và cs
(1996),Nguyễn Xuân Dũng và cs(2005), Phan Minh Giang và cs (2007), Lê Thị
Mỹ Châu và cs (2015), Lê Thị Hương (2016), Lê Thị Hương và cs (2019),

số họ thực vật.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu
Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên cứu, các
mẫu thực vật lưu ở bảo tàng trong nước và nước ngoài, các công trình công bố liên
quan đến đề tài.
2.4.2. Phương pháp điều tra thực địa
Dựa theo bản đồ chọn các tuyến điều tra chính để nghiên cứu: Quá trình
nghiên cứu đã chọn được 5 tuyến chính đặc trưng cho các sinh cảnh rừng ở VQG
Vũ Quang. Tuyến 1 Trung tâm Vườn đi Trạm Sao La - đường lên Pơ mu. Tuyến 2
Trung Tâm Vườn - trạm Cò - Thành Cụ Phan - Dốc dẻ. Tuyến 3 Sơn Kim I. Tuyến
4 Sơn Kim II. Tuyến 5 Hương Khê. Quá trình, điều tra nghiên cứu thực địa áp
dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Các phương
pháp nghiên cứu thực vật” (2007).
Để xác định các loài thực vật có tinh dầu thì thường tra cứu các tài liệu đã
công bố về thành phần hóa học tinh dầu và dựa vào cảm quang (dùng mũi ngửi
xem có mùi thơm hay không) trong quá trình điều tra thực địa.
2.4.3. Phương pháp thu mẫu và định loại
Thu mẫu: Mỗi cây thường thu từ 1-3 mẫu tiêu bản ở cùng 1 địa điểm. Sau
khi thu mẫu đánh số hiệu vào mẫu. Khi thu mẫu thì ghi chép đặc điểm dễ bị mất
khi mẫu khô hoặc ngâm trong cồn, phóc môn như: màu sắc, nhựa mủ, đặc điểm
của hoa, quả, lá ... Ngoài ra còn chụp ảnh của cây bằng máy ảnh kĩ thuật số Canon.
7


Định loại: Phương pháp nghiên cứu dùng để định loại là phương pháp hình
thái so sánh. Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng thông dụng được
sử dụng hiện nay. Phương pháp này dựa trên các đặc điểm của cơ quan sinh dưỡng
và cơ quan sinh sản để nghiên cứu, trong đó chủ yếu dựa vào cơ quan sinh sản như
vị trí cụm hoa, cấu tạo của hoa (đặc điểm của lá bắc, đài hoa, tràng hoa, bộ nhị, bộ

- Đa dạng về yếu tố địa lý
Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, áp dụng sự phân chia của các tác giả Pócs
Tamás (1965), Lê Trần Chấn (1999) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007).
- Đa dạng các loài thực vật quý hiếm và vấn đề bảo tồn: Căn cứ vào Sách Đỏ
Việt Nam (2007), bao gồm: loài tuyệt chủng (EX), loài tuyệt chủng ngoài thiên nhiên
(EW), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU), loài ít nguy
cấp (LR).
2.4.5. Thu mẫu và chưng cất tinh dầu
Mẫu để chưng cất tinh dầu là các bộ phận riêng biệt của cây (lá, cành, vỏ,
thân giả, thân rễ, hoa, quả). Mỗi mẫu thu từ 0,5-3 kg tươi. Mẫu được ghi số hiệu
(số hiệu này trùng với số hiệu mẫu để định loại) và thời gian thu. Sau khi thu hái,
mẫu được cắt nhỏ và chưng cất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước có hồi lưu
trong thiết bị Clevengertrong thời gian 2-4 giờ ở áp suất thường theo tiêu chuẩn
Dược điển Việt Nam IV (2009).
2.4.6. Phương pháp định lượng tinh dầu
Tinh dầu của các bộ phận khác nhau được định lượng theo phương pháp I
của Dược điển Việt Nam II (2002). Hàm lượng tinh dầu tươi được tính theo
công thức.
X(%) =

a x 0.9
b

x 100%

(khi d
3.1.1. Đa dạng về bậc ngành và lớp
Kết quả điều tra, định loại các loài thực vật có chứa tinh dầu ở VQG Vũ
Quang, Hà Tĩnh đã xác định được 366 loài, 145 chi và 45 họ của 2 ngành thực vật
bậc cao có mạch (bảng 3.1).
Bảng 3.1. Phân bố các taxon có tinh dầu trong các ngành của hệ thực vật VQG Vũ
Quang
Họ
Chi
Loài
Tỷ lệ
Số
Ngành
Số họ
Tỷ lệ % Số loài Tỷ lệ %
%
chi
Pinophyta
4
8,89
6
4,14
7
1,91
Magnoliophyta
41
91,11
139
95,86
359
98,09

tập trung ở ngành Ngọc lan với số chi và loài chiếm trên 90%, điều này hoàn
toàn hợp lý so với sự tiến hóa của thực vật bởi vì ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta) là ngành chiếm ưu thế của thực vật bậc cao có mạch và nó cũng
phù hợp với các loài thực vật có tinh dầu.
Khi phân tích về các taxon của 2 lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
(bảng 3.2) thì cũng có sự khác nhau, Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có số lượng
các taxon chiếm ưu thế trên 80% tổng số họ, số chi và số loài của ngành; lớp Hành
(Liliopsida) chiếm tỷ lệ thấp với 7 họ (chiếm 16,67%); 19 chi (chiếm 13,67%) và 55
loài (chiếm 15,32%).
Bảng 3.2. Tỷ lệ của hai lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
Họ
Chi
Loài
Tên lớp
Số họ Tỷ lệ % Số chi Tỷ lệ % Số loài Tỷ lệ %
Magnoliopsida
34
82.93
120
86.33
304
84.68
Liliopsida
7
17.07
19
13.67
55
15.32
Tổng

Ngọc lan (Magnoliaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae). Trong đó họ Long não có tới
7 chi (chiếm 41,17% ) với số lượng loài là 81 loài chiếm 49,39% . Với kết quả
phân tích này cho thấy VQG Vũ Quang họ Long não rất đa đạng và phong phú.
Điều này cũng hoàn toàn hợp lí, bởi các loài cây họ Long não thích nghi với điều
kiện khí hậu,… trong khi đó VQG Vũ Quang là nơi có điều kiện khí hậu nhiệt đới
gió mùa, có cả đai thấp và đai cao, do đó rất thuận lợi cho các loài cây Long não
sinh trưởng và phát triển. Họ Gừng có 3 chi: Alpinia với 13 loài, Amomum với 8
loài, Zingiber với 7 loài. Tổng số loài của 3 chi nhiều loài của họ Gừng là 28 loài
chiếm 17,07% tổng số loài. Họ Na cũng có 3 chi: Fissistigma với 11 loài, Desmos
và Uvaria cùng có 5 loài. Với tổng số loài của 3 chi nhiều loài là 21 loàichiếm
12,80%.
3.1.4. So sánh thành phần loài thực vật có tinh dầu ở VQG Vũ Quang so với
VQG Pù Mát
- So sánh với VQG Pù Mát
Để thấy được tính đa dạng của các loài thực vật có tinh dầu ở VQG Vũ Quang,
tỉnh Hà Tĩnh, kết quả được so sánh với các loài cây có tinh dầu ở VQG Pù Mát
(2016) của tác giả Nguyễn Viết Hùng (Bảng 3.5).
Bảng 3.5. So sánh các loài thực vật có tinh dầu ở Vũ Quangvới Pù Mát
Vũ Quang
Pù Mát(1)
Tỷ lệ % Vũ
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
Ngành
Quang so với
loài
(%)
loài

101,39
(1)
Nguyễn Viết Hùng (2016)
Như vậy, kết quả (bảng 3.5) cho thấy số loài cây có tinh dầu thuộc ngành
Thông ở VQG Vũ Quang so với VQG Pù Mát chiếm 116,67% (7 loài so với 6
loài); số loài của ngành Ngọc lan ở Vũ Quang cao hơn Pù Mát chiếm 111,23%
(359 so với 355) và không chênh lệch đáng kể. Trong khi đó, diện tích của Vũ
Quang chiếm 59,57% so với Pù Mát. Như vậy, kết quả trên cho thấy, số loài cây
chứa tinh dầu ở VQG Vũ Quang cao hơn so với Pù Mát cho dù diện tích của Pù
Mát gấp hơn 1,8 lần và số loài thực vật bậc cao có mạch hiện biết gấp 1,5 lần, điều
này thể hiện là các loài cây có tinh dầu không phụ thuộc vào diện tích, số lượng
loài mà do công tác điều tra.
3.1.5. Đa dạng về dạng thân
Qua điều tra, ghi nhận về dạng thân của các loài thực vật có tinh dầu ở VQG
Vũ Quang, dựa vào “Tên cây rừng Việt Nam” đã phân chia làm 5 dạng thân chính là
cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ, cây thân bụi, cây thân leo và cây thân thảo (Bảng 3.7).
Bảng 3.7. Dạng thân của các loài thực vật có tinh dầu ở VQG Vũ Quang
TT
Dạng thân
Số loài
Tỷ lệ %
1
Thân thảo (THA)
108
29,51
2
Thân gỗ lớn (GOL)
102
27,87
3

(Rutaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Nhân sâm (Araliaceae), Na (Annonaceae).
Như vậy, dạng thân của các loài cho tinh dầu chủ yếu là thân thảo, mà cây thân
thảo là nhóm cây sinh trưởng và phát triển nhanh, vòng đời ngắn, cho sinh khối
lớn. Từ đó góp phần định hướng cho việc trồng, khai thác và sử dụng nguồn tài
nguyên thực vật cho tinh dầu đạt hiệu quả.
3.1.6. Đa dạng về giá trị sử dụng
Kết quả nghiên cứu đã thống kê về giá trị sử dụng của các loài thực vật cho
tinh dầu ở VQG Vũ Quang cho thấy các loài không chỉ cho tinh dầu mà còn cho
các giá trị sử dụng khác như: làm thuốc, ăn được, làm gia vị, cho gỗ,… các tài liệu
sử dụng dùng để tra cứu là Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2012),
1.900 loài cây có ích của Trần Đình Lý và cs (1993), Danh lục các loài thực vật
Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân và cs,....Ngoài giá trị cho tinh dầu, giá trị sử dụng
của các loài còn được xếp vào 7 nhóm khác nhau, (bảng 3.8).
Bảng 3.8. Giá trị sử dụng của các loài thực vật có tinh dầu ở Vũ Quang
TT
Giá trị sử dụng
Ký hiệu Số loài* Tỉ lệ %
1 Cây làm thuốc
THU
191
52,19
2 Cây cho gỗ
LGO
102
27,87
3 Ăn được
AND
47
12,84
4 Cây làm cảnh

Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum (Roxb.) Wall. ex Hook.), Bộp lông
(Actinodaphne pilosa (Lour.) Merr.), Gù hương (Cinnamomum balansae
Lecomte), Re xanh phấn (Cinnamomum glaucescens (Nees) Hand.-Mazz.), Re
hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn.), Vàng tâm (Manglietia
dandyi (Gagnep.) Dandy in S. Nilsson), Giổi lông (Michelia balansae (DC.)
Dandy), Giổi lụa (Tsoogiodendron odorum Chun.),...
- Nhóm cây ăn được: với 47 loài chủ yếu là các loài được làm rau ăn, lấy
quả,... với các loài chủ yếu như: Bơ (Persea americana Mill.), Trám trắng
(Canarium album (Lour.) Raeusch.), Trám đen (Canarium tramdenum Dai &
Yakovl.), Tàu bay (Crassocephalum crepidioides (Benth.) S. Moore), Chân chim
tám lá (Schefflera heptaphylla (L.) Frodin),...
- Nhóm cây làm cảnh với 17 loài chủ yếu được khai thác để trồng làm cảnh
do hoa, thân cây đẹp như: Hoa giẻ (Desmos chinensis Lour.), Hoa giẻ lông đen
(Desmos cochinchinensis Lour.), Mò đỏ (Clerodendrum japonicum (Thunb.)
15


Sweet), Bông ổi (Lantana camara L.), Ngải hoa trắng (Hedychium coronarium
Koenig), Giác đế miên (Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin. & Gagnep.), Du
sam núi đất (Keteleeria evelyniana Mast), Đội mũ (Mitrephora calcarea Diels ex
Ast),...
- Nhóm cây cho dầu béo với 20 loài, chiếm 3,28%, gồm các loài Bời lời lá
mềm (Litsea mollifolia Chun), Bời lời lá vòng (Litsea verticillata Hance), Ô đước
đuôi (Lindera caudata (Nees) Hook.f.), Bời lời ba vì (Litsea baviensis Lecomte),
Bời lời cam bốt (Litsea cambodiana Lecomte), Nô trung bộ (Neolitsea chunii var.
annamensis Liou), Nô bầu dục (Neolitsea ellipsoides Allen), ....
- Nhóm cây cho gia vị và nhóm cây cho độc cùng với 14 loài với các loài
điển hình như Bã đậu (Croton tiglium L.), Ngải tiên vàng (Hedychum flavum
Roxb.), Riềng nếp (Alpinia galanga (L.) Willd.), Riềng tàu (Alpinia oblongifolia
Hayata), Riềng thuốc (Alpinia officinarum Hance),...

này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1978), Lê Trần
Chấn và cs (1999) cho rằng hệ thực vật Việt Nam có trên 30% số loài đặc hữu và
cận đặc hữu. VQG Vũ Quang là địa điểm có địa hình đồi núi thấp đến cao (2.200
m) và có tiềm năng cần được nghiên cứu tiếp tục để phát hiện và bổ sung các loài
thực vật cho Việt Nam và cho khoa học.
3.1.8. Đa dạng về nguồn gen quý hiếm và bảo tồn
Dựa trên tài liệu Sách Đỏ Việt Nam (2007) kết quả điều tra đã thống kê được 22
loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng thuộc 2 ngành, 15 họ, 21 chi phân bố ở VQG
Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh (bảng 3.10).
Bảng 3.10. Các loài thực vật có tinh dầu bị đe dọa tuyệt chủng ở Vũ Quang
Mức độ
Tên khoa học
Tên việt nam
TT
Nguy cấp
1
Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry & H. Pơ mu
EN
H. Thomas
2
Keteleeria evelyniana Mast
Du sam núi đất
VU
3
Ecosanthellum plagioneurum (Diels) Ban
Nhọc trái khớp lá
VU
thuôn
4
Goniothalamus takhtajanii Ban

Cinnamomum balansae Lecomte
Gù hương
VU
Cinnamomum cambodianum Lecomte
Re cam bốt
VU
Cinnamomum parthenxylon (Jack) Meisn. Re hương
CR
Endiandra hainanensis Merr. & Mect. ex
Khuyết nhị hải
EN
Allen
nam
14 Manglietia dandyi (Gagnep.) Dandy in S.
Vàng tâm
VU
Nilsson
15 Michelia balansae (DC.) Dandy
Giổi lông
VU
16 Tsoogiodendron odorum Chun.
Giổi lụa
VU
17 Aglaia spectabilis (Miq.) Jain & Bennet.
Gội nếp
VU
18 Ardisia silvestris Pitard
Lá khôi
VU
19 Kadsura heteroclita (Roxb.) Craib

qua (bảng 3.21). Hàm lượng tinh dầu biến động từ 0,1%-0,31% trọng lượng tươi.
Tinh dầu thường có màu vàng nhạt và nhẹ hơn nước. Các thành phần hóa học được
xác định chiếm từ 90,7%-97,3% tổng lượng tinh dầu. Trong tinh dầu chủ yếu là các
monotecpen và các sesquitecpen.
Bảng 3.21. Các thành phần chủ yếu trong tinh dầu ở các bộ phận khác nhau của
một số loài thuộc họ Long não (Lauraceae) ở VQG Vũ Quang
Số hợp
Hàm
Bộ
chất xác Tỷ lệ % một số thành phần
TT
Loài
lượng
phận
định
chính của tinh dầu
(%)
được
α-pinen (12,2%), spathulenol
Cinnamomum
(8,7%),caryophyllen oxit (8,4%),
1

0,31
54
sericans
β-caryophyllen (7,6%), bornyl
acetat (5,9%)
Litsea
sesquirosefuran (74,6%), linalool

Axit hexadecanoic (11,8%), (Z)Lá
0,22
60
buisanensis
13-docosenamit (8,4%)
Cành 0,16
64
phytol (12,9%), (Z)-13docosenamit (12,5%), limonen
(10,2%)
19


9

Neolitsea
aurata

10

Phoebe
tavoyana

12

Machilus
odoratissima

Quả

0,30

E-cinnamaldehyt (67,0%),
linalool (14,9%), E-cinnamyl
acetat (5,2%), 1,8-cineol(3,9%)
bicyclogermacren (15,5%),
germacren D (13,9%), sabinen
(7,0 %), β-caryophyllen (7,0%)
ar-turmeron (5,7%), spathulenol
(5,6%), α-pinen (4,1%)
Decanal (29,2%), caryophyllen (21,5%), (E)-ocimen (8,7%), -copaen
(6,8%)
bicyclogermacren (29,6%), -

13

Machilus bonii



0,20

20

elemen (27,5%), β-caryophyllen
(7,2%), germacren D (5,8%)

3.2.2. Họ Ngọc lan (Magnoliaceae) Thành phần hóa học tinh dầu loài Vàng tâm
(Manglietia dandyi)
Mẫu lá và quả được thu vào tháng 8 năm 2018 (LDL 719), HLTD đạt 0,15%
và 0,12% trọng lượng tươi. Tinh dầu có màu vàng, nhẹ hơn nước, mùi hơi hăng.
Ở lá thì sesquiterpene hydrocarbon (49,9%), sesquiterpen chứa oxy (30,9%),

được
β-pinen (11,6%), camphor
Alpinia
Thân
1
0,25
41
(7,2%), aristolochen (6,7%),
globosa
rễ
1,8-cineol (6,0%)
1,8-cineol (16,9%), terpinen-4-ol
(16,0%), (E)-methyl cinnamat

0,16
34
(9,4%), β-pinen (7,6%), o-cymen
(7,1%)
(E)-methyl cinnamat
Alpinia
Thân
(15,4%),1,8-cineol (14,3%),
2
0,11
33
kwangsiensis
giả
terpinen-4-ol (13,6%), β-pinen
(9,9%)
terpinen-4-ol (14,3%),

Elettariopsis
triloba

Thân
rễ

0,18

22

Quả

0,32

61



0,21

62

Thân
rễ

0,28

61




Thân

0,45

29

14 Zingiber nitens

22

(5,4%), terpinen-4-ol (4,6%),
myrtenyl acetat (4,4%)
-pinen (46,5%), β-phellandren
(25,7%), α-pinen (8,5%)
cedrol (34,8%), β-eudesmol
(5,1%), sabinen (4,7%), β-pinen
(4,5%)
o-cymen (7,5%), α-copaen
(7,1%), 1,8-cineol (6,8%),
caryophyllen oxit (5,1%)
E,E)-farnesol (11,4%), 1,8cineol (8,6 %), β-caryophyllen
(6,0%), octadecan (4,6%),
caryophyllen oxit (3, 5%)
β-pinen (46,3%), myrtenyl
axetat (10,5%), α-pinen (8,1%)
β-pinen (43,5%), βcaryophyllen (14,0%), cis-βelemen (9,8%), α-pinen (5,2%)
β-pinen (45,9%), α-pinen
(7,0%), fenchyl axetat (4,1%),
β-caryophyllen (3,2%), limonen

Việt Nam (2007). Trong đó, rất nguy cấp CR (02 loài); Sẽ nguy cấp VU (16 loài);
Nguy cấp EN (04) loài. Theo nghi định 06/2019 xác định được 13 loài có tên trong
phụ lục II
5. Yếu tố địa lý của các loài thực vật có tinh dầu ở Vũ Quang; yếu tố nhiệt đới
chiếm 51,37%; yếu tố đặc hữu và cận đặc hữu chiếm 38,52%; yếu tố cổ nhiệt đới
chiếm 3,55%; yếu tố ôn đới chiếm 1,91%; yếu tố cây trồng chiếm 1,64%.
6. Đã giới thiệu đặc điểm sinh học của 17 loài của 3 họ thực vật có tinh dầu
là Long não (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae), Gừng (Zingiberaceae) về tên
khoa học, hình thái, sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng,
ảnh.
7. Xác định hàm lượng và phân tích thành phần hóa học tinh dầu của 30 mẫu
(lá, thân (thân giả, thân rễ), cành, quả) thuộc 17 loài của 3 họ thực vật có tinh dầu
là: Long não (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae), Gừng (Zingiberaceae).
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status