LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, em đã nhận
được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ
Bùi Minh Hồng – người thầy đã tận tình dẫn dắt, chỉ bảo và tạo những điều
kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh
luận văn này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong bộ
môn Động vật học, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã góp ý
và tạo điều kiện thuận lợi để em có thể thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn
của mình.
Cuối cùng, em xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên hết mình của các thầy
cô giáo, gia đình và bạn bè để em có thể hoàn thành một cách tốt nhất luận
văn này.
Hà Nội, tháng 7 năm 2014
Học viên
Hoàng Thị Hường
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 6
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.11. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
2
1.2.1. Mục đích
1.2.1. Mục đích
1.642.3. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ Ý NGHĨA KINH TẾ
10
2.4. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NHÃN VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NHÃN CỦA VIỆT NAM
12
12.75. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔN TRÙNG VÀ THIÊN ĐỊCH CỦA CHÚNG
13
12.75.1. Những nghiên cứu về côn trùng trên cây nhãn vải của các tác giả nước ngoài.
12.75.1. Những nghiên cứu về côn trùng trên cây nhãn vải của các tác giả nước ngoài.13
13
12.75.2. Những nghiên cứu về côn trùng hại nhãn vải của các tác giả trong nước.
12.75.2. Những nghiên cứu về côn trùng hại nhãn vải của các tác giả trong nước.15
15
PHẦN III:1.86. Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứuĐỐI TƯỢNG,
VẬT LIỆU 24
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
1.863.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
24
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
1.86.3.4.3. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu
1.86.3.4.3. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu25
25
1.863.4.4. Chỉ tiêu theo dõi và tính toán số liệu
1.863.4.4. Chỉ tiêu theo dõi và tính toán số liệu25
25
1.863.4.5. Phương pháp phân loại mẫu
1.863.4.5. Phương pháp phân loại mẫu26
26
1.86.3.4.6. Xử lý số liệu
1.86.3.4.6. Xử lý số liệu28
28
PHẦN IIV: NỘI DUNGKẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
Chương 1.Thành phần loài côn trùng 29
và nhện trên cây nhãn tại Kinh Môn, Hải Dương 29
Chương 2. Một số đặc điếm hình thái của các loài côn trùng 39
và nhện phổ biến tại khu vực nghiên cứu 39
2.1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CÁC LOÀI CÔN TRÙNG VÀ NHỆN GÂY HẠI.
43
43
2.1.5. Bọ trĩ vàng Scirtothrips dorsalis (Hood, 1919) (Thysanoptera : Thripidae)
2.1.5. Bọ trĩ vàng Scirtothrips dorsalis (Hood, 1919) (Thysanoptera : Thripidae)43
43
Rệp sáp tua Rastrococcus spinosus Robinson (Homoptera: Pseudococcidae):
Rệp sáp tua Rastrococcus spinosus Robinson (Homoptera: Pseudococcidae):44
44
2.1.6. Bướm phượng đen Papilio polytes (Linnaeus, 1758) (Lepidoptera : Papilionidae):
2.1.6. Bướm phượng đen Papilio polytes (Linnaeus, 1758) (Lepidoptera : Papilionidae):45
45
2.1.7. Xén tóc đục thân Nadezhdiella cantori (Hope, 1845) (Coleoptera: Cerambycidae)
2.1.7. Xén tóc đục thân Nadezhdiella cantori (Hope, 1845) (Coleoptera: Cerambycidae)46
46
2.1.8. Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis (Hendel, 1912) (Diptera: Tephritidae)
2.1.8. Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis (Hendel, 1912) (Diptera: Tephritidae)
52
2.2.1. Bọ rùa chữ nhân (Coccinella transversalis ( Fabricius, 1781)
2.2.1. Bọ rùa chữ nhân (Coccinella transversalis ( Fabricius, 1781)52
52
2.2.2. Bọ rùa tám chấm (Harmonia octomaculata (Fabricius, 1781)
2.2.2. Bọ rùa tám chấm (Harmonia octomaculata (Fabricius, 1781)53
53
2.2.3. Bọ rùa đỏ Micraspis discolor (Fabricius, 1798)
2.2.3. Bọ rùa đỏ Micraspis discolor (Fabricius, 1798)55
55
2.2.4. Bọ rùa sáu vằn (Menochilus sexmaculatus (Fabricius, 1781)
2.2.4. Bọ rùa sáu vằn (Menochilus sexmaculatus (Fabricius, 1781)57
57
2.2.5. Bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata (Swartz, 1808)
2.2.5. Bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata (Swartz, 1808)58
63
2.2.11. Kiến đen Dolichoderus thoracicus (Smith,1860)) ((Hymenoptera: Formicidae)
2.2.11. Kiến đen Dolichoderus thoracicus (Smith,1860)) ((Hymenoptera: Formicidae)65
65
Chương 3: Độ phong phú, đặc điểm phân bố và vai trò của 67
côn trùng và nhện trên cây nhãn tại huyện Kinh Môn, Hải Dương 67
3.1. BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG, NHỆN TRÊN CÂY NHÃN QUA CÁC ĐỢT NGHIÊN CỨU TẠI KINH MÔN, HẢI
DƯƠNG
67
Chương 3: Độ phong phú, đặc điểm phân bố và vai trò của 69
côn trùng và nhện trên cây nhãn tại huyện Kinh Môn, Hải Dương 69
3.1. BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG, NHỆN TRÊN CÂY NHÃN QUA CÁC ĐỢT NGHIÊN CỨU TẠI KINH MÔN, HẢI
DƯƠNG
69
3.2. VAI TRÒ CỦA CÔN TRÙNG VÀ NHỆN CÓ ÍCH TRÊN CÂY NHÃN VẢI TẠI KINH MÔN, HẢI DƯƠNG
75
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.3 Hàm lượng dinh dưỡng trong 100g cùi nhãn 11
Bảng 1.1. Thành phần loài côn trùng, nhện trên Nhãn 30
tại Kinh Môn, Hải Dương 30
Bảng 1.2. Số lượng và tỷ lệ họ của các bộ côn trùng 32
và nhện trên Nhãn tại Kinh Môn, Hải Dương 32
Hường, 2014) 51
Hình 2.1.11. Nhện lông hung nhãn E. dimocarpi gây hại 51
Hình 2.2.1. Bọ rùa chữ nhân (C. transversalis) [68] 53
Hình 2.2.2 . Bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata)[77] 55
Hình 2.2.3. Trưởng thành bọ rùa đỏ (M. discolor) [65] 56
Hình 2.2.5. Trưởng thành 2 mảng đỏ (L. biplagiata) 59
Hình 2.2.6. Ruồi ăn rệp Syrphus ribesii Linne [69] 61
Hình 2.2.7. Ruồi Episyrphus balteatus De Geer[70] 62
Hình 2.2.8. Nhện linh miêu Oxyopes sp [66] 63
Hình 2.2.9. Nhện sói Lycosa pseudoanulata [68] 63
Hình 2.2.10. Kiến vàng Oecophylla smaragdina [78] 64
Hình 2.2.11. Kiến đen Dolichoderus thoracicus [79] 66
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.11. Đặt vấn đề
Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour) thuộc họ bồ hòn (sapindaceae)
là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao đã và đang được phát triển ở hầu hết các
tỉnh trong nước. Cây nhãn đã góp phần quan trọng trong việc phát triển
nông nghiệp nông thôn, đặc biệt các tỉnh trung du và miền núi phía bắc.
Ngoài việc sử dụng để ăn tươi, chế biến đồ hộp, sấy khô làm long,
nhãn còn là một vị thuốc quý được sử dụng trong các bài thuốc đông y cổ
truyền ở các nước vùng á đông như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt
Nam Kết quả phân tích cho thấy trong quả nhãn chứa nhiều chất dinh
dưỡng có giá trị như: Protein, Chất béo, các chất khoáng(Ca, Fe, P, K) và
vitamin(C, B1, B2) rất cần thiết cho sức khỏe con người.
Nhãn ăn tươi cũng như sản phẩm chế biến là những mặt hàng có giá trị
trong nước và xuất khẩu [3287], [4543], [4654].
Nhãn còn là cây cung cấp nguồn mật quan trọng có giá trị dinh dưỡng,
giá trị y học cao. Gỗ nhãn được dùng đóng các đồ gỗ gia dụng có độ bền, chất
lượng thẩm mỹ khá tốt.
Trên thế giới nhãn được trồng ở một số nước như: Mỹ, Braxin, Trinidat,
- Vai trò và ý nghĩa của một số loài thiên địch trên cây nhãn.
1.33. Nội dung đề tài
- Nghiên cứu thành phần loài côn trùng và nhện có trên cây nhãn và
biến động về số lượng của chúng.
- Mô tả một số đặc điểm hình thái của các loài côn trùng và nhện phổ biến.
Điều tra sự biến động về số lượng của các loài côn trùng và nhện tại
khu vực nghiên cứu. Tìm hiểu độ phong phú và đặc điểm phân bố của côn
trùng và nhện trên cây nhãn tại địa điểm nghiên cứu
Xác định vai trò của một số loài côn trùng và nhện trên nhãn tại địa điểm
nghiên cứu.
.
2
1.4.PHẦN IITổng quan tài liệu: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.42.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kinh Môn, Hải Dương.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Huyện Kinh Môn nằm ở phần lãnh thổ phía Đông của tỉnh Hải Dương
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng,
phía Tây nam giáp huyện Kim Thành, phía Tây Bắc giáp huyện Nam Sách và
Chí Linh của Tỉnh Hải Dương.
Huyện nằm kề bên 2 tuyến đường quốc lộ 5A và 18 là 2 tuyến giao
thông quan trọng của quốc gia và vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc. Huyện
được bao bọc và chia cắt bởi 4 con sông lớn (sông Kinh Môn, sông Kinh
Thầy, sông Đá Vách, sông Hàn Mấu).
Nhìn chung vị trí địa lý của huyện khá lý tưởng: cách Hà nội Nội
khoảng 80 km, nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Bbắc, lại nằm kế bên 2
trung tâm kinh tế lớn là Quảng Nninh và Hải phòng, giao thông thuỷ bộ tương
đối thuận lợi nên có điều kiện giao lưu kinh tế với bên ngoài và đón nhận các cơ
hội đầu tư.
+ Địa hình: Huyện có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, nhiều sông
ngòi chia cắt nên nơi cao, nơi thấp. Hiện còn khoảng 300 ha đất canh tác ven đồi
hơn 15.000 ha rừng đặc dụng đã bắt đầu khép tán.
+ Tài nguyên khoáng sản: Đá vôi: Trữ lượng khoảng 300 - 400 triệu
tấn trong đó khoảng 200 triệu tấn chất lượng tốt (hàm lượng CaCO
3
đạt 90 -
97%) có thể khai thác làm xi măng, số còn lại làm vôi và đá xây dựng.
Cao lanh trữ lượng khoảng 40.000 tấn, bô xít 20 vạn tấn. Đất sét và đá
phiến sét trữ lượng hàngạng chục triệu tấn khai thác phục vụ cho sản xuất xi
măng, ngoài ra còn hàng triệu m
3
cát ở các dòng sông.
Tiềm năng khoáng sản của huyện khá phong phú đặc biệt là vật liệu
xây dựng là ưu thế lớn của huyện làm tiền cho để phát triển công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, xây dựng nhất là sản xuất vật liệu xây dựng (đá, xi măng, cát).
4
+ Tài nguyên nhân văn: Kinh Môn có nhiều danh lam thắng cảnh và di
tích lịch sử được xếp hạng quốc gia như đến An Phụ, Động Kính Chủ, Động
Hàm Long, Tâm Long, Đình Huề Trì, Đình Ngư Uyên. Hàng năm thu hút
hàng chục vạn du khách thập phương thăm viếng.
Nhìn chung vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên của Kinh Môn rất thuận
lợi cho phát triển kinh tế toàn diện. Song do địa hình bị chia cắt bởi sông
ngòi, đồi núi nên cần 1 lượng vốn đầu tư ban đầu khá lớn để làm đường, làm
cầu, trạm bơm tưới, tiêu [73]
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội và dân cư.
Kinh Môn có diện tích tự nhiên: 16.326,31ha, trong đó diện tích đất
nông nghiệp 8.929,4 ha (chiếm 54,7%); đất lâm nghiệp 9,4%; đất chuyên
dùng 16,0%; đất chưa sử dụng và đất sông suối, núi đá 12,8%; có mật độ dân
số cao, so với mật độ bình quân của các huyện miền núi cả nước (1.003
người/km
2
đàn bò gần 4.000 con trong đó 60% là bò lai sin, đàn gia cầm khoảng 80 vạn
con, diện tích nuôi thuỷ sản 450 ha xu hướng nuôi lợn, gia cầm, thả cá, trồng
cây ăn quả theo mô hình kinh tế trang trại ngày càng phát triển. Phong trào
nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao phát triển nhanh như nuôi Ba Ba toàn
huyện đã có 462 hộ nuôi. Diện tích cây ăn quả 1100 ha trong đó vải 270 ha,
nhãn 165 ha.
Bước đầu hình thành 4 vùng sản xuất hàng hoá tập trung: Khu nam An
phụ là gạo tẻ, hành tỏi, bò, khu Tam lưu gạo nếp hoa vàng, cá tôm, rau, thịt
lợn, khu Bắc An phụ gạo tẻ, gạo nếp, thịt gia cầm, bò, cây ăn quả, khu đảo
rau, cây cảnh, thuỷ sản, dê
* Sản xuất công nghiệp :
Tốc độ tăng trưởng (KV huyện quản lý) năm 2001 tăng 15,11%, năm
2002 tăng 31,9%, năm 2003 ước tăng 28%.
Giá trị sản xuất :
6
Trên địa bàn năm 2002 đạt 2.134.226 triệu đồng (giá cố định đạt
2.318.228 triệu đồng) chiếm 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh
Hải Dương. Với những sản phẩm chính xi măng 2,5 triệu tấn, đá xây dựng 1,5
triệu m
3
.
Khu vực huyện quản lý năm 2002 đạt 142.678 triệu đồng (giá cố định
115.628 triệu đồng). Năm 2003 ước đạt 183.000 triệu đồng (giá cố định
148.000 triệu đồng) với những sản phẩm chính như xi măng 14 vạn tấn, đá
xây dựng 245.000m
3
m3, vôi, gạch nung, quặng si líc
* Xây dựng :
Hàng năm huyện đầu tư hơn 100 tỷ đồng vào lĩnh vực xây dựng cơ bản
từ nguồn vốn ngân sách tỉnh cấp, huyện tiết kiệm chuẩn bị thường xuyên
Đời vũ hán cách đây 2000 năm đã có sách ghi về cây nhãn. Nhưng cây
nhãn dại được tìm thấy ở đảo Hải Nam trong vùng rừng mưa ẩm (zhong,
1983) [29376]. Một số tác giả khác đưa lại đưa ra nhận định rằng nguồn gốc
cây nhãn là ở những vùng đất thấp thuộc Srilanca, phía nam Ấn Độ, Miến
Điện và Trung Quốc. Hiện nay, cây nhãn được trồng nhiều trên những vùng
đất đồng bằng cho đến những vùng đất có độ cao trên 1000m so với mặt nước
biển, từ Miến Điện đến Lào và Thái Lan Trong số các nước trồng nhãn hàng
hoá trên thế giới, Trung Quốc vẫn được xem như là quê hương của cây nhãn.
Đồng thời Trung Quốc cũng là nước có diện tích và sản lượng nhãn đứng
hàng đầu trên thế giới [1109], [4654]. Vùng trồng nhãn chủ lực là các tỉnh
Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây [2565], [29376].
Trên thế giới Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều nhãn nhất, diện tích
trồng nhãn năm 1995 là 80 000 ha. Nhãn trồng tập chung ở các tỉnh Phúc
Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu và Hải
8
Nam Trong đó Phúc Kiến là nơi trồng nhiều nhất và lâu đời nhất, chiếm
khoảng 48.7% diện tích cả nước. Năm 1997 ở tỉnh Phúc Kiến đã có diện tích
trồng nhãn là 11.300ha và sản lượng năm cao nhất là 50.7 ngàn tấn [12113],
[2121], [5275]. Ở nơi này còn tồn tại nhiều cây nhãn trên 100 năm, đặc biệt
có những cây trên 380 năm tuổi. Tỉnh Quảng Tây nhãn được trồng dọc theo
hai bề ngang tới 30km, tỉnh Quảng Đông, nhãn được trồng tập chung ở vùng
đồng bằng Châu Giang [2121].
Ở Thái Lan, diện tích trồng nhãn đạt 31.855ha, sản lượng đạt tới
87.000 tấn. Vùng nhãn lớn nhất của Thái Lan tập chung ở miền Bắc và
Đông Bắc, nổi tiếng nhất là vùng Chiềng Mai và Lăm Phun. Sau thế kỷ 19
nhãn được nhập vào trồng ở các nước Âu Mỹ, Châu Phi, Ôxtrâylia, vùng
nhiệt đới và Á nhiệt đới [40
39
thành phần dinh dưỡng trong quả nhãn cho thấy: đường tổng thế: 12,38 –
22,55%, trong đó đường glucoza 3,85 – 10,16%, axít tổng số 0,096 – 0,109%,
Vitamin C: 42,12 163,70mg/100g cùi quả, Vitamin K 196,5mg/100g [43],
[76].
Theo thông tin từ trung tâm quốc tế USDA thì hàm lượng dinh dưỡng
trong 100g cùi nhãn.
10
Bảng 2.3 Hàm lượng dinh dưỡng trong 100g cùi nhãn.
Thành phần Giá trị Thành phần Giá trị
Nước 83% Ca 1.0 mg
Năng lượng 60 kcal Fe 0.13 mg
Protein 1.3 g Mg 10.0 mg
Chất béo 0.1 g P 21.0 mg
Cholesterol 0 mg K 266.0 mg
Chất khô 15.1 g Sodium 0.0 mg
Chất Xơ 1.1 g Vitamin C 84.0 mg
(Nguồn: Trung tâm dinh dưỡng quốc tế USDA)
Như vậy ở quả nhãn ngoài các chất khoáng Ca, Fe, P, K, Na thì độ
đường, Vitamin C và K khá cao là các chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sức
khỏe của con người, thích hợp với ăn tươi. Nhãn tươi và nhãn chế biến là mặt
hàng giá trị có thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước [Trần Thế Tục, 2004].
Trong những năm gần đây nhãn là cây ăn quả được nhiều địa phương
quan tâm, một mặt mở rộng diện tích mặt khác chú ý thâm canh. Nhãn được
coi là cây trồng quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông
nghiệp ở các tỉnh đồng bằng cũng như ở trung du và miền núi. Nhiều tỉnh
đang có kế hoạch mở rộng diện tích trồng nhãn như Hưng Yên, Hà Tây, Hòa
Bình, Yên Bái, Sơn La, và phía Nam ở các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng
Tháp, Sóc Trăng
Ngoài ăn tươi nhãn còn được sấy khô (long nhãn) làm thuốc bổ, thuốc
an thần điều trị chứng suy nhược thần kinh, sút kém trí nhớ, mất ngủ hay
lượng đạt khoảng 54.100 tấn. Mặc dù diện tích và sản lượng nhãn của miền
Bắc có tăng, đặc biệt là các tỉnh miền núi như Sơn La, Lào Cai tuy nhiên năng
suất và chất lượng giống chưa có sự cải thiện tương xứng do việc áp dụng các
biện pháp kỹ thuật thâm canh hay các biện pháp tác động cơ giới và hóa học
nói chung còn nhiều hạn chế.
12
Ở miền Nam, diện tích trồng và sản lượng của nhãn cao hơn nhiều so
với miền Bắc. Và có thể nói nhãn được trồng tập chung chủ yếu ở các tỉnh
phía Nam. Theo số liệu thống kê năm 2005, miền Nam có diện tích trồng
nhãn là 73.700ha với sản lượng đạt 493.300 tấn. Trong đó, diện tích trồng
nhãn lớn nhất tập chung chủ yếu ở Đồng Bằng sông Cửu Long và vùng miền
Đông Nam Bộ. Tính đến năm 2005 diện tích trồng nhãn của vùng ĐBSCL đạt
47.700ha với sản lượng 413.300 tấn. Trong đó, 3 tỉnh có diện tích lớn nhất là
Vĩnh Long(16.700ha) sản lượng đạt khoảng 100.900 tấn, Bến Tre(10.200ha)
sản lượng đạt 112.400 tấn, Tiền Giang (9.800ha) sản lượng104.300 tấn.Tại
vùng Đông Nam Bộ diện tích trồng nhãn đạt 24.800ha, tập chung ở các tỉnh
Bình Phước(7.600ha), Tây Ninh (3.600), Đồng Nai (4.900ha) [243].
Ở Việt Nam việc trồng nhãn mới đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ quả
tươi trong nước. Một số sản phẩm nhãn sấy khô cũng được bán ra nước ngoài
chủ yếu là Trung Quốc bằng con đường tiểu ngạch. Theo Sở Nông Nông
Nghiệp và phát triển Nông Thôn tỉnh Hưng Yên (1998), các sản phẩm nhãn
được tiêu thụ chính là: chế biến đồ hộp 5%, sấy khô 45%, nhãn dùng để ăn
tươi 50%.Vào thời kỳ thu hoạch với việc tiêu thụ nhãn tươi là chủ yếu, các
sản phẩm thường bị ứ đọng đặc biệt những năm mất mùa, nhãn thu hoạch rầm
rộ, nhãn nhiều giá giẻ các chủ trang trại thường bị các lái buôn ép giá, có năm
xuống đến 7000 – 8 000đồng/kg.
Như vậy, vấn đề quan trọng cho người trồng nhãn là có công nghệ bảo
quản mới, kéo dài thời gian thu hoạch nhờ vào việc chọn tạo được bộ giống
tốt có thời gian chín khác nhau và phẩm chất tốt cũng như việc áp dụng các
tiến bộ KHKT vào việc làm nhãn trái vụ khi đó nhãn được tiêu thụ dễ dàng
Anastatus Japonicus Ashmaed để trừ bọ xít nhãn vải, hiệu lực phòng trừ đạt
94% [487].
14
Năm 1998 Randahawa H.S và Gill R.S đã nghiên cứu về loài sâu đục hạt
vải Blastobasis sp. (Lepidoptera Blastobasidae).
Năm 1998 Liu Yu Fang và cộng sự nghiên cứu và so sánh mức độ ký sinh
của 2 loài ong Anastatus sp. và Ooencyrtus sp. trên 2 vườn vải, 1 có sử dụng
thuốc trừ sâu hoá học, 1 vườn áp dụng biện pháp điều khiển dịch hại tổng hợp
IPM , kết quả tỷ lệ ký sinh của của vườn sử dụng thuốc hoá học chỉ thấy ong
Anastatus sp. xuất hiện với tỷ lệ rất thấp, không thấy ong ký sinh Ooencyrtus
sp. trong khi vườn áp dụng IPM, tỷ lệ ký sinh của ong Anastatus sp. là 17,7 – 18,4%,
ong Ooencyrtus sp. là 23,5 – 30,4%.
Năm 1998, Luo Qi Hao và cộng sự đi sâu nghiên cứu loài bướm đêm
chích hút quả vải Comocritis albicapilla Morinti, đây là một trong các loài
sâu hại quan trọng [520].
Năm 1999, Tan Shi Dong và cộng tác viên đã điều tra phát hiện được 83
loài sâu hại trên cây vải thuộc 76 giống, 30 họ, 7 bộ, trong đó có 14 loài quan
trọng nhất [5049].
Năm 1999, Yang Chi Kun và cộng sự đã nghiên cứu về loài ruồi hại vải
thuộc giống Oligotrophini ở Quảng Đông, Trung Quốc [476].
12.75.2. Những nghiên cứu về côn trùng hại nhãn vải của các tác giả trong
nước.
Điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta rất thuận lợi cho sự phát triển
của côn trùng. Trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học
Việt Nam đi sâu nghiên cứu về hệ côn trùng phong phú và đa dạng đó.
Năm 1967–1968, Viện BVTV đã điều tra thu thập được 18 loài sâu hại
nhãn vải là: bọ dừa nâu, bọ dừa nâu nhỏ, sâu tiện vỏ, xén tóc mai rùa, rệp sáp
cạnh, rệp sáp đỏ, rệp sáp nâu mềm, bọ xít vằn, sâu cuốn lá, rệp sáp Ai Cập,
15
rệp sáp lớn giả cam, rệp sáp hình bán cầu, ve sầu bướm, bọ đa lớn hai chấm
xít hại nhãn vải, rệp muội, sâu đục quả và ngài chích hút. Ngoài ra còn ghi
nhận được một số đối tượng khác là dơi và chuột.
Năm 2001, chi cục BVTV tỉnh Bắc Giang đã ghi nhận được 17 loài sâu
hại tại Bắc Giang chủ yếu là ve sầu nhảy, bọ xít nhãn vải và nhện lông nhung.
Năm 2003, đã có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng trên cây nhãn
vải:.
Phạm Văn Lầm và Nguyễn Thành Vĩnh dẫn liệu bước đầu về đặc điểm
sinh học cơ bản của ong đen Ooencyrtus phongi Trjap ký sinh trứng bọ xít
nhãn vải cho thấy: ở nhiệt độ 28,4 – 31,1°C và độ ẩm 74,2 – 79,6%,
Ooencyrtus phongi ký sinh trứng bọ xít nhãn vải hoàn thành vòng đời trong
thời gian trung bình từ 12,8 – 13,5 ngày. Tuổi thọ của ong trưởng thành kéo
dài 2,3 – 2,6 ngày (không được ăn thêm lá hoặc chỉ uống nước lã) đến
6,9 – 11,3 ngày (được ăn thêm nước đường hoặc dung dịch mật ong 50%).
Một con ong trưởng thành cái ký sinh trung bình được 12,2 trứng bọ xít
T.papillosa và sản sinh trung bình 136 ong trưởng thành cho đời sau [20].
Cũng trong năm 2003, Phạm Đình Sắc nghiên cứu cấu trúc loài nhện bắt
mồi và biến động số lượng của một số loài phổ biến trên cây vải vùng Sóc
Sơn Hà Nội đã xác định được 33 loài nhện bắt mồi thuộc 10 họ, trong đó họ
nhện nhảy Salticidae có số loài cao nhất (9 loài), tiếp đến là họ bụng tròn
chăng lưới Araneidae (7 loài), họ nhện hàm dài Tetragnathidae (6 loài), họ
nhện càng cua Thomicidae (3 loài), các họ còn lại 1 – 2 loài. Những loài bắt
gặp nhiều và chiếm ưu thế trên vườn vải tại Sóc Sơn là nhện nhảy sọc đỏ
Epocilla canlcarata, nhện nhảy vằn xanh Phintella sp., nhện càng cua lớn
Heteropoda sp Số loài nhện đã xác định dược trên cây vải tại Sóc Sơn Hà Nội
phong phú hơn số loài nhện trên cây vải tại vùng Mê Linh Vĩnh Phúc [30298].
17
Năm 2003, Đào Đăng Tựu, Lê Văn Trịnh và Trần Huy Thọ đã điều tra thu
thập được 51 loài sâu và nhện hại trong đó có 46 loài tập trung ở 6 bộ côn
trùng và 5 loài ở lớp nhện. Bộ cánh vẩy Lepidoptera có nhiều nhất là 8 loài