Nghiên cứu thành phần loài côn trùng họ Lucanidae (Insecta Coleoptera) tại Vường Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phú - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
o0o
NGUYỄN QUANG THÁI

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG HỌ
LUCANIDAE
(INSECTA: COLEOPTERA)
TẠI VƢỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, VĨNH PHÚC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội - 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
o0o NGUYỄN QUANG THÁI

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG HỌ LUCANIDAE

VQG Tam Đảo 63 Danh mục hình ảnh
Hình 1.1. Cây phát sinh chủng loại các bộ côn trùng 8
Hình 1.2. Tình trạng phân loại họ Lucandiae trong bộ Coleoptera 9
Hình 1.3. Vòng đời của các loài thuộc họ Lucanidae 12
Hình 1.4. Ấu trùng Lucanus cervus tuổi 2 13
Hình 1.5. Lucanus sp. hóa nhộng trong cocoon 14
Hình 1.6. Giao phối ở Neolucanus parryi 15
Hình 1.7. Giao phối ở P.oweni 15
Hình 2.1. Bản đồ các khu vực thu mẫu 22
Hình 2.2. Địa điểm thu mẫu thứ nhất 23
Hình 2.3. Địa điểm thu mẫu thứ hai 23
Hình 2.4. Địa điểm thu mẫu thứ ba 24
Hình 2.5. Địa điểm thu mẫu thứ tƣ 24
Hình 2.6. Địa điểm thu mẫu thứ năm 25

Hình 2.7. Mặt lƣng Prosopocoilus confucius 31
Hình 2.8. Mặt bụng Prosopocoilus confucius 31
Hình 2.9. Ăng ten của Lucanus angusticornis 32
Hình 2.10. Đầu của Neolucanus nitidus với mắt bị phân cắt hoàn toàn 33
Hình 2.11. Cấu tạo Genitalia của Prosopocoilus crenulidens 35
Hình 3.1. Tỷ lệ phần trăm số lƣợng loài trong mỗi giống Lucanidae

tại Vƣờn Quốc gia Tam Đảo 39
Hình 3.2. Hình dạng ngoài của loài Nigidius laoticus De lisle, 1964 41
Hình 3.3. Hình thái ngoài của Prosopocoilus crenulidens (Fairmaire, 1895) 42
Hình 3.4. Hình dạng đầu và hàm trên của P. crenulidens 43
Hình 3.5. Hình dạng tấm ngực trƣớc và đôi cánh trƣớc của P. crenulidens 43

khoảng 25% tất cả các dạng sống đã biết. Tuy nhiên số lƣợng loài đã biết này có thể
mới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số loài cánh cứng trên thế giới. Ví dụ,
Nielsen và Mound (2000) dự đoán rằng có khoảng 850.000 loài; còn theo Simon
(1996), Grove & Stork (2000) thì có khoảng 2,4 – 2,7 triệu loài cánh cứng trên trái
đất [20].
Việt Nam đƣợc xếp vào nhóm các quốc gia có tài nguyên sinh vật dồi dào và
là trung tâm đa dạng sinh học lớn của thế giới [4], [14]. Tuy nhiên sự tàn phá của
chiến tranh trong quá khứ, đặc biệt việc chặt phá rừng và ô nhiễm môi trƣờng hiện
nay đã và đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh vật của nƣớc ta.
Họ Lucanidae, tên Việt Nam là kẹp kìm, bọ ngà, bọ sừng hƣơu, là một họ
thuộc bộ Cánh cứng. Có khoảng 1400 loài đã đƣợc ghi nhận trên toàn thế giới
(Fujita, 2010) [21]. Ở Việt Nam họ Lucanidae có khoảng 170 loài đã đƣợc ghi nhận
thƣờng sinh sống vùng rừng núi có độ cao trên 300m so với mực nƣớc biển, trong
các hệ sinh thái ít bị tác động [44], ít khi bắt gặp chúng ở khu vực rừng trồng, rừng
tái sinh. Nhiều loài trong họ Lucanidae đang đứng trƣớc các nguy cơ bị đe dọa cao,
do việc tàn phá hệ sinh thái và săn bắt phản khoa học để bán cho các nhà sƣu tập
nƣớc ngoài. Gần đây nhiều phát hiện mới về các nghiên cứu Lucanidae của Việt
Nam có giá trị về khoa học đã đƣợc công bố nhƣ các công trình của Maeda (2009,
2010, 2012), Michele (1998) [21]. Tuy nhiên kết quả thu đƣợc còn khá khiếm tốn so
với tiềm năng sẵn có của khu hệ sinh vật của nƣớc ta.
Côn trùng ở vƣờn Quốc gia (VQG) Tam Đảo nói chung, họ Lucanidae nói
riêng rất đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loài đặc hữu: Katsuraius
ikedaorum, Lucanus persarinii [21]. Trƣớc đây đã có một công bố về côn trùng
họ Lucanidae ở Vƣờn Quốc Gia Tam Đảo của các tác giả nƣớc ngoài dựa vào
nguồn mẫu vật mua đƣợc từ ngƣời dân, chủ yếu là các công bố về phát hiện các loài

mới [21] mà chƣa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc điểm đa dạng, tình
trạng phân bố của họ Lucanidae cũng nhƣ xây dựng khóa định loại cho các loài
thuộc họ Lucanidae tại đây [44].
Trong hệ sinh thái tự nhiên các loài Lucanidae ở giai đoạn trƣớc trƣởng

Fujjita năm 2010 [21]. Theo thống kê mới nhất của Fujita (2010), toàn thế giới đã
có 1414 loài và phân loài thuộc 105 giống Lucanidae đƣợc công bố, trong đó 1348
loài đƣợc nghiên cứu dựa trên mẫu vật, còn lại 66 loài dựa trên các ảnh chụp hoặc
hình vẽ minh họa. Lucanidae phân bố khá rộng rãi trên toàn thế giới, tuy nhiên số
lƣợng loài và số lƣợng cá thể chủ yếu phân bố ở miền nhiệt đới và cận nhiệt đới của
miền Đông Phƣơng (Oriental region) các khu vực còn lại thành phần loài ít đa dạng
hơn [21].
Hiện nay, nhiều nƣớc trên thế giới đã đầu tƣ nghiên cứu kỹ về khu hệ cũng
nhƣ sinh thái học của các loài Lucanidae trong hệ sinh thái. Chẳng hạn ở Thái Lan
việc nghiên cứu Lucanidae đã đƣợc tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ trƣớc,
hiện nay khu hệ của Thái Lan đã đƣợc nghiên cứu khá cụ thể đƣợc công bố trong
các công trình nhƣ “Lucanidae of Thailand” của Bro. Amnuay Pinratana & Jean-
Michel Maes năm 2003; “Beetles of Thailand” của tác giả Pisuth Ek-Amnuuay năm
2008. Kết quả cho thấy đã có 115 loài và phân loài thuộc 24 giống đã đƣợc ghi nhận
ở Thái Lan [33]. Ở Lào có nghiên cứu của Maes Jean-Michel … Ở Hàn Quốc các
nghiên cứu của tác giả Sang II Kim và Jin III Kim (2010) đã ghi nhận 17 loài thuộc
9 giống cho quốc gia này [35]. Ở New Guinea tác giả Luca Bartolozzi (2011) đã
thống kê có 100 loài trong đó có 67 loài và 1 phân loài đặc hữu. Các công trình của

Benesh (1960); Blackwelder and Arnett (1974); Milne (1933); Hoffman (1937),
Paulsen (2005) cũng đã có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu thành
phần loài và đặc trƣng phân bố của côn trùng họ Lucanidae ở Bắc Mỹ [16], [23].
Tuy nhiên hiện nay việc nghiên cứu phân loại học Lucanidae còn gặp nhiều
khó khăn do tính đa hình của chúng. Một loài có thể có rất nhiều hình dạng, kích
thƣớc khác nhau từ dạng có kích thƣớc nhỏ, trung bình đến lớn Một nhà phân loại
có thể mô tả một loài mới cho khoa học, nhƣng các nghiên cứu tiếp theo của một
nhà khoa học khác lại bác bỏ kết quả đó do tác giả trƣớc đây dựa trên một mẫu vật
có kích thƣớc khác với kích thƣớc trong mô tả gốc [20]. Điều này đã làm cho hệ
thống phân loại có nhiều thay đổi và bị nhiễu gây khó khăn cho các nhà phân loại
học sau này [20], [23]. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu bậc phân loại các loài cũng

con ngƣời về tình trạng phân loại của Lucanidae, mối quan hệ giữa Lucanidae và hệ
sinh thái, thậm chí cả mối quan hệ của các khu vực địa lý khác nhau [6], [8],[36].
Bên cạnh đó phong trào nhân nuôi côn trùng trong phòng thí nghiệm và mục
đích thƣơng mại trên thế giới đã diễn ra rầm rộ hơn 20 năm nay đặc biệt ở Nhật, Đài
Loan, Thái Lan… Thuộc vào lĩnh vực này có các nghiên cứu của Lai (2001), Lai và
cộng sự. (2008) [25], [26]. Hiện nay ngoài việc thu mua côn trùng khô ngƣời ta còn
thu mua cả côn trùng sống phục vụ mục đích nhân nuôi sinh sản. Đối với Lucanidae
đã có rất nhiều thành công, thậm chí còn có cả các công ty chuyên sản xuất các thiết
bị, thức ăn phục vụ nhân nuôi Lucanidae. Điều này làm cho áp lực săn bắt ngoài tự
giảm hẳn đối với những loài mới, loài hiếm có giá trị thƣơng mại cao [26].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu Lucanidae ở Việt Nam và tại Tam Đảo
Ở nƣớc ta việc nghiên cứu Lucanidae do các tác giả nƣớc ngoài đã đƣợc thực
hiện từ rất sớm với việc công bố hàng loạt loài mới cho khu hệ Việt nam. Chẳng
hạn nhƣ các công bố về kết quả nghiên cứu Benesh (1950); Didier và Seguy (1953)
[18]. Thời gian gần đây, sau khi đất nƣớc thống nhất, các nhà khoa học Nhật Bản,
Italia nhƣ Baba (2000, 2004); Nagai (1996, 1998, 2001, 2005); Maeda (2009,

2010, 2012); Fujita (2010); Zilioli (1998, 1999, 2000) đã công bố một số phát hiện
mới về Lucanidae ở các vùng núi phía bắc (dẫn theo Maeda, 2012) [29]. Sau này
tiếp tục có các nghiên cứu chuyên sâu với với việc phát hiện và công bố thêm rất
nhiều loài mới ở miền Trung nhƣ Kon Tum, Nghệ An, Đà Nẵng [29].
Ở Việt Nam, Vitalis de Salvaza (1919) phát hiện có 59 loài, Didier et al.
(1953) [18] công bố có 85 loài Lucanidae. Số liệu gần đây của Fujita (2010) cho
thấy đã có 132 loài và phân loài Lucanidae đƣợc ghi nhận ở Việt Nam, trong đó có
39 loài đƣợc phát hiện ở Tam Đảo [21]. Hiện nay nhà côn trùng học ngƣời
Nicaraqua Maes Jean-Michel (2012) đã thống kê không chính thức cho thấy Việt
Nam có 165 loài và phân loài thuộc 30 giống và 38 phân giống, trong đó có nhiều
loài đặc hữu của Việt Nam. Trong số đó cũng có nhiều loài đặc hữu của Tam Đảo
do chƣa tìm thấy chúng ở khu vực khác nhƣ: Lucanus pesarinii Zilioli, 1998;
Katsuraius ikedaorum Nagai, 1996 [41], [42].

tồn và phát triển chúng.
1.2. Bậc thang tiến hóa và tình trạng phân loại
1.2.1. Cổ sinh vật học
Hóa thạch cổ nhất của bộ cánh cứng đƣợc tìm thấy ở đầu kỷ Permian (Thế
Asselian) cách đây khoảng 300 triệu năm trƣớc ở Niedermoschel gần Mainz, nƣớc
Đức. Điều này cho thấy tổ tiên của Bộ cánh cứng đã xuất hiện khi các lục địa trên
trái đất còn đang gắn với nhau thành siêu lục địa Pangea. Đến cuối kỷ Permian thì
cấu tạo của cánh cứng đã phần nào hoàn thiện. Tuy nhiên những bộ cánh cứng xuất
hiện từ kỷ Permian đã bị tuyệt chủng không còn tồn tại đến ngày nay. Bộ cánh cứng
hiện nay là con cháu của bộ cánh cứng chủ yếu xuất hiện từ kỷ Phấn trắng (cách đây
150 triệu năm) [31].
Các bằng chứng cổ sinh vật học Lucanidae chứng minh rằng Lucanidae xuất
hiện từ hơn 80 đến 105 triệu năm trƣớc (Donnelly, 1988). Theo tác giả Ross and
Scortese (1988) đã tìm thấy hóa thạch Lucanidae ở cuối kỷ phấn trắng (Cretaceous)

của đại Trung sinh (Mesozoic) cách đây 118 triệu năm [34], [39]. Hiện nay các việc
nghiên cứu cổ sinh vật học Lucanidae đều dựa trên các mẫu vật hóa thạch. Cho đến
nay đã phát hiện đƣợc 20 mẫu vật hóa thạch Lucanidae trên toàn thế giới [31].
1.2.2. Vị trí của họ Lucanidae trong lớp côn trùng
Theo quan điểm của Grimaldi, D. và M. S. Engel năm 2005 [22] thì Bộ cánh
cứng thuộc liên bộ Endopterygota, lớp côn trùng. Liên bộ này gồm những bộ côn
trùng có biến thái hoàn toàn. Vòng đời của chúng trải qua các giai đoạn từ trứng, ấu
trùng, nhộng và trƣởng thành. Họ Lucanidae thuộc Liên họ bọ hung Scarabaeoidae,
phân bộ Polyphaga; bộ cánh cứng Coleoptera.

Hình 1.1. Cây phát sinh chủng loại các bộ côn trùng
(Nguồn: Grimaldi, D. và M. S. Engel, 2005) [37]
Trong bộ cánh cứng (Coleoptera) thì Lucanidae từng đƣợc xem là họ cổ nhất
(Crowson 1967; Howden 1982; Ritcher 1966). Hay đã từng có các giả thuyết xem
Lucanidae là nền tảng về phân loại và tiến hóa của liên họ bọ hung Scarabaeoidae

trứng với số lƣợng ít (mỗi cá thể cái chỉ đẻ vài chục quả) [10]. Đặc biệt Lucanidae
sinh sống trong một sinh cảnh hẹp, kén chọn nguồn thức ăn và nơi ở rất dễ bị ảnh
hƣởng dƣới tác động của việc biến đổi môi trƣờng sống. Do đó sự suy giảm số
lƣợng hay biến mất của Lucanidae có thể là chỉ thị cho tài nguyên rừng ở khu vực
nghiên cứu đã bị khai thác cạn kiệt, chỉ thị tình trạng khai thác lƣợng cây thân gỗ
[8].
Lucanidae không phải là một loài gây hại đáng kể trong hệ sinh thái vì chúng
chỉ dinh dƣỡng các loại gỗ đang phân hủy (Lucanidae thuộc nhóm Xylophagous),
không phá hoại cây gỗ đang sống hoặc mới đốn hạ. Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp

một số loài Lucanidae trên các cây gỗ lớn có nhựa nhƣng chúng chỉ hút một ít nhựa
không đáng kể trong suốt thời gian trƣởng thành của chúng [2]. Cũng nhƣ các loài
sinh vật trên trái đất Lucanidae còn góp phần làm tăng nguồn đa dạng sinh học, bảo
tồn nguồn gen.
Các loài trong họ Lucanidae cùng với các nhóm côn trùng ăn gỗ khác nhƣ
Cerambycidae … có những đóng góp nhất định vào chu trình sinh địa hoá các chất,
giúp phân huỷ cơ học một cách nhanh chóng các loại gỗ trong tự nhiên nhờ vào đặc
điểm háu ăn của ấu trùng [14], [39].
Lucanidae còn là một mắt xích trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái, chúng là
thức ăn của một số loài động vật khác nhƣ chim, các loại động vật nhỏ khác bắt ấu
trùng và cả con trƣởng thành để ăn. Một vài loài Lucanidae cũng ăn các loài động
vật nhỏ khác (Tribe Figulini) và có vai trò là tác nhân thụ phấn cho thực vật [35].
Lucanidae là một nhóm sinh vật xuất hiện từ hơn 100 triệu năm trƣớc. Việc
sử dụng cổ sinh vật học thậm chí cả các mẫu vật hiện nay để so sánh giữa
Lucanidae của các vùng địa lý khác nhau có thể giúp các nhà địa chất học hiểu đƣợc
mối quan hệ giữa các vùng địa lý nhƣ thế nào từ khoảng trăm triệu năm trƣớc
(Robert E. Woodruff, 2009) [31], [34], [39].
Lucanidae còn có giá trị sƣu tập thẩm mỹ vì có hình dáng đẹp, dễ bảo quản.
Là đối tƣợng của rất nhiều nhà sƣu tập côn trùng trên toàn thế giới. Đồng thời trong
lịch sử nhân loại, hình ảnh Lucanidae đã xuất hiện rất nhiều trong tranh vẽ, đồng xu


Hình 1.4. Ấu trùng Lucanus cervus tuổi 2
(Nguồn: Marria Fremlin & Carim Nahaboo, 2008)
Sau khoảng 3 tuần trứng nở thành các ấu trùng (larvae) nhỏ và dinh dƣỡng
bằng chất béo dự trữ trong cơ thể sau đó một thời gian chúng bắt đầu ăn gỗ mục. Ấu
trùng qua hai lần lột xác (moult) lớn lên, phàm ăn và bắt đầu tích lũy chất béo cho
giai đoạn trƣởng thành. Thời gian tồn tại của ấu trùng Lucanidae phụ thuộc từng
loài, chất lƣợng gỗ cũng nhƣ điều kiện thời tiết nhƣng thƣờng kéo dài hàng năm và
là giai đoạn chính trong vòng đời của chúng [8], [9]. Ấu trùng Lucanidae mang đặc
điểm điển hình của ấu trùng Scarabaeoidea (scarabaeiform) nhƣ màu hơi trắng (trừ
phần đuôi có thể hơi tối do tích trữ phân), gần hình trụ, dạng cong chữ C và bị mù.
Phần đầu cứng màu nâu đỏ có bộ hàm chắc khỏe, đây là phần thay đổi qua mỗi lần
lột xác của chúng còn phần thân có cấu trúc mềm dẻo linh hoạt nên có khả năng
căng phồng nhƣ quả bóng. Râu đầu có 3-4 đoạn, đoạn cuối cùng rất ngắn; thƣờng
vắng mặt mắt đơn (ocelli), mắt đơn của ấu trùng chỉ tồn tại ở ba tộc (Tribe)
(Platycerini, một số ở tộc Sclerostomini và tộc Ceratognathini) [15]. Hàm dƣới

(maxilla) với tấm nghiền ngoài (galea) và tấm nghiền trong lacinia rõ ràng riêng
biệt, xúc biện (Palp) hàm dƣới gồm 4 đoạn. Hàm trên (mandibles) kéo dài và bất đối
xứng. Bụng có 3-7 đốt, với 1 hoặc nhiều hàng ngang lông cứng ngắn; các lỗ thở
hình cái rổ (Ritcher 1966; Scholtz 1990). Ấu trùng có 3 cặp chân đối xứng hai bên,
mỗi chân có 4 đốt. Để giao tiếp với nhau ấu trùng thƣờng cọ chân sau vào cái lƣợc
ở gốc chân giữa phát ra âm thành, đây là tín hiệu giao tiếp của chúng (Maria
Fremlin, 2008). Hậu môn mở theo chiều dọc hoặc dạng chữ Y trong khi ở nhóm
Scarabaeidae hậu môn thƣờng mở theo chiều ngang (Ratcliffe 1991) [22], [23]. Khi
tích lũy đủ chất béo ấu trùng đạt kích thƣớc tối đa, bề ngoài của chúng có màu vàng
kem là kết quả của lƣợng chất béo đƣợc tích lũy dƣới da. Đây là thời điểm có sự
thay đổi lớn trong vòng đời Lucanidae, ấu trùng dừng ăn, rời khỏi môi trƣờng gỗ,
chui xuống đất, bắt đầu quá trình biến thái. Giai đoạn này ấu trùng tạo thành nhộng
(pupa) chúng không ăn uống hay vận động [25].

Tây Bắc – Đông Nam; rộng chừng 10-15km , có toạ độ địa lý từ 21
o
21’- 21
o
42’ vĩ
Bắc và từ 105
o
23’ - 105
o
44’ kinh độ Đông, trải dài trên địa bàn các huyện Tam Đảo
– tỉnh Vĩnh Phúc, Đại Từ – tỉnh Thái Nguyên và Sơn Dƣơng – tỉnh Tuyên Quang.
Vƣờn có tổng diện tích 34.995 ha trong đó có 26.163 ha rừng. Vùng phục hồi sinh
thái 7240 ha, vùng dịch vụ hành chính 1540 ha, vùng đệm 15.515 ha; phân khu bảo

vệ nông nghiệp 16.442 ha. Trong rừng Quốc gia Tam Đảo có Thị trấn Tam Đảo với
diện tích tự nhiên xấp xỉ 237 ha, cách Hà Nội 80km về phía Tây Bắc và cách thị xã
Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc 24km [5].
1.5.1.1. Địa hình
Vƣờn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo.
Địa hình đa dạng và phức tạp núi đất xen kẽ núi đá. Giữa dãy núi Tam Đảo có 3
ngọn núi cao nhất và xấp xỉ nhau (nên có tên gọi là Tam Đảo): Núi Phù Nghĩa
(Rùng Rình) – cao 1400m, núi Thạch Bàn – cao 1388m, núi Thiên Tự - cao 1375m.
Đây là dãy núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nƣớc biển, cao nhất
là đỉnh Tam Đảo với độ cao tuyệt đối 1.592m. Điểm thấp nhất của vƣờn cao khoảng
100m [46].
Dãy núi Tam Đảo hình thành cách đây 230 triệu năm vào giữa kỷ Trias do
hoạt động của núi lửa phun trào dung nham làm nhiều đợt chồng lên nhau. Địa hình
ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sƣờn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông
phụ gần nhƣ vuông góc với dông chính. Các loại đá chính ở Tam Đảo là Riolit
pocfia, penzit. Dãy núi Tam Đảo chạy theo hƣớng Tây Bắc-Đông Nam, dài chừng

9,9
81
26,1
2
14
92
46,1
3
16,1
93
61,4
4
18,9
91
175,8
5
20,6
93
410,3
6
23,7
85
266
7
23,1
91
509
8
22,8
87

84%, trên cao là 87%. Khu vực vùng núi có độ ẩm cao hơn khu vực thấp, nhất là
khi có mƣa phùn.; Lƣợng mƣa trung bình năm khá lớn (182,6mm) nhƣng phân bố
không đồng đều. Từ tháng 4 đến tháng 10 lƣợng mƣa luôn cao hơn các tháng còn

lại, chiếm 90% lƣợng mƣa cả năm; đặc biệt tháng 5 đến tháng 9 lƣợng mƣa lớn dẫn
đến lũ lớn, gây xói mòn; số ngày mƣa hơn 90 ngày trong năm; lƣợng mƣa cao nhất
vào tháng 7 đạt 509mm; thấp nhất vào tháng 12 chỉ đạt 7,4mm. Sƣơng mù xuất hiện
ở hầu hết các tháng trong năm và nhiều nhất vào các tháng 11,12,1 và 2 làm giảm
tầm nhìn thậm chí giảm còn 3-4m [45].
1.5.1.3. Đa dạng sinh học
Tam Đảo có khu hệ động và thực vật rất đa dạng và phong phú. Theo thống
kê gần đây của dự án GTZ (năm 2003), Tam Đảo có 1282 loài thực vật bậc cao,
thuộc 179 họ khác nhau. Trong đó, có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý, hiếm cần
đƣợc bảo vệ [3], [5].
Thực vật Tam Đảo khá đa dạng với rất nhiều loài cây thuộc các họ thực vật
khác nhau, từ các loài cây nhiệt đới chỉ thấy ở khu vực thấp nhƣ họ Dầu
(Dipterocarpaceae) đến các loài cây á nhiệt đới trên núi nhƣ họ Đỗ quyên
(Ericaceae). Theo tài liệu về Vƣờn Quốc gia Tam Đảo năm 2001 và Thái văn Trừng
năm 1978, thực vật Tam Đảo đƣợc chia thành hai đai là đai cao (đai á nhiệt đới)
trên 700m và đai thấp (đai nhiệt đới) dƣới 700m [5], [45]. Các kiểu rừng chính ở
Tam Đảo là:
Rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới, ở độ cao dƣới 700m, loại rừng này
chiếm hầu hết diện tích rừng Tam Đảo. Thông thƣờng kiểu rừng này có 3 tầng là
tầng vƣợt tán với các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae); tầng ƣu thế với các loài
cây họ Máu chó (Myristicaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae); và tầng dƣới tán gồm cả
các loài cây ƣa bóng mọc rải rác dƣới tán rừng, chủ yếu thuộc họ Máu chó
(Myristicaceae) và họ Na (Anonaceae). Lớp phủ thực vật dƣới tán rừng bao gồm
các họ Đơn nem (Myrsinaceae) và họ Trúc Đào (Apocynaceae) [5].
Rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới ở độ cao trên 700m, độ ẩm cao
nên có rất nhiều loài rêu bao phủ trên thân cây rừng. Các loài cây họ Dầu

hung Scarabaeidae), loài ngài đêm Salassa lemaii họ Hoàng đế (họ Hoàng đế
Saturnidae) cũng là những loài khá quý, hiếm. Nhiều loài ngài, bƣớm và cánh cứng

Trích đoạn Một số loài có giá trị khoa học đƣợc ghi nhận ở Tam Đảo xuất một số biện pháp bảo tồn Lucanidae
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status