NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BẮT MỒI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI LÊN MẬT ĐỘ MỘT SỐ LOÀI PHỔ BIẾN TRÊN RAU HỌ HOA THẬP TỰ Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 34

CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
UBND
RAT
CT1
CT2
GAP

:
:
:
:
:

Ủy Ban nhân dân
Rau an toàn
Công thức 1
Công thức 2
Good Agriculture Practices

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Họ cải (Brassicaceae), còn gọi là họ Hoa thập tự (Cruciferae), là một họ thực
vật có hoa. Họ này chứa một số loài có tầm quan trọng kinh tế lớn, cung cấp nhiều
loại rau về mùa đông trên khắp thế giới. Chúng bao gồm cải bắp, cải bông xanh, súp
lơ, cải brussels, cải xoăn (tất cả đều là các giống cây trồng từ một loài là Brassica
oleracea), cải làn, cải củ và su hào…. Là cây thực phẩm quan trọng đối với đời sống
con người và vật nuôi, rau cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết như prôtêin, axit
hữu cơ, vitamin và các chất khoáng. Rau có thời gian sinh trưởng ngắn, bị nhiều loài

việc kìm hãm số lượng sâu hại hiện nay đã và đang được nhiều nhà khoa học trong
2


nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Đối với nhóm côn trùng bắt mồi phải kể
đến các loài cánh cứng thuộc họ Scarabidae, bọ rùa Coccinellidae, Staphylinidae, bọ
xít ăn sâu Nabidae, Miridae, Pentatomidae và Reduviidae, chuồn chuồn
Coenagridae, ong bò vẽ Vespidae của sâu bọ để tiêu diệt sâu hại như sử dụng côn
trùng bắt mồi để hạn chế sự phát triển của sâu hại mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ
người và động vật, đó là cơ sở để phát triển một nền nông nghiệp an toàn và bền
vững, chính vì vậy tôi đã chọn đề tài có tên “Nghiên cứu thành phần loài côn trùng
bắt mồi và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên mật độ một số loài phổ
biến trên rau họ Hoa thập tự ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”
2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
* Mục đích
- Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái ( kỹ thuật canh tác, chế độ chăm sóc,
phân bón và thuốc trừ sâu) lên mật độ của một số loài phổ biến.
* Ý nghĩa của đề tài.
- Việc xác định được thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự
tại Phú Xuyên-Hà Nội góp phần vào nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi ở
Phú Xuyên nói riêng và Hà Nội nói chung.
- Các dẫn liệu về biến động số lượng của các loài phổ biến là cơ sở của biện
pháp sử dụng côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại.
- Các dẫn liệu hiện trạng loài côn trùng bắt mồi trên đồng ruộng và việc sử
dụng quá nhiều thuốc trừ sâu đã làm cho côn trùng bắt mồi không còn thức ăn, nơi trú
ẩn nhiều loài đã gần như biến mất làm mất cân bằng sinh thái.
- Góp phần đánh giá về công tác quản lý sâu hại, quản lý môi trường ở địa phương,
đồng thời ý thức tự giác của người dân trong việc thực hiện đúng quy định khi sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật để có thể có được sản phẩm RAT và bảo vệ môi trường.

litura, sâu keo da láng Spodoptera exigua. Sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm
trắng Pieris rapae, rệp cải Brevicoryne brassicae, rệp muội Brevicoryne brassicae,
rệp đậu Myzus persicae, sâu đo xanh Plusia eriosoma, Rầy xanh Tettigoniella viridis,
sâu đục bắp Marmestra sp., bọ nhảy sọc trắng Phyllotre armoraciar, bọ nhảy sọc đen
Phyllotre pusila, ruồi đục lá Liriomyza sativae, bọ trĩ Frankliniella occidentalis..vv
đã được nghiên cứu hệ thống về hình thái, dẫn liệu các minh hoạ, sự gây hại và biện
pháp phòng trừ (Alam, 2002; Blackman, 1984; Morallo and Sayaboc., 2003 ).
Ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam đã ghi nhận
hơn 100 loài sâu hại trong đó có hơn 30 loài thực sự nguy hiểm, nhiều loài trong số
đó đã được mô tả hình thái, nghiên cứu sinh học, sinh thái học và các biện pháp
4


phòng chống như ruồi đục lá Liriomyza trifolii, Liriomyza brassicae Riley, Liriomyza
sativae, Liriomyza huidobrensis và Chromatomyia syngenesiae, rệp đào Myzus
persicae, rệp bông Aphis gossypii, ruồi trắng Trialeurodes vaporarioum, bọ phấn
Bemisia argentifolii, rệp hoa cúc Macrosiphoniella sanborni, rệp hoa hồng
Macrosiphum rosae, rệp khoai tây Macrosiphum euphorbiae, bọ trĩ Frankliniella
occidentalis, Frankliniella occidentalis, Frankliniella tritici, Thrips tabaci và
Echinothrips sp. sâu tơ Plutella xylostella, sâu khoang Spodoptera litura, sâu keo da
láng Spodoptera exigua, sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae,
rệp cải Frankliniella occidentalis, sâu đo xanh Plusia eriosoma, rầy xanh
Tettigoniella viridis, sâu đục bắp Marmestra sp., bọ nhẩy sọc trắng Phyllotre
armoraciar, bọ nhẩy sọc đen Phyllotre pusila (Fao,1993).
b. Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi.
Thành phần loài côn trùng ký sinh và bắt mồi của các loài sâu hại trên rau họ
Hoa thập tự cũng rất phong phú với hơn 60 loài ký sinh bắt mồi phổ biến ghi nhận
được và nhiều loài đã được nhân nuôi và sử dụng các phòng trừ sinh học sâu hại rau
như bò rùa bắt mồi Propylea japonica,Harmonia axyridis, Scymnus hoffmanni, ruồi
ăn rệp M.corollae và P. Quadrifasciatus, bọ xít bắt mồi Orirus sp., Coranus sp.,

năm. Loài Haematorrhophus nigroviolaceous đạt mật độ cao từ tháng 10/1984 đến
tháng 2/1985. Loài Neohaematorrhophus therasii đạt mật độ cao từ tháng 3/1985 đến
tháng 8/1986. Loài Rhinocoris fuscipes đạt mật độ cao từ tháng 7/1984 đến tháng
3/1986. Số lượng loài R. marginatus thường đạt mật độ cao trong khoảng từ tháng
9/1984 đến tháng 6/1985.
Nghiên cứu biến động số lượng của loài bọ xít mù xanh Cyrtorrhinus
lividipennis trên rau. Qua tính toán cho thấy mối tương quan số lượng giữa loài bọ xít
bắt mồi này với vật mồi của nó là loài rầy chặt chẽ (R = 0,8) (Morallo and Sayaboc,
1992).
1.1.3 Những nghiên cứu về sinh thái học của một số loài côn trùng bắt mồi bắt
mồi trên rau
Việc sử dụng các loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sinh học để giảm bớt
hay loại trừ côn trùng hại cũng đã được áp dụng ở nhiều nước Trung Quốc, Thái Lan,
Nhật Bản, Indonesia… thậm chí ở nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan còn có
nhiều công ty sản xuất hàng loạt các côn trùng bắt mồi nhằm cung cấp cho nông dân
thả trên đồng ruộng và trong nhà kính để phòng trừ sâu hại nguy hiểm trên cánh
đồng.
1.1.4. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên côn trùng
bắt mồi
Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phun thuốc 1 lần và công thức phun
thuốc 3 lần lên mật độ của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis và vật mồi
của nó là các loài sâu hại trên rau cho thấy công thức phun thuốc 3 lần làm giảm số
lượng cuả loài côn trùng bắt mồi này và phá vỡ mối tuơng quan số lượng với vật mồi
(Fao, 1993)
Goodwin (2002) đã nghiên cứu ảnh hưởng của 5 loại thuốc hoá học
(Monocrotophos, Dimethoate, Methylparathion [Methyl- Parathion], Quinalphos và
Endosulfan) lên loài côn trùng bắt mồi Rhynocoris kumarii (họ Reduviidae) là loài
băt mồi có mặt trên rau. Kết quả cho biết loại thuốc hoá học Methylparathion ảnh
hưởng đến thiếu trùng tuổi 3 và trưởng thành của loài bọ xít Rhynocoris kumarii. So
6

Theo Hà Quang Hùng (2006) để phòng trừ rệp thì cần thả bọ rùa, bọ đuôi kìm
với tỉ lệ 1-1,5 con/m 2. Kết quả thử nghiệm cho thấy, diện tích được thả thiên địch so
với diện tích đối chứng (rau trồng phát triển tự nhiên không can thiệp bất kì biện pháp
phòng trừ sâu hại nào) mang lại hiệu quả cao hơn hẳn. Rau tươi lượng sâu giảm từ
70-80 %, cho thu hoạch nhiều lần. Quan trọng hơn người dân giảm được đáng kể
7


công lao động, không phải sử dụng thuốc trừ sâu hoặc hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu
đem lại sản phẩm rau sạch, an toàn cho người sử dụng. Việc sử dụng thiện địch đã
đem lại hiệu quả tốt đẹp, không tốn tiền phun thuốc trừ sâu, trước đây 1 vụ phải 10
lần phun thuốc, bây giờ chỉ cần phun 1-2 lần/vụ.
Nhìn chung ở vùng trồng rau ở Hà Nội, cho đến nay, việc nghiên cứu và xác
định thành phần loài côn trùng bắt mồi chỉ chủ yếu là nghiên cứu trên rau ở ngoài
cánh đồng và đã ghi nhận hơn hại phổ biến gần 50 loài bắt mồi và vật mồi của chúng.
1.2.2. Những nghiên cứu về biến động số lượng và mối quan hệ của các loài côn
trùng bắt mồi ở trên rau
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài côn trùng bắt mồi, mối quan hệ
giữa ″vật bắt mồi – vật mồi″ và biến động số lượng của một số loài bắt mồi cũng đã
được nghiên cứu. Các nghiên cứu về sinh học của các loài thuộc nhóm côn trùng bắt
mồi đã tập trung ở một số loài như: bọ rùa sáu vằn Menochilus sexmaculatus, bọ rùa
đỏ Micraspis discolor (họ Coccinelllidae), bọ xít Cantheconidae furcellata (họ
Pentatomidae), bọ xít Orius sauteri và Xylocoris flavipes (họ Anthocoridae), bọ xít
Cyrtorhinus livipennis (họ Miridae) và ruồi ăn rệp Ischiodon scutellaris (họ
Syrphidae) (Hà Quang Hùng, 2006; Phạm Văn Lầm, 2010)
Các kết quả nghiên cứu về sinh học một số loài côn trùng bắt mồi về các đặc điểm
sinh thái học của một số loài bọ xít bắt mồi (bọ xít cổ ngỗng đỏ Sycanus falleni, bọ
xít cổ ngỗng đen Sycanus croceovittatus, bọ xít nâu

8

2.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng là những phương pháp thương dùng trong nghiên
cứu côn trùng như phương pháp điều tra phát hiện, dự tính dự báo và các phương
pháp khác.
2.4.1. Phương pháp điều tra thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa
thập tự.
Sử dụng vợt côn trùng có đường kính 40cm, chiều dài 1-1,2m hoặc bắt bằng
tay, thu bắt toàn bộ các loài côn trùng bắt mồi xuất hiện trên sinh quần ruộng rau họ
9


Hoa thập tự và khu vực lân cận (bờ mương, bờ cỏ xung quanh ruộng rau, khu vực
trồng rau). Trong số cá thể bắt mồi cùng loài thu được, cố định một số cá thể trong
cồn 90% để định loại, số còn lại được nuôi trong phòng thí nghiệm để xác định sức
ăn mồi và vật mồi đặc biệt là các loài bắt mồi phổ biến. Với các đối tượng mới phát
hiện, chỉ ghi nhận chúng là thiên địch nếu thấy rõ chúng tấn công ăn thịt vật mồi là
sâu hại rau .
Mức độ phổ biến của các loài được xác định theo số lần xuất hiện của chúng
khi điều tra trên đồng ruộng với:
+++ : rất phổ biến (mức độ bắt gặp > 50%)
++ : phổ biến (mức độ bắt gặp 15 - 50%)
+ : ít phổ biến (mức độ bắt gặp 0 - 15%)
Điều tra chi tiết:
- Chọn ruộng điều tra
- Thu mẫu bằng tay hoặc bằng dụng cụ như panh, kẹp, bằng vợt: Quan sát trên
thân, là, gốc của cây rau và dưới đất. Ghi chép các thông tin: Ngày tháng điều tra, vụ
rau, cây điều tra, giai đoạn phát triển cây, thời gian phun thuốc, loại thuốc được phun,
phun lần thứ mấy. Số lượng côn trùng bắt mồi, loại côn trùng bắt mồi.
- Sử dụng vợt côn trùng (Φ =40cm, d=2m) thu mẫu: Điều tra 25 m 2 cho 1 công
thức điều tra, điều tra tất cả các loài côn trùng bắt mồi có mặt ở trên cây. Điều tra tại

(1988). Bọ xít bắt mồi (Heteroptera) định loại theo các tài liệu của Distant (1902, 1908);
Barrion và Litsinger (1994). Các nhóm côn trùng bắt mồi khác định loại theo các tài liệu
của Phạm Văn Lầm (1994); Hà Quang Hùng, Bùi Minh Hồng (2008);
2.4.6 Xử lý số liệu và công thức tính toán.
Các số liệu thử nghiệm với các chỉ tiêu theo dõi được xử lý, phân tích và tính
toán với mức xác suất (P

n


CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự ở
huyện Phú Xuyên.
Côn trùng bắt mồi có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà số lượng của
các loài sâu hại trên đồng ruộng. Thế nhưng hiện nay trên đồng ruộng người nông
dân hầu như không quan tâm đến nhóm côn trùng có ích này, có thể là do các loài côn
trùng bắt mồi có kích thước nhỏ và người dân cũng chưa hiểu rõ tập tính hoạt động
của chúng.
Theo kết quả điều tra, thu thập thành phần côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa
thập tự ở huyện Phú Xuyên-Hà Nội. Qua các đợt điều tra từ tháng 9 năm 2013 đến
tháng 3 năm 2014 tại các xã Minh Tân, Quang Lãng, Tân Dân, Hồng Thái, Nam
Phong, tôi nhận thấy thành phần côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự xuất hiện
trên đồng ruộng tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây rau cũng như điều kiện
canh tác trên cây rau.
Bảng 3.1. Thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự
huyện Phú Xuyên- Hà Nội.
STT

Tên Việt Nam

1

I.Bộ cánh cứng
1.Họ bọ rùa
Bọ rùa đỏ

(Fabricius, 1798)
Menochilus
Sexmaculatus
(Fabricius, 1781)
Lemmia biplagiata
(Swartz, 1808)
Harmonia
Octomaculata
(Fabricius, 1781)
Coccinella
transversalis
Fabricius, 1781
Propylea japonica
Thunbr, 1784
Staphyllinidae

Bọ cánh cộc 3 khoang

Paederus fuscipes
12

Vật mồi

Mức độ
phổ biến

Rệp, trứng,
sâu non
Rệp, trứng


9
10

Tên Việt Nam
Bọ cánh cộc đen
3.Họ chân chạy
Bọ cổ dài 3 khoang

14

Chân chạy lưng 2
chấm trắng
Chân chạy đuôi hình
mũi tên
II.Bộ hai cánh
4.Họ ruồi bắt mồi
Ruồi ăn rệp vân bụng
đen
Ruồi ăn rệp vân bụng
nâu vàng
III.Bộ chuồn chuồn
5 .Họ chuồn chuồn
kim
Chuồn chuồn kim

15

6.Họ chuồn chuồn
ngô
Chuồn chuồn ngô

Fabricius, 1792
Diptera
Syrphidae
Ischidon
scutellaris Fabr., 1840
Episyrphus
(DeGeer, 1776)
Odonata
Coenogrionidae

non
Rệp, sâu non

+

Rệp, sâu non

+

Rệp, sâu non

+

Rệp, sâu non

++

Rệp

+

V.Bộ cánh khác
Heteroptera
9.Họ bọ xít 5 cạnh
Pentatomidae
Bọ xít nâu viền trắng
Andrallus
spinindens
(Fabricius, 1787)
10.Họ bọ xít hoa bắt Anthocoridae
mồi
Bọ xít bắt mồi
Orius sauteri
(Poppius, 1909)
13

Bướm

+

Sâu non,
trứng
Sâu non,
trứng

++

Sâu non,
trứng

+


24

13.Họ bọ xít dài
Bọ xít vai tròn

25

14.Họ bọ xít ăn sâu
Bọ xít nâu bắt mồi

26

Bọ xít cổ ngỗng đen

27

VI.Bộ cánh màng
15.Họ kiến
Kiến bắt mồi

28

16.Họ ong bắt mồi
Ong vàng bắt mồi

Tên khoa học

Vật mồi


Camponotus sp

Sâu non,
trứng

+

Sâu non,
trứng

+

Sâu non,
trứng
Sâu non

++

Trứng, sâu
non, rệp

+

Sâu hại

+

Vespidae
Vespa affinis
(Linnaeus, 1764)

cảm với thuốc hoá học chính vì vậy chúng sự có mặt của chúng với mật độ thấp ở trên
cánh đồng trồng rau có vai trò kìm hãm sâu hại là không đáng kể.
Bảng 3.2: Mật độ số loài bắt mồi phổ biến trên rau phun ít thuốc và phun nhiều
thuốc tại điểm nghiên cứu
Mật độ trung bình con/m2
Rau phun ít
Rau phun
TT
Loài bắt mồi
thuốc
nhiều thuốc
1
Các loài bọ xít bắt mồi
0,25(a)±0,07
0,11(b) ±0,06
2
Bọ xít nâu bắt mồi Coranus 0,24(a) ±0,08
0,03(b) ±0,03
fuscipennis
3
Bọ đuôi kìm bắt mồi
0,51(a) ±0,08
0,33(b) ±0,09
4
Bọ cánh cộc 3 khoang Paederus 1,21(a) ±0,34
1,04(b) ±0,26
fuscipes
5
Các loài bọ rùa bắt mồi
1,65(a) ±0,43

Sâu khoang Sâu xanh
Sâu tơ
Rệp cải
Các loài bọ xít bắt mồi
0,34
Bọ đuôi kìm bắt mồi
0,24
Bọ cánh cộc 3 khoang
0,21
Paederus fuscipes
Các loài bọ rùa bắt mồi
0,65
Bọ rùa đỏ Micraspis
0,46
discolor
Nhận xét: Tập hợp các loài bọ xít bắt mồi, bọ xít nâu bắt mồi Coranus
fuscipennis, bọ đuôi kìm bắt mồi, bọ cánh cộc 3 khoang Paederus fuscipes với vật
mồi chính là các loài sâu hại trên rau là sâu khoang, sâu xanh bướm trắng và sâu tơ
trên rau trồng ít phun thuốc có mật độ thấp, xuất hiện không liên tục, rải rác, mẫm
cảm với việc phun thuốc hoá học. Chính vì vậy, tập hợp các loài côn trùng bắt mồi
này ít có vai trò kìm hãm số lượng các loài sâu hại kể cả giai đoạn mật độ của chúng
phát triển và tạo đỉnh. Điều này cho thấy muốn phát huy vai trò kìm hãm số lượng
các loài sâu hại của các loài bắt mồi này thì nhất thiết phải bổ xung số lượng của
chúng bằng biện pháp nhân nuôi và thả vào đồng ruộng.

Thời gian điều tra

3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên một số loài côn trùng
phổ biến.
3.4.1. Ảnh hưởng của thời vụ canh tác đến sự phát sinh phát triển của các loài

*
*
*
*
*
*

vụ
*
*

Vụ Xuân

*
*

Vụ hè

*
*

Trà sớm- vụ đông
Chính vụ đông

*

Trà muộn- vụ
đông

Thời vụ canh tác khác nhau cũng có ảnh hưởng đến mật độ trung bình của các

3.4.2. Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát sinh và phát triển của một số loài côn
17


trùng bắt mồi tại điểm nghiên cứu
Điều tra cho thấy ngay từ khi cây bén rễ hồi xanh mật độ các loài sâu hại và côn
trùng bắt mồi trên 2 công thức phân bón trên rau. CT1: Đạm Phú Mỹ, đạm Đầu Trâu,
Kali Clorua, super lân, NPK Việt Nhật (13-12,8-13), phân hữu cơ, phân vi lượng, bón
lót , CT2: Đạm Phú Mỹ, đạm Đầu Trâu, Kali Clorua, super lân, phân hữu cơ, bón lót.
Bảng 3.6: Tỷ lệ các hộ sử dụng các loại phân bón khác nhau
trên ruộng rau phun ít thuốc.
Tỷ lệ (%) hộ sử dụng các loại
phân bón
Loại phân bón
CT 1
CT 2
Đạm Phú Mỹ
100
17,5
Đạm đầu trâu
96
25,0
Kali clorua
65,5
10,0
Super lân
20,0
27,5
NPK Việt Nhât (13-12,8-13 )
100

0,85(a) ±0,37
1,67(b) ±0,44
Bọ đuôi kìm bắt mồi
0,31(a)±0,09
0,29(b) ±0,11
Ghi chú:(a)- Số liệu so sánh theo Anova theo hàng
Việc bón phân khác nhau trên cây rau bắp cài và xu hào thì mật độ trung bình
các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi, bọ cánh cộc 3 khoang Paederus fuscipes và bọ rùa
18


bắt mồi trên rau bón phân theo CT 1 đều có mật độ trung bình thấp hơn trên rau bón
phân theo CT 2.
3.4.3 Ảnh hưởng của việc quản lý sâu hại đến sự phát sinh và phát triển của một
số loài côn trùng bắt mồi tại điểm nghiên cứu
Theo điều tra ở một số xã Minh Tân, Quang Lãng, Tân Dân, Nam Phong ở huyện
Phú Xuyên, cho thấy người dân sử dụng chủ yếu một số loại thuốc hóa học sau đây để
trừ sâu trên cây rau họ Hoa thập tự như sau (bảng 3.10)
Bảng 3.8: Tỷ lệ các hộ sử dụng thuốc trừ sâu hóa học trên nhóm rau phun ít
thuốc và phun nhiều thuốc tại điểm nghiên cứu
Tỷ lệ (%) các hộ sử dụng
Quản lý sâu hại
Phun 1-3 lần/vụ Phun > 3 lần/vụ
(CT 1)
(CT 2)
DuPont Prevathon 5SC
35,7
74,5
Rholan Super 50SG
18,9

11,3
Tổng số hộ điều tra
n = 30
n = 20
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của số lần phun thuốc lần mật độ một số loài côn trùng
bắt mồi trên rau tại điểm nghiên cứu
Mật độ trung bình con/m2
Côn trùng bắt mồi
Phun 3
Phun 4
Phun 5
Phun 2 lần/vụ
lần/vụ
lần/vụ
lần/vụ
Các loài bọ xít bắt 0,24(a)±0,07
0,17(b) ±0,07
0
0
mồi
Các loài rùa bắt 0,82(a) ±0,27 0,50(b) ±0,22
0
0
mồi
Bọ rùa đỏ bắt mồi
0,38(a) ±0,21 0,10(b) ±0,06
0
0
Bọ cánh cộc 3
khoang Paederus 1,16(a) ±0,35 0,74(b) ±0,23 0,12(c)±0,08

Trưởng thành cái loài C. fuscipennis qua các ngày theo dõi ở giai đoạn trước
phát dục ăn là khá cao, càng gần đến ngày đẻ trứng thì con cái C. fuscipennis ăn càng
nhiều con mồi. Trung bình trong các ngày theo dõi thì con mồi bị trưởng thành cái C.
fuscipennis ăn từ 1 – 3 con mồi/ngày, trung bình con cái C. fuscipennis ăn ấu trùng
ngài gạo Corcyra cephalonica 1,67 ±0,34 con/ngày, sâu khoang Spodoptera litura
2,07±0,37con/ngày, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae 4,34 ± 0,34 con/ngày, sâu tơ
Plutella xylostella 1,96 ±0,88 con/ngày.
3.5.4 Đề xuất bổ xung một số loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại rau
tại vùng trồng rau an toàn ở Phú Xuyên, Hà Nội
Mật độ của các loài côn trùng bắt mồi rất thấp trên rau an toàn, nên chúng rất ít
có vai trong việc khống chế mật độ của các loài sâu hại phổ biến trên rau ở đây.
20


Chính vì vậy, để tăng cường sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học cho các loài
sâu hại phổ biến trên rau họ hoa thập tự trong sản xuất rau an toàn theo hướng GAP,
thì cần phải thả bổ xung số lượng các loài côn trùng bắt mồi.
Theo kết quả điều tra và dự báo của phòng BVTV huyện Phú Xuyên về diễn
biến mật độ của một số loài hại chính trên trồng từ tháng 3/2013 đến tháng 3/ 2014
cho thấy mật độ của sâu khoang đạt đỉnh trong tháng 5 và tháng 11, sâu xanh bướm
trắng đạt đỉnh trong tháng 5 và tháng 2 năm sau, sâu tơ đạt đỉnh trong tháng tháng 10,
rệp cải đạt đỉnh tháng 11 và tháng 1 năm sau.
Với kết quả phân tích như trên, chúng tôi bước đầu đề xuất bổ xung thả các
loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại theo hướng sản xuất RAT.

21


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN

trùng loài C. fuscipennis khả năng ăn trung bình ấu trùng ngài gạo C.cephalonica là
6,30±0,69 con/ngày, sâu khoang (tuổi nhỏ 1,2,3) Spodoptera litura (Fabr.)
8,10±0,51con/ngày, sâu xanh bướm trắng (tuổi nhỏ 1,2) Pieris rapae
13,40±0,83con/ngày, sâu tơ Plutella xylostella (Linnaeus) 13,40±0,83 con/ngày:
Trưởng thành cái C. fuscipennis ăn từ 1 – 3 con mồi/ngày, trung bình con cái C.
fuscipennis ăn ấu trùng ngài gạo Corcyra cephalonica 1,67±0,34 con/ngày, sâu
22


khoang Spodoptera litura 2,07±0,37 con/ngày, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae
4,34 ± 0,34 con/ngày, sâu tơ Plutella xylostella 1,96±0,88 con/ngày.
KIẾN NGHỊ
Cần có sự quan tâm của chi cục BVTV, UBND huyện, phòng khuyến nông
huyện, chủ nhiệm hợp tác xã tổ chức tập huấn cho bà con nông dân và quy trình sản
xuất RAT theo hướng Việt. Nâng cao ý thức người nông dân trong việc sử dụng
thuốc trừ sâu và giảm số lần phun thuốc.
Để phòng trừ sâu hại và rệp xám trong sản xuất rau cần phải thả bổ xung 1 đợt
bọ đuôi kìm và bọ xít bắt mồi vào tháng 2 và thả bổ xung tiếp đợt 2 bọ đuôi kìm và
bọ xít bắt mồi vào tháng 5, thả 2 đợt bọ rùa bắt mồi vào tháng 12 có khả năng khống
chế số lượng của một số loài sâu hại phổ biến trên rau họ Hoa thập tự.
Kết hợp các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại nhất là việc sử dụng các
loài thiên địch tự nhiên của sâu hại trong đó có nhóm côn trùng bắt mồi, tránh hiện
tượng lạm dụng thuốc hóa học trên đồng ruộng. Có biện pháp bảo vệ tập hợp các loài
côn trùng bắt mồi nhằm phát triển số lượng và tăng cường vai trò hạn chế số lượng
sâu hại, rệp hại trên RAT. Cần hoàn thiện các kỹ thuật nhân nuôi và kỹ thuật thả các
loài côn trùng bắt mồi để phổ biến rộng rãi trong cả nước.

23



13.Viện Bảo vệ Thực vật, 1997. Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại Nông nghịêp
và thiên địch của chúng. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội: Tr 1-100
24


14.Ủy ban Khoa học Kỹ thuật, 1967. Quy trình và kỹ thuật sưu tầm, xử lý và bảo
quản côn trùng. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Hà Nội. Tr. 1-62.
Tiếng nước ngoài
15.Alam M.M., 1992. APM and other crucifer pest in Taiwan and Jamaica.
Proceeding of the second international Wordshop: 233-243.
16.Blackman, R.L., 1984. Aphids on the world Crops. A Wiley-Interscience
Publication: 1-446
19.De Back, P., 1974. Biological control by natural enemies. Cambrige Univ. Press:
22-25.
20.Fao, 1993. A global stractery for integrated pest management. Plant Prot. Bull.,
Vo.41:151-159.
21. Ha Quang Hung, 2002. Morphological, biological and ecological characteristics
of Dacnusa sibirica (Hym: Braconidae) parasitizing Liriomyza sativae
(Dip.:Agromyzidae) on vegartable and legumes in Hanoi redion. Proceedings
Biological control of crops pest, Hanoi: 13-18
22.Lane Greer, 2000. Sustainable Aphid Control . NCAT Agriculture specialist,
ATTRA Publication IP149/53: 23-27.
23.Morallo R.R. and Sayaboc A.S., 1992. Management of APM . Proceeding of the
second international Wordshop: 203-211.
24.Pham Van Lam, Nguyen Thi Nhung, Nguyen Kim Hoa, Nguyen Thanh Vinh and
Truong Thi Lan, 2003. Natural enemies of pests on legume vegetable crops in Ha
Noi area. Biological control and Integrated Pests Management (IPM) in
Vegetables in Vietnam. Proceedings Ha Noi, Vol.7: 121-130
25.Risk et al, 1995. Vegetable insect management. Meister Publishing Company
Willoughby, Ohio:1-201.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status