ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN ĐỨC THIỆU NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA SINH SỮA CỦA BÒ
LAI F
2
( ♀ LAI F
1
X ♂ HOLSTEIN FRIESIAN) NUÔI TẠI
ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN TRỌNG LẠNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2008
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Mục tiêu của đề tài. 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. 2
Chương 1: Tổng quan tài liệu
3
1.1. Sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa. 3
1.1.1. Tình hình chăn nuôi bò và sản xuất sữa trên thế giới. 3
1.1.2. Tình hình chăn nuôi bò sữa và sản xuất sữa ở Việt Nam. 5
1.2. Tình hình nghiên cứu thành phần hoá sinh sữa bò. 7
1.3. Bò lai F
2
(Lai F
1
x Holstein Friesian). 8
1.4. Đặc tính và thành phần hoá học của sữa. 9
1.4.1. Sữa và các đặc tính của sữa. 9
1.4.2. Thành phần hoá học của sữa. 10
1.5. Quá trình tạo sữa. 15
1.6. Nhu cầu dinh dưỡng cho sản xuất sữa. 17
1.7. Giá trị dinh dưỡng của sữa. 17
1.8. Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng sữa bò. 18
1.8.1. Giống. 18
1.8.2. Thức ăn. 19
3.2.1. Vật chất khô. 41
3.2.2. Đường khử. 41
3.2.3. Lipid. 42
3.2.4. Protein. 43
3.2.5. Khoáng tổng số. 44
3.2.6. Vitamin C. 45
3.3. Thành phần hoá học của sữa chua. 46
Kết luận và đề nghị
48
1. Kết luận. 48
2. Đề nghị. 49
Danh mục các công trình của tác giả
50
Tài liệu tham khảo
51
Phụ lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hiện nay, chăn nuôi bò sữa ở nước ta đã và đang phát triển mạnh đem
lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh các giống bò sữa cao sản nhập nội như
Holstein Friesian (HF), Jersey, các con lai theo hướng chuyên sữa được nuôi
với số lượng lớn, chiếm khoảng 90
% tổng đàn bò sữa cả nước. Bò lai hướng
x ♂ Holstein Friesian) nuôi tại Đồng Hỷ - Thái
Nguyên” để làm đề tài cho luận văn.
2. Mục tiêu của đề tài.
Đánh giá chất lượng sữa tươi và sữa chua của đàn bò lai F
2
nuôi trang
trại tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
+ Xác định hàm lượng vật chất khô trong sữa tươi và sữa chua.
+ Định lượng một số thành phần trong sữa tươi và sữa chua:
- Định lượng protein tan
- Định lượng lipid
- Định lượng đường khử
- Định lượng vitamin C
- Định lượng khoáng tổng số Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Bảng 1.1. Số lượng đàn bò trên thế giới các năm 2001, 2002, 2003.
Đơn vị: Con
Năm
Khu vực
2001 2002 2003
Toàn thế giới 1.354.620.220 1.358.107.070 1.368.054.950
Các nước phát triển 325.281.895 324.151.988 320.225.278
Các nước đang phát triển 1.029.338.320 1.033.955.080 1.047.799.670
Châu Phi 234.082.984 234.379.386 235.429.360
Châu Á 472.492.403 476.642.341 485.489.561
Châu Âu 172.730.424 141.130.669 138.558.817
Châu Mỹ La Tinh 356.695..555 357.272.194 361.556.560
Bảng 1.2. Sản lượng sữa bò trên toàn thế giới các năm 2001, 2002, 2003.
Đơn vị tính: Tấn
Năm
Khu vực
2001 2002 2003
Toàn thế giới 495.563.228 506.467.036 507.384.506
Các nước phát triển 341.701.315 347.232.859 346.362.733
Các nước đang phát triển 153.861.973 159.234.177 161.021.773
Châu Phi 19.973.177 20.742.580 20.686.954
Châu Á 98.438.534 102.990.958 104.779.913
Châu Âu 210.523.462 211.794.805 210.659.733
Châu Mỹ La Tinh 59.438.915 59.958.648 60.310.895
Cùng với việc tăng số lượng đàn bò trên thế giới, công tác giống bò
cũng được quan tâm đáng kể, hiện nay trên thế giới đã tạo ra khoảng 300
giống bò, trong đó có 80 giống bò chuyên sữa. [3]
104.000 con.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Tính đến năm 2005, cơ cấu giống bò sữa trong nước gồm bò lai (HF x
Laisind) chiếm 90% tổng đàn bò sữa, tỷ lệ máu HF ở đàn bò lai từ 50 - 75%.
Bò sữa thuần HF chiếm khoảng 8% tổng đàn bò cả nước, chủ yếu tập trung ở 2
khu vực nhân giống bò thuần là Mộc Châu và Đức Trọng. Còn lại là bò Laisind
chiếm khoảng 19% (Cục Thống kê, 2005).
Nuôi bò sữa đã trở nên phổ biến trong các tỉnh thành trong cả nước. Phía
Nam bò sữa tập trung chủ yếu ở Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ, An
Giang, … Còn ở phía Bắc, bò sữa được nuôi nhiều ở Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh
Phúc, Bắc Ninh, Sơn La,… Tính chung cả nước, từ năm 2000 đến 2005 tốc độ tăng
đàn bò đạt trung bình là 39,43%.
Bảng 1.3. Tình hình phát triển đàn bò sữa giai đoạn 1990 - 2005.
Năm
Tổng đàn
(con)
Bò HF thuần Bò lai HF
Số lượng
(con)
Sản lượng
sữa /chu kỳ
(kg)
Số lượng
(con)
Sản lượng
sữa /chu kỳ
(kg)
Tỷ lệ sữa trong nước
(%)
3,62 11,20 11,60 10,80 21,50
Trước nhu cầu sữa trong nước tăng cao, Đảng và Nhà nước đã đặt ra
mục tiêu chiến lược cho sự phát triển đàn bò sữa cả nước. Mục tiêu từ năm
2000 - 2010 như sau: Năm 2005 tăng nhanh sản xuất sữa trong nước đáp ứng
20% nhu cầu tiêu thụ. Năm 2010 đáp ứng được 40% nhu cầu tiêu dùng trong
nước. Đạt được mục tiêu trên, nước ta không những giảm nhập khẩu các sản
phẩm sữa, thay đổi cơ cấu ngành chăn nuôi mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội và giúp tạo công ăn việc làm ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập, nâng
cao đời sống người dân. [4], [5], [7], [21].
1.2. Tình hình nghiên cứu thành phần hóa sinh sữa bò.
Trương Minh Hiền, trong đề tài “Khảo sát tình hình bệnh viêm vú và
một số chỉ tiêu chất lượng sữa trên đàn bò sữa huyện Tiên Du - Bắc Ninh’’
cho thấy: Sữa tươi có hàm lượng vật chất khô 12,17 - 12,47%, hàm lượng mỡ
sữa 3,64 - 4,00%, hàm lượng protein 3,19 - 3,29%, hàm lượng đường lactose
4,59 - 4,62%. [10]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Theo Nguyễn Đăng Khôi, trong sữa tươi của bò HF nuôi tại Sơn Dương
- Tuyên Quang có hàm lượng vật chất khô (12,74 ± 0,48)%, protein (3,10 ±
0,08)%, mỡ sữa (3,91 ± 0,24)%, đường sữa (4,77 ± 0,02)%. [12]
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Kim Thoa và nhóm tác giả của
Viện công nghệ Sinh học, đã điều tra phân tích được kiểu gen K-Cn và gen -
Lg của 129 bò sữa gồm: 45 bò HF, Sind và 84 bò sữa lai (1/2, 3/4 và 5/8). Các
kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để bổ sung giúp các nhà chăn nuôi trong
lai tạo. Song song với phương pháp chọn giống kinh điển theo phenotype, cần
tuyển chọn đàn bò bố mẹ và kiểm tra di truyền ở thế hệ lai theo kiểu gen để
cân nặng 30-35 kg. Bò đực trưởng thành cân nặng
600-700 kg. Bò cái nặng trung bình 400-450 kg.
Trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, bò lai F
2
cho năng suất sữa
cao hơn bò lai F
1
. Trong một chu kỳ vắt sữa 300 ngày, năng suất có thể đạt
3000-3500 kg hoặc cao hơn. Tỷ lệ mỡ sữa từ 3,2% đến 3,8%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Trong điều kiện nóng và ẩm (nhiệt độ trên 30
0
C), bò lai F
2
tỏ ra kém
chịu đựng hơn so với bò lai F
1
. [22]
1.4. Đặc tính và thành phần hoá học của sữa.
1.4.1. Sữa và các đặc tính của sữa.
Tại hội nghị quốc tế lần thứ nhất về gian lận thực phẩm tổ chức ở
Giơnevơ năm 1908, sữa được định nghĩa như sau:
Sữa là sản phẩm toàn vẹn của việc vắt sữa hoàn chỉnh, không ngừng
của một gia súc cái cho sữa, trong trạng thái sức khoẻ tốt, nuôi dưỡng tốt và
không mệt mỏi. Sản phẩm cần được thu nhận một cách vệ sinh và không chứa
sữa non (loại sữa vắt ra trong khoảng 5 ngày trước và 7 ngày sau khi đẻ).
Khi nói đến sữa mà không chỉ dẫn loài gia súc nào thì phải hiểu đó là
sữa bò. Đối với sữa từ một loài gia súc khác, ngoài bò cái ra, cần nêu rõ thêm
Các loại vi khuẩn trong sữa gồm có:
- Vi khuẩn dạng cầu “coccus”: Các giống Streptococcus, Staphylococcus.
- Vi khuẩn dạng gậy “bacillus”: Các giống Lactobacillus, Salmonella.
- Vi khuẩn dạng dấu phẩy “vibrion”.
- Vi khuẩn dạng xoắn “spirilla”.
- Vi khuẩn dạng coli: Các giống Escherichia, Aerobacter, Klebsiella.
Chính từ các đặc điểm này của sản phẩm sữa, để bảo đảm hiệu quả của
chăn nuôi bò sữa, cần phải chú trọng đến việc bảo quản hoặc tiêu thụ sữa sau
khi vắt. [23], [24].
1.4.2. Thành phần hoá học sữa.
Sữa tươi là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao của động vật có vú
được tiết ra trong giai đoạn phát triển đầu tiên sau khi sinh con. Sữa chứa các
chất dinh dưỡng theo một tỷ lệ nhất định đối với sự phát triển của động vật sơ
sinh và sự bảo vệ miễn nhiễm cho động vật sơ sinh. Thành phần hoá học của
sữa rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Loài, giống, điều kiện
nuôi dưỡng, chu kỳ tiết sữa...
Thành phần chính của sữa bao gồm nước và vật chất khô. Thành phần
vật chất khô bao gồm mỡ sữa và vật chất khô không mỡ sữa. Trong thành
phần vật chất khô của sữa người ta tìm thấy gần 100 chất bao gồm: Lipid,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
đường, protein, vitamin, chất khoáng, enzym, thể khí và đặc biệt có một hàm
lượng kháng thể đáng kể. Sữa có giá trị dinh dưỡng đặc biệt vì trong sữa có
chứa đầy đủ các acid amin không thay thế, acid béo, muối khoáng và một số
nguyên tố vi lượng, chúng hoà tan ở các mức độ khác nhau.
Mặc dù, việc chăn nuôi trâu sữa, dê sữa đã có ở nước ta khá lâu nhưng
vì nhiều lý do nên sản lượng hai loại sữa này còn rất thấp. Vì vậy, cho đến
nay nguyên liệu chủ yếu cho ngành sữa Việt Nam vẫn là sữa bò. [30].
* Nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
* Chất khô
Trừ nước ra, chất khô của sữa bao gồm tất cả các thành phần của sữa.
Có thể xác định chất khô của sữa bằng phương pháp sấy đến trọng lượng
không đổi hoặc công thức tính toán.
* Lipid sữa
Lipid của sữa bao gồm chất béo, các photphatit, glicolipid, steroit. Chất
béo sữa được gọi là thành phần quan trọng. Về mặt dinh dưỡng, chất béo có
độ sinh năng lượng cao, có chứa các vitamin hoà tan trong chất béo (A,D,E).
Đối với các sản phẩm sữa lên men, chất béo ảnh hưởng tới mùi vị, trạng thái
của sản phẩm. Có tới 98-99% chất béo của sữa là các triglixerit, 1-2% còn lại
là các photpholipid, cholesterol, caroten, vitamin (A,D,E,K). Trong sữa có 18
acid béo. Mỗi glixerol có thể kết hợp với ba phân tử acid béo mà ba acid béo
này có thể cùng loại hay khác loại. Vì vậy số glixerit (triglixerit) khác nhau là
vô cùng lớn. [30].
* Hệ thống protein sữa
Protein là một trong những hợp chất hữu cơ quan trọng của sữa có giá
trị dinh dưỡng cao. Trong sữa, protein còn liên kết với các muối photphat,
canxi, các vitamin B
6
, B
12
, B
2
, acid pantotenic. Vì vậy, sự đồng hoá của
protein sữa được hoàn hảo hơn. Sử dụng protein sữa sẽ giảm các bệnh ung thư
gan vì trong protein sữa chứa nhiều lizin và methyonin.
Protein tồn tại trong sữa dưới 3 dạng: Casein, albumin, globulin. Ngoài
ra còn một lượng nhỏ protein có trong thành phần của màng hạt mỡ.
một số vi sinh vật lên men tạo ra acid lactic.
Tuỳ thuộc vào các loài vi sinh vật khác nhau, điều kiện lên men khác
nhau mà phản ứng có thể tạo ra các sản phẩm khác nhau, tạo mùi vị đặc trưng
riêng cho từng sản phẩm.
Ngoài đường lactose, trong sữa còn chứa một lượng nhỏ glucose,
galactose, fructose, và các oligosaccharit. [30].
* Các vitamin
Trong sữa có nhiều vitamin gồm cả loại hoà tan trong nước (vitamin
nhóm B,C) và các vitamin hoà tan trong chất béo (vitamin nhóm A,D,E),
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
nhưng hàm lượng tương đối thấp, đặc biệt là vitamin D. Nếu xử lý nhiệt thời
gian ngắn và không có không khí xâm nhập vào thì nhiệt độ nhỏ hơn hay bằng
100
0
C không làm giảm đáng kể lượng các vitamin, trừ vitamin C rất nhạy cảm
với nhiệt. Khi thanh trùng đúng chế độ thì lượng vitamin C giảm đi 17%. Nhiệt
độ cao hơn 100
0
C làm phá huỷ một phần hoặc hầu hết các loại vitamin.
Khi để lọt không khí, có tác dụng của ánh sáng, bao bì hoặc thiết bị bẩn
đều làm giảm lượng vitamin các loại, vitamin C bị phá huỷ hoàn toàn. [30].
* Chất khoáng
Khoáng là thành phần chủ yếu quy định độ acid của sữa. Chất khoáng
trong sữa bao gồm các nguyên tố Ca, Mg, Na, Fe, Cu, Co, Ni, I, Cl, P, S, Al,
Pb, Sn, Ag, As... trong đó các nguyên tố Ca, Mg, Na, K, P, Cl chiếm tỷ lệ cao
hơn cả.
Các nguyên tố vi lượng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành
sữa, cũng như tới chất lượng các sản phẩm. Hàm lượng chất khoáng trong sữa
Tạo sữa là một quá trình sinh học phức tạp, có sự tham gia của toàn bộ
cơ thể như: Tiêu hoá tăng 65%, tuần hoàn cũng tăng. Theo các kết quả nghiên
cứu thì để có 1 lít sữa cần 400-800 lít máu chảy qua tuyến vú. Đó là quá trình
chọn lọc những chất từ huyết tương đưa vào tuyến vú và tổng hợp nên những
thành phần đặc trưng của sữa. Tức là, trong quá trình tạo sữa, một số chất từ
máu thấm trực tiếp qua tuyến vú và một số chất không có trong máu được
tổng hợp ngay trong tuyến vú. Phân tích thành phần của sữa và huyết tương
người ta thấy sữa có nhiều chất mà huyết tương không có, như: Casein,
lactose, mỡ sữa. Hàm lượng của một số chất cũng rất khác nhau, ví dụ: Hàm
lượng đường sữa lớn hơn hàm lượng đường huyết 90-95 lần, mỡ lớn hơn 19
lần, hàm lượng protein ít hơn 2 lần, vitamin ít hơn 6 lần.
Các thành phần của sữa được tổng hợp trong lưới nội chất, với sự tham
gia của thể riboxom. Năng lượng cho lưới nội chất do mitochondria cung cấp.
Những thành phần này được chuyển dọc theo máy golgi qua nguyên sinh chất
và màng đỉnh tế bào biểu bì mô và sau đó được máy golgi đổ vào xoang tiết
dưới dạng “bọng túi”.
* Protit sữa
Protit trong sữa chủ yếu là casein (chiếm 76-86% tổng số). Casein là
loại proptit chỉ có ở trong sữa và không có ở trong máu, được tổng hợp từ các
acid amin của huyết tương chuyển vào. Sự tổng hợp casein giống như tổng
hợp protein ở tế bào, tức là có gen điều khiển quá trình tổng hợp.
Casein thuộc loại photpho protit (chứa 0,8-0,9% photpho). Thành phần
muối photphat của casein được lấy từ hợp chất vô cơ hoặc các hợp chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
photpho hữu cơ đã được vô cơ hoá. Casein được chia ra , , - casein.
Ngoài casein ra, trong sữa còn có:
- Albumin: Do albumin của máu thấm trực tiếp vào xoang tuyến vú,
albumin còn được tổng hợp từ các acid amin của huyết tương thành albumin sữa.
mỡ sữa trong sữa. Theo hệ thống số liệu của Đức, Mỹ, Hà Lan, Na Uy thì để
tạo ra 1 kg sữa tiêu chuẩn cần có 740 kcal tương đương với 740/1700 = 0,44
UFL và cần có 31 gam protein. Vì hiệu quả sử dụng protein là 64% nên nhu
cầu protein cung cấp để tạo ra 1 kg sữa tiêu chuẩn (4% mỡ sữa) là: 31/0,64 =
48 gam.
Nhu cầu Ca và P cho tiết sữa là 4,2 gam và 1,7 gam cho 1kg sữa tiêu
chuẩn. [11].
1.7. Giá trị dinh dƣỡng của sữa.
Sữa là một trong những sản phẩm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao
nhất. Trong sữa có đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết và dễ được cơ
thể hấp thụ. Ngoài các thành phần chính là protein, lactose, lipid, muối
khoáng, sữa còn có tất cả các loại vitamin chủ yếu, các enzym, các nguyên tố
vi lượng không thể thay thế.
- Protein của sữa rất đặc biệt, có chứa nhiều và hài hoà các acid amin
cần thiết. Hàng ngày mỗi người chỉ cần dùng 100 gam protein sữa có thể đã
thoả mãn hoàn toàn nhu cầu về acid amin. Cơ thể người sử dụng protein sữa
để tạo thành hemoglobin dễ dàng hơn bất cứ protein của thực phẩm nào. [30].
Trong đạm của sữa còn chứa nhiều chất khoáng như photpho, lưu
huỳnh, các nguyên tố vi lượng như sắt, cô ban. Nếu xét về mặt kinh tế thì đạm
sữa rất rẻ so với chất đạm của các thực phẩm khác. Kết quả nghiên cứu của
Viện hàn lâm y học Liên Xô cho biết 1g đạm của sữa bò tươi rẻ gấp ba lần 1
gam đạm thịt gà. Độ tiêu hoá protein sữa là 96-98%. [2].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
- Lipid của sữa giữ vai trò quan trọng trong dinh dưỡng. Khác với các
loại mỡ động vật và thực vật khác, mỡ sữa chứa nhiều nhóm acid béo khác
nhau, chứa nhiều vtamin và có độ tiêu hoá cao do có nhiệt độ nóng chảy thấp
và chất béo ở dạng các cầu mỡ có kích thước nhỏ. [30]
Độ tiêu hoá của mỡ sữa bò là 95%, trong khi đó mỡ động vật khác chỉ
có xu hướng chọn các giống bò có hàm lượng chất đạm cao. Các giống bò
được nuôi ở nước ta hiện nay đều có sự khác nhau rõ rệt về hàm lượng chất
béo, chất đạm, muối khoáng trong sữa. [9], [15], [18], [24], [30].
1.8.2. Thức ăn.
Kết quả nghiên cứu cũng như thực tế đã chứng minh giá trị dinh dưỡng
các thành phần thức ăn của bò sữa ảnh hưởng trực tiếp tới sự tạo thành sữa,
cũng như các thành phần của sữa.
Các loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò sữa gồm:
* Thức ăn thô
Nguồn thức ăn thô xanh chủ yếu là cỏ. Thức ăn thô khô chủ yếu là rơm.
Vì là loại động vật ăn cỏ nên không có loại thức ăn nào khác có thể thay thế
hoàn toàn được cho cỏ. Một bò cái vắt sữa nặng 400 kg cần ăn 20-30 kg cỏ
tươi và 2-3 kg rơm. Với khẩu phần cơ bản này, bò cái có thể sản xuất 5 kg
sữa/ngày. Khi giảm lượng thức ăn thô mà chủ yếu là xenlulose thì hàm lượng
chất béo trong sữa giảm đi. Thức ăn giầu gluxit như củ cải đường với mức 15-
30 kg/ngày kích thích sự tăng sản lượng sữa và hàm lượng chất béo trong sữa.
Các loại củ quả như bầu bí, khoai tây bi, khoai lang đều có thể dùng
làm thức ăn cho bò. Thức ăn củ quả giàu vitamin, nhiều bột đường rất tốt cho
bò sữa.
* Thức ăn tinh
Vì thức ăn thô không cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho bò sữa nên
cần bổ sung thức ăn tinh. Tuỳ theo loại thức ăn tinh mà tính toán khẩu phần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
cho phù hợp, sao cho từ kg sữa thứ sáu, mỗi kg sữa tăng cho ăn thêm 0,5 kg
thức ăn hỗn hợp dành riêng cho bò sữa.
Khi tăng hàm lượng protein trong khẩu phần thì trong sữa, hàm lượng
protein cũng tăng. Tương tự như thế, thức ăn giàu canxi, photpho thì hàm
lượng của chúng trong sữa cũng tăng.
kỳ tiết sữa của chúng lần lượt là: 306,02 ngày, 307,45 ngày và 302,42 ngày. [8].
Thành phần và sản lượng sữa thay đổi theo từng thời kỳ vắt sữa.
Các giai đoạn vắt sữa:
- Giai đoạn đầu: Từ sau khi đẻ đến tuần thứ 10 là giai đoạn bò cho sữa
cao nhất.
- Giai đoạn giữa: Từ tuần thứ 11 đến tháng thứ 6 là giai đoạn cho sữa
giảm dần.
- Giai đoạn cuối: Từ tháng thứ 7 đến tháng thứ 10 là cuối kỳ sữa. Giai
đoạn này sản lượng sữa giảm mạnh.
- Giai đoạn khô sữa (cạn sữa) là khoảng 2 tháng trước khi bò đẻ.
Sữa đầu có màu vàng tối, dễ bị đông tụ khi gia nhiệt do chứa nhiều
albumin, globulin. Hàm lượng muối khoáng cao, lactose thấp.
Trong sữa đầu còn chứa nhiều chất miễn dịch, có tác dụng bảo vệ cơ
thể bê con. Lượng vitamin trong sữa đầu cũng cao hơn. Như vậy, sữa đầu có
chức năng sinh hoá và dinh dưỡng đặc biệt đối với bê con. Trong công nghiệp
chế biến sữa người ta không dùng sữa đầu.
Thành phần sữa đầu sẽ ổn định sau 6 - 10 ngày kể từ lúc bò đẻ. Thành
phần sữa đầu thay đổi rất nhanh, lượng lactalbumin và lactoglobulin giảm một
cách đáng kể, lượng chất béo và muối khoáng giảm, còn lượng lactose lại tăng.