Nghiên cứu thành phần ký sinh trùng ký sinh trên cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1970) nuôi tại Khánh Hòa - Pdf 26

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
______________

BÁO CÁO TÓM TẮT

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN KÝ SINH TRÙNG KÝ SINH TRÊN CÁ
CHẼM (Lates calcarifer Bloch, 1790) NUÔI TẠI KHÁNH HÒA

Luận văn tốt nghiệp
Chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản, Khóa 2003 – 2008
Sinh viên thực hiện:
SVTH : BÙI THỊ HUYỀN
LỚP : 45 NT2
MSSV : 45DN059
Giáo viên hướng dẫn:
TS. ĐỖ THỊ HÒA

3LỜI MỞ ĐẦU.

Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá biển phát triển mạnh, góp phần vào sự phát
triển nuôi trồng thủy sản ở nước ta. Mục tiêu của Bộ thủy sản đến năm 2010 sản lượng
nuôi cá biển đạt 200.000 tấn, đối tượng nuôi chủ yếu là cá giò (Ratrycentron canadum),
cá hồng (Lutjanus spp), cá mú (Epinephenus spp), cá chẽm (Lates calcarifer). [16]
Cá chẽm (L. cacalrifer) là một loài có giá trị kinh tế cao, có tốc độ sinh trưởng nhanh,
thịt thơm ngon có thể nuôi ở các thủy vực nước ngọt, nước lợ và nược mặn, là đối tượng
nuôi quan trọng. Từ năm 2005, khi công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá chẽm đã hoàn
thiện, đối tượng này được nuôi khá phổ biến ở nước ta ở các ao nuôi ven biển hay nuôi
lồng tập trung ở các tỉnh Khánh Hòa, Quảng Ninh, Phú Yên, Hải Phòng…đã mang lại lợi
nhuận cho người nuôi.
Tuy vậy, sự phát triển của nghề nuôi cá biển ở nước ta nói chung còn gặp nhiều khó
khăn về giống, thức ăn đặc biệt là vấn đề bệnh. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên
cứu về bệnh ở cá nước ngọt, bệnh ở tôm nuôi nước mặn, nhưng các nghiên cứu về bệnh
trên cá biển gần như còn bỏ ngỏ. Cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về
bệnh trên cá biển có ý nghĩa trong thực tiễn được công bố, đặc biệt ở cá chẽm. Do vậy
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Huyền
5PHẦN 1: TỔNG LUẬN.
1. Một số đặc điểm sinh học của cá chẽm (Lates calcarifer)
1.1. Hệ thống phân loại.
Theo Nguyễn Nhật Thi, 1991 [11], hệ thống phân loại cá chẽm.
Ngành động vật có xương sống: Vertebrata
Lớp cá xương : Osteichthyes
Bộ cá vược : Perciformes
Họ cá sơn biển : Centropomidae
Giống cá chẽm : Lates
Loài cá chẽm : L. calcarifer (Bloch, 1970).
Tên tiếng Việt: Cá chẽm, cá vược.
Tên tiếng Anh: Barramundi, White Seabass, Giant Perch
1.2. Đặc điểm hình thái.
Cá chẽm có thân dài, dẹp, cuống đuôi khuyết sâu. Đầu nhọn, nhìn bên lõm phía lưng

1976). Anon, 1975 cho rằng cá có khối lượng 12 kg cho 7,5 triệu trứng, cá 19,5 kg cho
8,5 triệu trứng và cá 22 kg cho 17 triệu trứng. [7], [11]
2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá.
2.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thể giới.
2.2.1. Tình hình chung.
Nghiên cứu ký sinh trùng được bắt đầu từ thời Linnae (1707 – 1778) [1], nhưng phải
đến năm 1929 khi nhà ký sinh trùng học người Nga – Dolgiel đưa ra cuốn “ phương pháp
nghiên cứu ký sinh trùng trên cá”, đã mở ra một hướng phát triển mới cho nghiên cứu về
khu hệ ký sinh trùng trên cá và các loại bệnh do ký sinh trùng gây ra.[4]
Từ năm 1929 – 1970, hàng loạt công trình nghiên cứu về ký sinh trùng kí sinh ở cá
nước ngọt và nước mặn công bố ở nhiều quốc gia trên thế giới.[4]
Năm 1932 – 1935, Afred L. Buschkiel đã phát hiện ra một loài trùng đơn bào
(Ichthyophthyrius multifilius) kí sinh trên một số loài cá nước ngọt ở Indonesia .[ 1]
Trong khoảng thời gian 1959 – 1973, nhà ký sinh trùng học nổi tiếng người Nga là
A.M Purakhin đã tiến hành nghiên cứu về ký sinh trùng trên cá mú và một số loài cá biển
7

ở Đông Nam Á. Kết quả phát hiện được 20 loài giun sán kí sinh trong hệ thống tiêu hóa
của cá.[14].
Năm 1962, Bychowsky và ctv đã xuất bản cuốn sách “Bảng phân loại ký sinh trùng
của cá nước ngọt Liên Xô”, cuốn sách phân loại được 1211 loài KST của khu hệ cá nước
ngọt Liên Xô [1]. Năm 1984 – 1987, Bauer, Schulman, Gussev tái bản cuốn sách và bổ
sung gần 2000 loài KST của 233 loài thuộc 25 họ cá nước ngọt Liên Xô.[15]
Năm 1965, I.Lan Parperna người Ấn Độ đã công bố 116 loài KST trên các loài cá
nước ngọt. Bao gồm 20 loài sán đơn chủ , 13 loài sán song chủ, 43 dạng ấu trùng, 7 loài
sán dây ở giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, 1 loài giun móc, 1 loài đỉa, 1 loài móc lông
và 6 loài giáp xác kí sinh.[12]
Năm 1973, Chen Chih-Leu đã kiểm tra 50 loài cá nước ngọt tỉnh Hồ Bắc. Kết quả tìm
thấy 375 loài KST, bao gồm: 159 loài động vật đơn bào (Protozoa), 116 loài sán đơn chủ
(Monogenea), 10 loài sán dây (Cestoda), 33 loài sán song chủ (Digenea), 21 loài giun

loài Cestoda, 1 loài Acanthocephala, 1 loài Copepoda. Trong đó loài
Pseudorhadosynochus epinepheni là gặp nhiều nhất.[19]
Năm 1997, Arthur J.R và S. Lumanlan – May khi tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng cá
ở Philippine đã điều tra và xác định được 201 loài KST ở 172 loài cá gồm: 1 loài
Apicomplexa, 16 loài Ciliophora, 2 loài Mastigophora, 1 loài Microspora, 9 loài
Myxozoa, 90 loài Trematoda, 22 loài Monogenea, 6 loài Cestoda, 20 loài Nematoda, 5
loài Acanthocephala, 1 loài Mollusca, 2 loài Branchiura, 21 loài Copepoda và 5 loài
Isopoda. [1]
Năm 2002, Fris Jonhny và Des Raza cho rằng trong quá trình sản xuất giống, cá bố mẹ
thường bị nhiễm bệnh ký sinh trùng gây ra bởi Trichodina, Monogenea, Caligus,
Rhexanella, Glugeosis, Scuticociliata, Nematoda, Cestoda, Hirudenia. Cá bị nhiễm bệnh
có biểu hiện đục mắt, tiết nhiều dịch nhày trên bề mặt cơ thể và bỏ ăn. [ 14]
Nhìn chung ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về khu hệ ký sinh trùng kí sinh
trên cá và bệnh do chúng gây ra. Cho đến nay đã xác định được khoảng hơn 10.000 loài
ký sinh trùng kí sinh trên các loài cá sống ở nước ngọt, nước lợ và nước mặn.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chẽm.
9

Nghề nuôi cá chẽm được hình thành từ thập kỷ 70 ở Songkhla Marine Laboratories –
Thái Lan. Và được nhân rộng khắp các nước Châu Á (Trung Quốc, Đài Loan, Sigapore,
Malaysia ), đóng góp phần không nhỏ vào sản lượng cá biển thế giới. Theo thống kê của
FAO (2006), tính riêng tổng sản lượng cá Vược nuôi của thế giới năm 2004 đạt 22.989
tấn, tăng 37,4% so với năm 1990 [8]. Đi cùng với việc mở rộng diện tích nuôi, tăng sản
lượng đó vấn đề về bệnh cũng được quan tâm nghiên cứu. Đã có công trình nghiên cứu
trên thế giới về bệnh , khu hệ KST và bệnh do KST gây ra trên cá chẽm.
Carmen C.Valasquez, 1958 khi kiểm tra cá chẽm nuôi nước mặn ở Malabon,tỉnh
Rizal, Philippine. Kết quả tìm thấy 1 loài Transversotrema laruei (Digenea), giai đoạn ấu
trùng Metacecaria kí sinh trong cơ và ruột.[17]
Yamaguti, 1963 cho biết Neobenedenea melleni là một loài phổ biến kí sinh trên da và
là tác nhân gây bệnh nguy hiểm cho nhiều loài cá tự nhiên.Trong báo cáo đầu tiên về tác

(Monogenea) kí sinh trên mang cá chẽm. Bao gồm: Pseudodorhabdosynochus latesi, P.
monosquamodiscus và 2 loài khác thuộc giống Diplectanum. [14]
1997, Leong và Wong cho rằng nguyên sinh động vật là tác nhân gây bệnh chậm lớn ở
cá chẽm.[ 10]
2.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam.
2.2.1. Tình hình chung.
Ở nước ta trước những năm 1960, lĩnh vực bệnh học thủy sản chưa được quan tâm
nghiên cứu. Nhưng từ những năm 1960 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về
bệnh động vật thủy sản nói chung, khu hệ ký sinh trùng và bệnh do ký sinh trùng gây ra ở
cá nói riêng.
Từ năm 1959 – 1961, một số nhà khoa học người Nga đã nghiên cứu ký sinh trùng
trên cá ở vịnh Bắc Bộ. Kết quả phát hiện hơn 90 loài KST trong đó có nhiều giống loài
mới. [ 14]
Có thể nói người nghiên cứu đầu tiên có quy mô và đầy đủ nhất về ký sinh trùng cá ở
Việt Nam là PGS Hà Ký. Từ năm 1960 – 1978, ông đã tiến hành điều tra ký sinh trùng
của 16 loài cá nước ngọt miền bắc Việt Nam. Kết quả phát hiện 120 loài KST trong đó có
42 loài mới, 1 giống mới, 1 họ phụ mới đối với khoa học.[ 4]
11

Năm 1976, Nguyễn Thị Muội và ctv đã nghiên cứu giun đầu gai trên cá thuộc vùng
đồng bằng Bắc Bộ, bước đầu phân loại được 9 loài KST trên 12 loài cá.[ 1]
Năm 1978 – 1980, Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa tiến hành điều tra ký sinh trùng
trên một số loài cá biển tại Khánh Hòa. Kết quả phát hiện 80 loài KST kí sinh trên cá
biển.[ 4]
Năm 1980 – 1985, Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa nghiên cứu “ Khu hệ ký sinh
trùng kí sinh ở 20 loài cá nước ngọt ở miền Trung và Tây Nguyên”, đã tìm được 57 loài
KST, bao gồm 15 loài Monogenea, 13 loài Protozoa, 11 loài Nematoda, 7 loài Crustacea,
5 loài Cestoda, 3 loài Nematoda, 3 loài Acanthocephala. [1]
Năm 1988 – 1989 Sey và F. Moravec người Tiệp Khắc và Hungari đã nghiên cứu sán
lá, giun tròn, giun đầu móc ở một số loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam. [15]

trên một số loài cá mú đang nuôi và khai thác tại vùng biển Khánh Hòa”. Kết quả tìm thấy
16 loài ký KST, trong đó 14 loài thuộc 14 giống, 12 họ, 9 bộ, 7 lớp. Ngoài ra còn 2 mẫu
chưa phân loại được đến loài.[14 ]
Nguyễn Thị Muội 1980 và Đỗ Thị Hòa 2002 đã phát hiện Benedenia epinepheli ký
sinh trên cá mú nuôi ở Khánh Hòa. Ngoài ra trên một số loài cá biển tự nhiên cũng có thể
gặp loại KST này kí sinh với các thành phần giống loài khác nhau.[4]
Kết quả nghiên cứu do Nguyễn Ngọc Diễm (2002) thực hiện trên cá mú giống
(Epinephelus sp) đã tìm ra 7 loài KST thuộc 3 lớp. Trong đó 1 loài thuộc Ciliata, 2 loài
thuộc Crustacae và 2 mẫu chưa phân loại đến loài.[2]
Năm 2006, luận văn thạc sĩ của Phan Văn Út “ nghiên cứu bệnh do sán lá đơn chủ
(Monogenea) kí sinh trên một số loài cá biển nuôi tại Khánh Hòa”, cho biết bệnh mè ở cá
mú và cá hồng do 1 số loài KST thuộc 2 giống Benedenia và Neobenedenia kí sinh ở da,
vây với tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm cao gây ra.Trong đó có 2 loài KST tìm thấy có tính
chất kí sinh đặc thù B. epinepheli kí sinh gây bệnh ở cá mú, N. lutjalus kí sinh gây bệnh ở
cá hồng. Bệnh sưng mang ở cá mú và cá hồng do một số loài KST thuộc 3 giống
Pseudorhabdosynochus, Diplectanum và Ancyrocephalus kí sinh ở mang với tỉ lệ cảm
nhiễm cao gây ra.Trong đó 1 loài có tính ch ất kí sinh đặc th ù là P. epinepheli .[ 14]
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chẽm ở Việt Nam.
13

Nghề nuôi cá biển nói chung, cá chẽm nói riêng trong những năm gần đây phát triển
mạnh. Tuy nhiên lĩnh vực nghiên cứu bệnh trên cá chẽm vẫn còn bỏ ngỏ.
Tại trại thực nghiệm hải sản trường đại học Thủy sản, trong năm 2001 cá chẽm
(L.calcarifer) bố mẹ bị chết rải rác. Khi kiểm tra mang cá đã phát hiện ký sinh trùng
Pseudorhabdosynochus latesi cảm nhiễm với cường độ cao 50 – 60 con / tơ mang (Đỗ
Thị Hòa). [4]
Năm 2003, đề tài tốt nghiệp “ Nghiên cứu thành phần giống loài kí sinh trên một số
loài cá biển tại Khánh Hòa” của Mai Đăng Nhân, đã phát hiện 16 loài KST thuộc 8 giống,
6 lớp, 5 bộ. Trong đó kiểm tra 8 con cá chẽm (L. calcarifer) đã xác định được 5 loài KST
gồm: 1 loài Monogenea, 1 loài Trematoda, 3 loài Nematoda.[ 9]

hại lớn cho các cơ sở ương nuôi cá giống. Tại Đồng Tháp, một ao ương có 360.000 con cá
Tra hương khi đàn cá nhiễm bệnh chỉ sau 2 ngày đã chết 200.000 con. Một ao nuôi khác
đang nuôi 210.000 con cá Tra giống cỡ 10 – 12 cm, đàn cá bị bệnh trùng bánh xe ở mang
chỉ 48 giờ sau khi phát hiện bệnh đã chết hơn 200.000 con.[ 4]
 Phòng trị bệnh: biện pháp tốt nhất là vệ sinh ao hồ ương cá thật kỹ trước khi thả giống,
thực tế cho thấy những nơi dùng phân tươi thường hay phát sinh bệnh ( Đỗ Thị Hòa,
2004). Mật độ cá thả không nên quá dày. Theo Hà Ký (1963), mật độ thả quá dày thì
cường độ cảm nhiễm trùng bánh xe của cá sẽ tăng gấp 4 – 12 lần.
Dùng muối NaCl 2 – 3 % tắm cho cá trong 5 – 15 phút, dùng CuSO
4
tắm cho cá 5 –
15 phút hoặc phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,5 – 0,7 ppm.
3.2. Bệnh do sán lá đơn chủ (Monogenea).
Monogenea có khoảng 1500 loài, hầu hết giống đều là KST ngoại kí sinh. Monogenea
có cơ quan bám rất phát triển, phía trước cơ thể có các giác bám hút, phía sau cơ thể có
đĩa bám lớn. Có thể cắm sâu và phá hoại tổ chức cơ của kí chủ, gây tổn thương cơ học mở
đường cho vi sinh vật, nấm và các KST khác xâm nhập vào gây viêm loét. Khi chúng kí
sinh trên cơ thể cá với số lượng lớn có thể làm cho cá hương, cá giống chết hàng loạt, gây
các bệnh nguy hiểm.
Theo Leong, 1994 cho biết 2 loài sán Megalocotyloides epinepheli và Benedenia sp là
nguyên nhân gây chết cá mú nuôi và giống. Haliotrema spp và Benedenia spp lại được
cơi là nguyên nhân gây chết ở cá hồng (Lutjanus johni).[ 14]
15

Tại Khánh Hòa năm 1994, Gyrodactylus đã cảm nhiễm và gây chết hàng loạt cá rô phi
đơn tính tại 1 cơ sở sản xuất giống (Đỗ Thị Hòa).
Giống Benedenia đã gây cho cá mú nuôi bè chết nhiều ở vịnh Hạ Long, Cát Bà (Bùi
Quang Tề, 1998).
Trong các lồng nuôi cá biển tại Vịnh Hạ Long đã bị cảm nhiễm khoảng 20 loài sán lá
đơn chủ, trong đó 4 kí sinh ở các loài cá mú nuôi lồng tại đây, bao gồm Ancyrocephalus,

Đỉa cá kí sinh ở da, vây, mang và xoang miệng của cá. Chúng hút máu, gây thương
tổn trên tổ chức cơ thể tại nơi kí sinh, có thể là sinh vật trung gian truyền trùng máu
(Trypanosoma) từ cá bệnh sang cá khỏe. Khi cảm nhiễm với cường độ cao có thể ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cá, làm cá gầy yếu thậm chí gây tử vong.
Trên cá mú (Epinephelus sp) nuôi lồng trên biển, hay nuôi trong các đìa nuôi nước
mặn tại Nha Trang, Khánh Hòa cá bị nhiễm đỉa với cường độ cảm nhiễm cao (Đỗ Thị
Hòa, 2004).
Trong quá trình thu mẫu ở Cam Ranh (Khánh Hòa) chúng tôi thấy nhiều đìa nuôi cá chẽm
bị nhiễm đỉa với cường độ cảm nhiễm cao gây chết rải rác ở những ao ương cá chẽm
giống. Đặc biệt chúng tôi đã kiểm tra 1 con cá chẽm vừa mới chết có kích thước 26.5 cm
ở Cam Hải Đông, Cam Ranh kết quả xác định được 162 con đỉa kí sinh.
 Phòng trị bệnh:
Làm tốt công tác tẩy dọn ao đầm, dùng vôi diệt tạp, nếu có điều kiện nên phơi đáy ao,
trong quá trình nuôi cần dọn sạch rong đáy để hạn chế sự sinh sản của đỉa.
Dùng nước ngọt để tắm cho cá biển, Formol nồng độ 100 – 200 ppm tắm cho cá bệnh
trong thời gian 30 – 60 phút. Có thể dùng Neguvon nồng độ 0,4 – 0,6 ppm tắm cho cá
bệnh trong 30 phút cũng có hiệu quả trị bệnh rất tốt.
3.6. Bệnh do giáp xác (Crustacea).
Giáp xác ký sinh trên cá chủ yếu thuộc 3 bộ: bộ chân chèo (Copepda), bộ chân đều
(Isopoda), bộ mang đuôi (Branchiura). Trong đó bộ Branchiura có nhiều loài sống ký
sinh gây bệnh cho cá.
Caligus spp là KST ký sinh phổ biến trên cá đặc biệt là cá nước lợ và mặn. Hiện nay
đã nhận biết và phân loại khoảng 200 loài Caligus khác nhau kí sinh trên cá. Ở Việt Nam
và khu vực Đông Nam Á, đã gặp khoảng 12 loài gây bệnh nguy hiểm cho cá nuôi.Tại
17

công ty Hoằng Ký, Khánh Hòa trong năm 2002, cá mú giống đã chết rải rác khi bị nhiễm
Caligus ở cường độ cao. [4]
Khi thu mẫu ở xã Ninh Sơn, Ninh Hòa (Khánh Hòa) chúng tôi đã gặp một ao ương cá
chẽm giống, cỡ 6 – 10 cm bị nhiễm Caligus với cường độ cảm nhiễm cao đã làm chết

18

PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
1.1. Địa điểm
Địa điểm thu mẫu: Tiến hành thu mẫu cá tại các đìa nuôi cá, trại sản xuất giống cá
Chẽm trên địa bàn Khánh Hòa.
Địa điểm phân tích mẫu: Tiến hành phân tích mẫu cá tại phòng thí nghiệm bệnh học
Thủy sản khoa Nuôi trồng thủy sản trường đại học Nha Trang.
1.2. Thời gian.
Đề tài được thực hiện từ ngày 15/8/07 đến ngày 15/11/07.
1.3. Đối tượng.
Các giống loài ký sinh trùng kí sinh trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (hình 1.1)
2.2. Phương pháp thu mẫu cá
Mẫu cá Chẽm (Lates calcarifer) nuôi được thu theo phương pháp ngẫu nhiên. Mẫu cá
thu được chia thành 3 nhóm kích cỡ khác nhau:


Kết luận và đề xuất ý kiến
Danh sách một số lo
ài KST có
TLCN và CĐCN cao có th
ể gây
b
ệnh cho cá chẽm nuôi tại
Khánh Hòa.

Kiểm tra
phát
hiện
Thu thập,
cố định,
bảo quản
Làm tiê
u
bản KST

Đo, đ
ếm
và phân
loại KST

Nghiên cứu KST trên cá
Chẽm (L. calcarifer).

Nghiên c
ứu KST kí

 Kiểm tra ký sinh trùng ngoại kí kinh
Kiểm tra da: Quan sát bằng mắt thường có thể phát hiện KST có kích thước lớn như
Lernaea, Argulus, bào nang của Myxobolus… Sau đó tiến hành kiểm tra nhớt da , thường
là cạo ở gốc vây, bụng cá (kiểm tra 3 lam) đặt lên lam nhỏ nước muối sinh lý, đậy lamel
rồi quan sát dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 4X để phát hiện ký sinh trùng. Để quan sát
rõ hình dạng, cấu tạo của trùng ta quan sát ở các vật kính 10X, 40X, 100X tùy theo kích
thước của trùng.
Kiểm tra mang: Dùng kéo cắt bỏ xương nắp mang, quan sát bằng mắt thường và ghi
lại những biểu hiện bất thường của mang. Sau đó lấy nhớt mang cho lên 3 lam với cá lớn,
còn cá nhỏ thì cạo hết nhớt cho lên 1 lam. Đậy lamel rồi quan sát dưới kính hiển vi. ở
mang có thể gặp Crustacae, bào nang Myxobolus, Protozoa, Monogenea ký sinh.  Kiểm tra ký sinh trùng nội kí sinh
22

Sau khi kiểm tra da và mang xong tiến hành giải phẫu cá để kiểm tra cơ quan bên
trong. Đặt cá nằm trên khay men, dùng kéo nhọn mổ một đường từ hậu môn lên phía
trước, cắt bỏ một bên vách bụng. Sau đó dùng kéo nhọn cắt ruột sau ở sát hậu môn, ruột
trước ở sát hầu để lấy toàn bộ nội tạng ra ngoài. Khi mổ cần chú ý nâng cao mũi kéo tránh
làm tổn thương, vỡ nát nội tạng bên trong. Dùng panh tách riêng từng cơ quan để kiểm tra.
Ruột: Dùng kéo nhọn giải phẫu ruột, gạt bỏ thức ăn trong ruột, sau đó cắt r uột ra thành 3 đoạn (ruột
trước, ruột giữa, ruột sau). Quan sát bằng mắt thường hay kính lúp tay có thể gặ p trùng có kích thước
lớn như Cestoidea, Acanthocephala, Trematoda, Cnidosporidia. Sau đó lấy nhớt cho vào 3 lam quan
sát trên kính hi ển vi để phát h iện trùng có kích thư ớc nhỏ.
Dạ dày: Mổ dạ dày, gạt bỏ thức ăn và quan sát bằng mắt thường có thể gặp giun sán
cỡ lớn. Sau đó cạo nhớt cho lên lam để quan sát.
Gan: Quan sát màu sắc, hình dạng của gan. Sau đó cắt 1 ít lá gan ép lên 2 tấm kính
lớn, dàn mỏng và quan sát dưới kính hiển vi.
Mật: Dùng Panh kéo túi mật ra, lấy dịch mật nhỏ lên lam, nhỏ nước muối sinh lý, đậy

Khi quan sát thấy trùng dùng dùi nhỏ tách riêng từng con trùng ra khỏi tơ mang dưới
kình giải phẫu. Sau đó dùng ống hút nhỏ hút trùng ra và tiến hành làm tiêu bản ngay.
 Sán lá song chủ - Digenea.
Dùng panh và dùi nhỏ tách trùng ra khỏi tổ chức cơ thể, đưa vào hộp lồng có nước
muối sinh lý rửa sạch. Đặt trùng lên lam, dùng lamel ép mỏng. Sau đó cố định trùng bằng
dung dịch Bouin trong thời gian 6 – 8 h, cuối cùng bảo quản trong cồn 70
0
.
 Sán dây – Cestoidea.
Phương pháp làm giống với Digenea.
 Giun tròn – Nematoda.
Trùng sau khi tách ra khỏi tổ chức cơ thể ký chủ cần cố định trùng trong cồn 70
0
đun
nóng và bảo quản trong cồn 70
0.
 Giun đầu móc – Acanthocephala.
Dùng panh, dùi thu mẫu. rửa sạch trùng trong nước muối sinh lý. Có thể ép nếu sau
này nhuộm hoặc không cần ép nếu không nhuộm. trùng được bảo quản trong cồn 70
0
.
 Giáp xác – Crustacea
Dùng panh, dùi và ống hút tách trùng ra khỏi tổ chức cơ thể kí chủ. Rửa sạch trong
nước muối sinh lý. Bảo quản và cố định trong cồn 70
0
.
 Đỉa cá – Piscicola.
Dùng panh, dùi thu mẫu, rửa sạch và cố định bằng Formol 4% hay cồn 70
0
.

0
, 30
0
, 50
0
,
70
0
, 90
0
, 100
0
, cồn – Xylen (1:1), Xylen.
– Cuối cùng gắn tiêu bản bằng Bom Canada.
 Nhuộm bằng AgNO
3
2%: dùng để nhuộm ký sinh trùng thuộc giống Trichodina,
Tripartiella, Paratrichodina. Ưu điểm của phương pháp này là vòng răng trên cơ thể thấy
rõ, thuận lợi cho quá trình phân loại. Các bước thực hiện:
– Lấy lam có trùng xếp một lượt vào chậu thủy tinh, dung Congtogut nhỏ AgNO
3
2%
đều trên mặt lam.
– Để chậu thủy tinh trong bóng tối khoảng 10 phút.
– Lấy mẫu ra rửa bằng nước sạch nhiều lần. Tiếp tục ngâm mẫu trong nước, ngập 1 –
1,5cm, đem phơi nắng 30 – 60 phút tùy theo cường độ ánh sáng mặt trời.
– Rửa lại bằng nước cất nhiều lần, dựng nghiêng cho khô.
– Gắn tiêu bản bằng Bom Canada, tránh để có bọt.
– Cuối cùng chọn tiêu bản đẹp lưu lại.
 Sán lá đơn chủ - Monogenea.

, 50
0
,
70
0
, 90
0
, 100
0
, cồn – Xylen (1:1), Xylen. Mỗi thang giữ khoảng 15 phút. Thang cồn 90
0
,
100
0
giữ trùng càng lâu càng tốt hoặc thay cồn 2 lần.
– Dùng panh gắp trùng đặt lên lam sạch, gắn tiêu bản bằng Bom Canada.
– Dán Etyket, ghi ro tên trùng, cơ quan ký sinh, địa điểm và thời gian thu mẫu.
 Giun đầu móc – Acanthocephala.
Có thể nhuộm mẫu giống sán song chủ (Trematoda) nhưng trước khi nhuộm nên dung
dùi đâm thủng 1- 2 chỗ trên thân trùng.
Nếu không nhuộm khi quan sát, ngâm trùng trong dung dịch làm trong acid lactic hoặc
cồn – glyxerin. Quan sát xong lại bỏ vào cồn 70
0
.
 Giun tròn – Nematoda, giáp xác – Crustacea.
Những ký sinh trùng thuộc lớp Nematoda, Crustacea không cần nhuộm và làm tiêu
bản nên trước khi quan sát cần ngâm trùng qua dung dịch làm trong là acid lactic hoặc
cồn – Glyxerin. Thời gian ngâm khoảng 20 phút đến 1 ngày tùy theo kích thước của trùng
lớn hay nhỏ. Ngâm cho đến khi cơ thể trùng trong suốt.
Sau khi quan sát xong, đưa trùng lại dung dịch cồn 70


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status