Nghiên cứu thành phần ký sinh trùng ký sinh trên hai loài cá mối saurida tumbil (bloch schneider, 1795) và trachinocephalus myops (bloch et schneider, 1801) bán tại các chợ ở nha trang - Pdf 22

i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Nguyệt

iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Một số đặc điểm sinh học của họ cá mối 3
1.1.1. Hình thái và phân loại của hai loài cá là vật liệu nghiên cứu của đề tài. 3
1.1.2. Một số đặc điểm sinh học của họ cá mối 4
1.1.3. Một số đặc điểm về sinh thái phân bố của họ cá mối 5
1.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá biển 6
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá biển trên thế giới 6
1.2.2. Tình hình nghiên cứu KST cá biển ở Việt Nam. 10
1.3. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở cá mối trong và ngoài nước 11
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở cá mối trên thế giới. 11
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá mối ở Việt Nam 13

3.3.15. Loài Anisakis sp 44
3.3.16. Loài Raphidascaris acus (Bloch, 1779) 46
3.3.17. Loài Hysterothylacium aduncum (Rudolphi, 1802) 47
3.3.18. Loài Camallanus sp. (Railliet et Henry, 1915) 50
3.3.19. Loài ký sinh trùng giáp giác Anchistrotos sp. Brain, 1906 51
3.3.20. Loài Pseudomyicola spinosus Raffaele & Monticelli, 1985. 53
3.3.21. Loài copepoda chưa phân loại 54
v
3.4. So sánh thành phần giống loài ký sinh trùng và mức độ cảm nhiễm theo loài cá,
kích cỡ cá và tháng thu mẫu cá của 2 loài cá mối-cá mối hoa (Trachynocephalus myops) và
cá mối thường (Saurida tumbi) 56
3.4.1 So sánh thành phần và mức độ nhiễm các KST ở loài Saurida tumbil và
Trachynocephalus myops 57
3.4.2. So sánh thành phần KST theo kích thước ở cá mối Saurida tumbil 60
3.4.3. So sánh mức độ nhiễm KST trên cá mối thường Saurida tumbil qua các
tháng trong năm. (Bảng 3.5). 62
3.4.4. So sánh mức độ nhiễm KST ký sinh trên 2 loài cá mối nghiên cứu qua các
tháng trong năm. 65
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 68
4.1. KẾT LUẬN 68
4.2. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1. Sơ đồ khối nghiên cứu 15
Hình 2.2. Các bước tiến hành của phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng ở cá 17
Hình 3.1: Loài Ceratomyxa sp 28
Hình 3.2A: Loài Sundanonchus sp 29
Hình 3.2B: Cơ quan bám của và cơ quan sinh dục của sán lá đơn chủ Sundanonchus sp. 30
Hình 3.3. Hình dạng và cấu tạo của dạng sán lá đơn chủ (Monogenia) chưa phân loại 31
Hình 3.4.A: Đầu của Oncodiscus fimbriatus trước và sau khi ép lamen 32
Hình 3.4.B.: Móc bám ở đĩa miệng của Oncodiscus fimbriatus 33
Hình 3.4.C. Đốt sinh dục của sán dây Oncodiscus fimbriatus 33
Hình 3.5 : Loài Bothriocephalus penetratus 34
Hình 3.6: Ấu trùng sán dây Tylocephalum sp. 35
Hình 3.7. Loài Dinosoma rubrum 36
Hình 3.8: Loài Lecithochirium cristatum 38
Hình 3.9: Loài Allocreadium laymani 39
Hình 3.10 : Loài Merlucciotrema praeclarum 40
Hình 3.11: Sán lá song chủ ký sinh ở dạ dày (chưa phân loại) 41
Hình 3.12 : Ấu trùng metacercaria của loài Haplorchis taichui 42
Hình 3.13: Ấu trùng metacercaria Heterophyopsis contimia 43
Hình 3.14: Ấu trùng metacercaria Heterophyes sp 44
Hình 3.15: Đầu và đuôi Anisakis sp 45

ix

CÁC TỪ VIẾT TẮT

NTTS: Nuôi trồng thủy sản
KST: Ký sinh trùng
TLCN: Tỷ lệ cảm nhiễm
CĐCN: Cường độ cảm nhiễm
% : Phần trăm
1
MỞ ĐẦU

Cá mối (Synodontidae), là loài cá biển có giá trị kinh tế, có tỷ lệ thịt trắng
cao, sử dụng để ăn tươi, đóng hộp, phơi khô, làm chả cá và sản xuất thịt cá xay
(Surimi) dùng trong công nghệ chế biến thịt tôm, cua giả để xuất khẩu và bán

1. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được thành phần giống loài ký sinh trùng ký sinh trên hai loài cá
mối Saurida tumbil và Trachinocephalus myops.
2. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: bổ sung tư liệu về thành phần giống loài KST ký sinh ở cá
biển Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc phòng bệnh
KST là giun sán qua ký chủ trung gian là cá tạp nhằm phát triển ổn định và bền
vững nghề nuôi tôm, cá biển đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho con
người.
3. Các nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần giống loài ký sinh trùng ký sinh trên 2 loài cá mối
Saurida tumbil và Trachinocephalus myops
- So sánh thành phần giống loài và mức độ cảm của ký sinh trùng ở 2 loài cá
mối, kích cỡ cá và tháng thu mẫu. 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số đặc điểm sinh học của họ cá mối
1.1.1. Hình thái và phân loại của hai loài cá là vật liệu nghiên cứu của đề tài.
 Vị trí phân loại
Ngành ĐV có xương sống Vertebrata
Lớp cá xương Osteichthys
Bộ cá đèn lồng: Myctophiformes
Họ cá mối: Synodontidae

chủng loại, nhưng chủ yếu là cá, chiếm tỷ lệ trên dưới 70%, loài cá thường gặp là
cá liệt (Leiognatus fasciatus), cá sơn (Apogon), cá nục (Decapterus), cá phèn
(Upeneus). Các loại thức ăn khác gồm tôm, mực [10]
 Đặc điểm về sinh trưởng
Cá mối có tốc độ lớn nhanh, tuổi cao nhất hiện nay biết được là 4
+
.Ở cá
mối, chiều dài thân của cá cái dao động từ 26.1 - 59.0 cm (38.7±6.8), trọng lượng
126.5 - 1510 g (477.1±260.8), và ở cá đực chiều dài thân là 26.3 - 38.3 cm
(32.7±3.2), trọng lượng là 128.3 - 450.5 g (260.2±83.5). Tốc độ tăng trưởng tuyệt
đối cũng như tương đối đều giảm khi cá lớn, còn đối với trọng lượng, tốc độ tăng
tuyệt đối tăng dần khi cá lớn, nhưng tốc độ tăng tương đối bắt đầu giảm từ năm
thứ hai. [10][11][21][47]
5
Bảng 1: Chiều dài trung bình của cá mối thường (Saurida tumbil) tương ứng
tuổi của cá. [10]
Chiều dài trung bình của cá theo tuổi (cm)
Tên loài
I II III IV V
Saurida tumbil 16,50 23,75 28,86 33,29 37,69

 Đặc điểm về sinh sản
Cá mối có sức sinh sản lớn, mùa đẻ kéo dài, có loài hầu như đẻ quanh năm
nhưng chủ yếu đẻ vào mùa lạnh (ở Vịnh Bắc Bộ). Cá cái có kích thước lớn hơn cá
đực. Tỷ lệ cá đực nhiều hơn cá cái đặc biệt là trong mùa sinh sản tỷ lệ này lại càng
lớn. Khi cá nhỏ, tỷ lệ cá đực nhiều hơn cá cái và lúc lớn thì ngược lại. [10]
Bãi cá: Ở Vịnh Bắc bộ vùng đánh bắt cá chủ yếu là ở xung quanh Bạch
Long Vĩ, nơi có đáy cát pha bùn và cát. Ở vùng biển phía Nam, bãi cá mối đáng
chú ý là vùng biển xung quanh hòn Thu. Vào mùa hè thu từ tháng 8-11, cá mối
thường tập trung ở đây. [10]

công bố về nhóm sán lá ký sinh ở cá (trematoda) [32].
Sau đó, cho tới năm 1929, Dogiel và cộng sự của ông đã đưa ra báo cáo
chung về ký sinh trùng cá và xây dựng được “phương pháp nghiên cứu đồng bộ ký
sinh trùng cá”, đây cũng là nền tảng cho ra đời hàng loạt các công trình nghiên cứu
về khu hệ ký sinh trùng ở cá sau đó và đến năm 1970, cuốn sách đầu tiên về bệnh
cá biển đã được xuất bản bởi Sindermann. [9]
Trong khoảng thời gian từ năm 1959-1973, nhà ký sinh trùng học người
Nga - A.M Parukhin đã tiến hành khảo sát nghiêu cứu khu hệ ký sinh trùng trên cá
mú và một số loài cá biển khác ở Đông Nam Á. Kết quả đã tìm thấy được 20 loài
giun sán ký sinh trong hệ tiêu hóa của loài cá này [4].
Năm 1975 C.C. Velasquez xuất bản cuốn sách “Sán lá song chủ-Trematoda
ký sinh ở cá nuôi tại Philippine” trong đó đã mô tả 73 loài thuộc 50 giống, 21 họ
sán lá song chủ ký sinh trên 27 họ cá ở Philippine [72].
Pillai (1985), một trong những nhà khoa học thành công nhất với công tác
nghiên cứu copepod ký sinh trên thế giới. Khi nghiên cứu copepod ký sinh trên cá
biển Ấn Độ, ông đã tìm và mô tả được 314 loài copepod khác nhau, trong đó, có
nhiều loài phân bố rất rộng trên thế giới. Kết quả nghiên cứu của ông đã được xuất
bản thành cuốn sách có giá trị “Hệ dộng vật của Ấn Độ, copepoda ký sinh ở cá
7
biển”, ở đó, tác giả còn đề cập đến nhiều khía cạnh khác như phương pháp thu
thập mẫu, bảo quản mẫu, hình thái học, sinh thái học và ảnh hưởng của copepod
đến ký chủ…[51]
Nghiên cứu về ký sinh trùng thuộc copepod ký sinh ở cá biển có giáo sư
Trần Thế Độ-trường đại học Tokyo, Nhật Bản. Ông cùng với cộng sự của mình đã
nghiên cứu phát hiện nhiều loài giáp xác thuộc copepoda ký sinh trên nhiều loài cá
biển ở Nhật Bản và ông chính là tác giả của cuốn sách “Copepoda ký sinh ở cá và
vẹm xanh ở Nhật Bản” (1981-1986). Trong cuốn sách này, ông đã miêu tả khá chi
tiết về đặc điểm hình thái, cấu tạo đến loài của nhiều ký sinh trùng, có hình ảnh
minh họa, là tài liệu tham khảo rất tốt cho việc phân loại, định danh. [26][37].
Leong và cộng sự đã có rất nhiều công trình được công bố về ký sinh trùng

thước nhỏ và biến thái phức tạp trong vòng đời cũng đã được tác giả nghiên cứu. [35].
Paperna (1996), đã xuất bản cuốn “Ký sinh trùng, sự lây nhiễm và gây
bệnh ở cá châu Phi”. Tác giả đã mô tả thành phần ký sinh trùng ký sinh trên một
số loài cá biển và cá nước ngọt, tình trạng lây nhiễm, vòng đời phát triển, dấu hiệu
bệnh lí và biện pháp phòng trị cho các loài cá đang nuôi ở châu Phi [52].
Arthur J.R và cs (1997), đã điều tra và xác định được 201 loài ký sinh trùng
ký sinh ở 72 loài cá gồm 1 loài thuộc Apicomlexa; 16 loài thuộc Ciliophora; 2 loài
Mastigophora; 1 loài Microphora; 9 loài Myzozoa; 90 loài thuộc Trematoda; 22
loài thuộc Monogenea; 6 loài Cestoda; 20 loài Nematoda; 5 loài Acanthocephala; 1
loài Mullusca; 2 loài Branchiura; 21 loài Copepoda và 5 loài thuộc Isopoda [22].
Kết quả nghiên cứu của M. Koie về thành phần ký sinh trùng đa bào ký
sinh trên cá bơn (Plastichthys flesus) phân bố từ Tây Bắc tới Đông Nam biển
Baltic, đã thu được 27 loài thuộc 17 họ. Trong đó 5 loài thuộc lớp sán song chủ
Digenea; 3 loài thuộc lớp sán dây Cestoda; 11 loài thuộc lớp giun tròn Nematoda;
5 loài thuộc Acanthocephala; 2 loài thuộc Copepoda; 1 loài thuộc lớp đỉa
Hirrudinea [36].
Năm 2000, Cribb đã phát hiện được 13 loài giun sán ký sinh
(Platyhelminthes) gồm: monogenea, cestoda và trematoda ở 38 loài cá con sống
9
rạn san hô ở vùng biển Caledonia với tỷ lệ cảm nhiễm 23%, cá cảm nhiễm ký sinh trùng
nhiều nhất ở giai đoạn metacecaria của giống Didymozoid. Theo nghiên cứu, ký sinh
trùng ký sinh vào cá ở giai đoạn ấu trùng khó hơn giai đoạn trưởng thành. [25]
Gibson và cs (2001) cùng nhau xuất bản cuốn “Keys to the trematoda” gồm
3 tập. Trong đó, tập 1 bao gồm Aspidogastrea và nhóm sán thuộc bộ Strigeida.
Tập 2 bao gồm bộ Echinostomida và một phần của bộ Plagiorchiida. Tập 3 hoàn
thành phần còn lại của bộ Plagiorchiida. Tác giả đã mô tả và đưa ra khóa phân loại
sán song chủ ký sinh ở động vật có xương sống từ lớp đến giống, loài, kèm theo
hình ảnh minh họa. Đây là một trong những tài liệu có giá trị phục vụ cho công tác
nghiên cứu sán song chủ ký sinh nói chung. [30]
Sau nhiều năm nghiên cứu về sán dây, Palm (2004), đã cho xuất bản cuốn

cá mú sọc (E. moara) gặp 7 loài và cá mú chuỗi (E. refaxaciatus) gặp 9 loài.
Trong đó, loài sán lá đơn chủ Pseudorhabdosynochus epinepheli và
Ancyrocephalus. sp được bắt gặp ở mang của cả 3 loại cá mú nói trên với tỷ lệ
cảm nhiễm rất cao (71.4-93.8%). [13]
Võ Thế Dũng & ctv. (2005), đã phát hiện được 22 loài ký sinh trùng thuộc
17 giống ký sinh ở các loài cá mú nuôi tại tỉnh Khánh Hòa. Trong đó, có 7 loài
thuộc lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) ký sinh ở mang và da cá, 5 loài thuộc lớp
động vật đơn bào Protozoa, 2 loài thuộc lớp sán lá song chủ Trematoda. [2]
Một nghiên cứu khác về bệnh monogenea trên cá mú và cá chỉ vàng nuôi ở
Khánh Hòa của Do Thi Hoa & Phan Van Ut (2007), cũng đã xác nhận một số tác
nhân gây bệnh là sán lá đơn chủ ký sinh trên mang và da với cường độ và tỷ lệ
cảm nhiễm khá cao. Trong đó, KST ở da được phát hiện gồm 2 giống là
Benedenia & Neobenedenia, ở mang gồm Pseudorhabdosynochus epinepheli,
Pseudorhabdosynochus sp; Diplectanum sp and Ancyrocephalus sp. [34]
Vo The Dung và cộng sự (2008a,b) công bố một số ký sinh trùng là sán
song chủ và một số lòai giáp xác ký sinh ở cá mú nuôi ao và nuôi lồng, trong đó có
một số lòai lần đầu được công bố bắt gặp ở khu vực Đông Nam Á, một số lòai
được công bố bắt gặp lần đầu ở Việt Nam. Đỗ Thị Hòa & ctv (2008) cũng đã tìm
11
thấy sán lá đơn chủ, rận cá ký sinh ở mang và da của cá mú, cá hồng, cá chẽm, cá
bớp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. [7][28] [29]
1.3. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở cá mối trong và ngoài nước.
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở cá mối trên thế giới.
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về bệnh cá mối còn rất hạn chế.
Subhapradha (1954), khi nghiên cứu sán dây ký sinh trên cá ở vùng ven
biển Madras, tác giả chỉ bắt gặp sán trưởng thành ở bộ cá nhám, còn sán ấu trùng
chủ yếu tìm thấy ở cá xương nhưng chỉ riêng 1 loài cá xương là cá mối thường
Saurida tumbil, tác giả đã bắt gặp 2 loài sán dây trưởng thành thuộc họ
Bothriocephalidae. Trong đó, một loài thường hay gặp là Bothriocephalus, một
loài khác chỉ gặp duy nhất một lần, nó thuộc giống Oncodiscus. Cả hai loài đều là

hơn đáng kể so với cá đực (47,7%), còn tỷ lệ nhiễm B. indicus ở loài cá này là rất
thấp, chỉ có 3,3%. [57].
I. Rajyalakshmi (1994), đã mô tả một loài mới của giống Camallanus
Railliet et Henry, 1915 (giun tròn thuộc họ Camallanidae) ở dạ dày của cá mối
đầu to Trachynocephalus myops (Bloch & Schneider) từ vịnh Bengal ở
Visakhapatnam. Tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái và kích thước
của loài ký sinh này dựa vào 2 mẫu giun đực và 2 mẫu giun cái. Loài giun ký sinh
mới này được đặc tên là Camallanus myopsi. [58].
Lecithochirium testelobatus n.sp, sán song chủ thuộc họ Hemiuridae được
báo cáo ở cá mối vạch, Saurida undosquamis từ vùng ven biển Andhra Pradesh,
Indonesia (Surekha and Lakshmi, 2005). Tác giả đã tìm được tất cả 5 loài sán ở
lớp nhày của dạ dày cá mối vạch, bọn sán này có một số đặc điểm về hình dạng
tương tự với loài L. fusiforme Luhe, 1901 và L. musculus (Looss 1907) Nasir &
Diaz 1971. Nhưng lại có sự sai khác so với các loài trên về hình dạng tinh hoàn và
một số đặc điểm khác như tỷ lệ giác bám, lỗ sinh sản, thùy noãn hoàn. Tuy nhiên,
các loài sán này lại có cùng đặc điểm tinh hoàn và đặc điểm hình thái nên chúng
được coi là một loài mới và được đặt tên là L. testelobatus. [64]
13
Roman Kuchta & ctv (2009), đã tiến hành nghiên cứu và mô tả lại 2 loài
sán dây: Oncodiscus sauridae Yamaguti, 1934 và Penetrocephalus ganapattii
(Rao, 1954) ở 4 loài cá mối thuộc giống Saurida. Oncodiscus sauridae đã được
tìm thấy ở Saurida longimanus Norman, S. nebulosa Valenciennes (báo cáo ký
chủ mới), S. tumbil (Bloch) và S. undosquamis (Richarson) không giống với P.
ganapattii được tìm thấy ở S. micropectoralis Shindo & Yamanda và S. tumbil ở
những đặc điểm sau: hình dạng đầu, vị trí bám ở đầu, hình dạng của các đốt, số
lượng tinh hoàn. [61]
Abdel-Baki và cs (2009), đã tiến hành thu gom 200 mẫu cá biển Saurida
undosquamis (Richardson, 1848) từ chợ cá ở Damam để phục vụ cho việc nghiên
cứu vi bào tử. Trong suốt quá trình nghiên cứu, tác giả đã phát hiện 60 mẫu cá bị
nhiễm vi bào tử Microsporidium sp. chiếm 30% tổng số mẫu nghiên cứu. Kết quả

phôi và trứng cá, cá con của cá biển Việt Nam trong đó có cá mối vạch. [12]. Chu
Tiến Vĩnh (1998), đã tiến hành đánh giá trữ lượng cá mối vạch S. undosquamis ở
biển Việt Nam.

15
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thành phần ký sinh trùng ký sinh trên hai loài cá mối:
Saurida tumbil (Bloch & Schneider, 1795) và Trachinocephalus myops (Bloch et
Schneider, 1801)
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05 đến 12 năm 2010.
- Địa điểm thu mẫu: Thu mẫu cá tại các chợ cá xung quanh thành phố Nha
Trang: chợ Vĩnh Hải, chợ Vĩnh Thọ, chợ Đầm, chợ Xóm mới và cảng Cù Lao.
- Phân tích mẫu: Các mẫu cá đã được phân tích tại phòng công nghệ sinh học của
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III.
Thành
phần KST
ở loài
Trachinoc
ephalus
myops
So sánh thành
phần giống
loài, và mức
độ cảm nhiễm
của KST ở
2 loài cá

So sánh
thành phần
giống loài và
mức độ cảm
nhiễm ở kích
cỡ cá
So sánh thành
phần giống loài
và mức độ cảm
nhiễm KST ở
cá mối ở các
tháng thu mẫu
Tỷ lệ và
cường độ cảm
nhiễm của ký
sinh trùng ở
từng loài cá

Dùng kéo cắt rời các vây, mang, xương nắp mang… cho vào hộp lồng có

Trích đoạn Loài Hysterothylacium aduncum (Rudolphi, 1802) Loài Camallanus sp (Railliet et Henry, 1915) Loài ký sinh trùng giáp giác Anchistrotos sp Brain, 1906 Loài copepoda chưa phân loại So sánh mức độ nhiễm KST ký sinh trên 2 loài cá mối nghiên cứu qua các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status