Nghiên cứu thành phần loài ký sinh trùng trên cá dìa bông (siganus guttatusbloch, 1787) và cá dìa (siganus canaliculatuspark, 1797) - Pdf 22

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả, số liệu nêu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào.



iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TLCN : Tỷ lệ cảm nhiễm
TTK : Thị trường kính
CĐCN : Cường độ cảm nhiễm
KST : Ký sinh trùng
Ctv

: Cộng tác viên
L

: Chiều dài cơ thể
W

: Chiều rộng cơ thể


v
DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Cá dìa bông (Siganus guttatus Bloch, 1787) 4
Hình 1.2. Cá dìa (Siganus canaliculatus Park, 1797) 5
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu 15
Hình 3.1: Ceratomyxa sp 24
Hình 3.2: Tetrancistrum sigani 25
Hình 3.3: Tetrancistrum oraminii 27
Hình 3.4: Tetrancistrum fusiforme 29
Hình 3.5: Glyphydohaptor phractophallus 31
Hình 3.6: Glyphydohaptor sigani 33
Hình 3.7: Glyphydohaptor plectocirra 35
Hình 3.8: Polylabris mamaevi 37
Hình 3.9: Machidatrema akeh 39
Hình 3.10: Hexangium sigani 40
Hình 3.11: Hysterolecithoides epinepheli 42
Hình 3.12: Aponurus laguncula 43

1.1.3.1. Loài cá dìa bông (Siganus guttatus Bloch, 1787) 4
1.1.3.2. Loài cá dìa (Siganus canaliculatus Park, 1797) 5
1.1.4. Tình hình nuôi cá dìa 5
1.2. Tình hình nghiên cứu KST ở cá trên thế giới 6
1.2.1. Nghiên cứu KST ở cá biển 6
1.2.2. Nghiên cứu KST ở cá dìa 7
1.3. Nghiên cứu KST ở cá ở Việt Nam 12
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 15
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 15
2.3. Phương pháp kiểm tra và phát hiện ký sinh trùng 16
2.3.1. Dụng cụ và hóa chất 16
2.3.2. Thu mẫu và xử lý mẫu cá 16
2.3.3. Thu mẫu KST 16
2.3.4. Cố định, bảo quản, nhuộm và làm tiêu bản 18
2.3.4.1. Động vật đơn bào (Protozoa) 18
2.3.4.2. Sán lá đơn chủ (Monogenea) 18
2.3.4.3. Sán lá song chủ (Trematoda) 19
vii
2.3.4.4. Giun đầu gai (Acanthocephala) 19
2.3.4.5. Giáp xác (Crustacae) 19
2.3.5. Đo kích thước KST 20
2.3.6. Đánh giá mức độ cảm nhiễm KST ở cá 20
2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 20
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU và thẢO LUẬN 21
3.1. Thành phần loài, tỷ lệ và cường độ nhiễm KST ở cá dìa bông (Siganus guttatus)
và cá dìa (Siganus canaliculatus) 21
3.1.1. Mẫu cá nghiên cứu 21
3.1.2. Thành phần giống loài KST ký sinh ở 2 loài cá dìa 21
3.1.3. Một số đặc điểm phân loại các loài KST ký sinh ở cá dìa bông (Siganus

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
1
MỞ ĐẦU

Những năm gần đây, nghề Nuôi trồng Thủy sản lợ mặn nước ta phát triển mạnh
với nhiều đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế như: tôm hùm (Panulirus spp), cá mú
(Epinephlus spp), cá giò (Rachycentron canadum), cá hồng (Lutjanus spp), cá chẽm
(Lates calcarifer),…. đã mang lại hiệu quả kinh tế rất đáng kể và góp phần nâng cao
mức sống cho người dân.
Cá dìa (Siganus spp) là đối tượng nuôi có giá trị cao, đã được Trung tâm Phát
triển Thuỷ sản Ðông Nam Á (SEAFDEC) nghiên cứu về đặc điểm sinh học, kỹ thuật
sản xuất giống và kỹ thuật ương nuôi. Theo Pillay (1990), các loài cá dìa thường được

dung sau:
 Xác định thành phần loài, tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm KST ở cá dìa bông (S.
guttatus) và cá dìa (S. canaliculatus)
 So sánh mức độ cảm nhiễm KST ở 2 loài cá dìa nghiên cứu
 So sánh mức độ nhiễm KST theo kích thước của cá dìa và theo tháng nghiên
cứu
Về mặt khoa học nghiên cứu này nhằm góp phần cung cấp thông tin về thành
phần loài và mức độ nhiễm KST ở cá dìa bông (Siganus guttatus) và cá dìa (Siganus
canaliculatus). Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng vào việc chăm sóc và
quản lý sức khỏe cá dìa nuôi cũng như hạn chế mối nguy đối với sức khỏe cộng đồng
và an toàn thực phẩm.

3
1. CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá dìa
Họ cá dìa có 2 giống: Lo và Siganus (Teuthis) với khoảng 26 loài, trong đó 15 loài
sống thành đàn, các loài còn lại sống thành đôi và là cá rạn san hô.
1.1.1. Phân bố
Cá dìa (Siganus spp) phân bố rất rộng ở vùng Ấn Ðộ - Thái Bình Dương, từ vùng
biển phía Đông châu Phi tới Polynesia; phía Nam Nhật Bản tới bắc Australia và vùng phía

Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Siganidae
Giống: Siganus
Loài: Siganus guttatus Bloch, 1787
Loài: Siganus canaliculatus Park, 1797
1.1.3.1. Loài cá dìa bông (Siganus guttatus Bloch, 1787)
Hình 1.1. Cá dìa bông (Siganus guttatus Bloch, 1787)
Là loài cá rạn san hô sinh sống ở ven bờ nước đục trong rừng ngập mặn, thậm chí
thích độ mặn thấp. Cá con sống trong thảm cỏ biển quanh cửa sông và cá lớn sống ven
biển, thường ra vào các sông ngòi và cửa sông theo dòng thủy triều, nhưng cũng tìm thấy
ở rạn san hô ven bờ xuống độ sâu đến 6 m. Chúng sống bầy đàn trong suốt cuộc đời.
5
Thức ăn là tảo đáy. Không giống như cá dìa khác, loài này hoạt động vào ban đêm. Thân
dẹp bên, miệng nhỏ giống miệng thỏ, vây lưng: 13 tia vây cứng, 10 tia vây mềm; vây hậu
môn: 7 tia vây cứng, 9 tia vây mềm; vây bụng: 2 tia vây cứng, 3 tia vây mềm. Vây màu
xanh sẫm, phía dưới bạc, một điểm màu vàng sáng tại chỗ tiếp giáp với vài tia vây lưng
cuối; đầu có các đường và các điểm màu vàng cam. Xương nắp mang chắc khỏe. Phía
trước lỗ mũi có vành rất thấp, hơi mở rộng ở sau. Gai chắc khỏe, có tuyến độc [62].
1.1.3.2. Loài cá dìa (Siganus canaliculatus Park, 1797)
Hình 1.2. Cá dìa (Siganus canaliculatus Park, 1797)
Sinh sống ven bờ, các rạn san hô, cửa sông và trong đầm phá lớn với môi trường
sống là tảo-xác thực vật. Phổ biến trên nền đá. Trái ngược với loài cá dìa (Siganus
fuscescens), loài này chịu đựng được ở vùng nước đục, trong khu vực xung quanh cửa
sông đặc biệt là xung quanh thảm cỏ biển. Chúng cũng phân bố ở vài km ngoài khơi vùng
biển sâu, nước sạch. Loài cá dìa (Siganus canaliculatus) là loài cá ăn thực vật, ăn tảo đáy,
cỏ biển. Cá con sống ở vùng có rong biển hoặc rừng ngập mặn. Trưởng thành chủ yếu ở
khu vực có rong biển, nhưng cũng có ở dải đá ngầm và rừng ngập mặn
Cá có thân dẹp bên, miệng giống miệng thỏ. Vây lưng: 13 tia vây cứng, 9 tia vây

Từ năm 1981-1986, Trần Thế Độ với nhiều công trình nghiên cứu về các loài giáp
xác ký sinh tại Nhật Bản như: Tran (1981) mô tả loài giáp xác Diergasilus kasaharai ký
sinh ở cá đối (Mugil cephalus); Ho và Tran (1982) nghiên cứu các loài giáp xác thuộc
giống Ergasilus ký sinh ở cá đối (Mugil cephalus) [49].
Lom và Dykova (1992) đã xuất bản cuốn “KST đơn bào ở cá” có gần 2.420 loài KST
đơn bào đã được công bố trong nghiên cứu này. Trong đó, nhiều loài gây nguy hiểm cho
cá nuôi nước ngọt và nước biển. Đồng thời, giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ
7
thống phân loại của 7 ngành KST đơn bào ký sinh ở cá gồm có: ngành trùng roi
(Mastigophora), ngành Opalinata, ngành Amip (Amoebae), ngành trùng bào tử
(Apicomplexa), ngành vi bào tử (Microspora), ngành bào tử (Myxozoa), ngành trùng lông
(Ciliophora) [42].
William và Jones (1994) đã có nhiều nghiên cứu về thành phần giống loài, vòng đời
và đặc điểm cấu tạo của các nhóm sán lá đơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ
(Digenea), giun tròn (Nematoda), sán dây (Cestoidae), giun đầu gai (Acanthocephala) ký
sinh ở cá nước ngọt và nước mặn [53].
Arthur và ctv (1997) đã xác định được 201 loài KST ký sinh ở 72 loài cá. Trong đó,
1 loài thuộc ngành trùng bào tử (Apicomplexa); 16 loài thuộc ngành trùng lông
(Ciliophora); 2 loài thuộc ngành trùng roi (Mastigophora); 1 loài thuộc ngành vi bào tử
(Microphora); 9 loài thuộc ngành bào tử (Myzozoa); 90 loài sán lá song chủ (Trematoda);
22 loài sán lá đơn chủ (Monogenea); 6 loài sán dây (Cestoda); 20 loài giun tròn
(Nematoda); 5 loài giun đầu gai (Acanthocephala); 1 loài Mollusca; 2 loài Branchiura; 21
loài Copepoda và 5 loài Isopoda [17].
1.2.2. Nghiên cứu KST ở cá dìa
Lần đầu tiên hai loài sán lá đơn chủ của họ Gyrodactylidae được mô tả bởi Goto và
Kikuchi (1917) đó là Dactylogyrus inversus và Tetrancistrum sigani. Loài Dactylogyrus
inversus phân bố ít ở mang của hầu hết các loài cá làm thực phẩm như loài cá Lateslabrax
japonicus. Có hai hoặc ba trùng được tìm thấy ký sinh ở mang của cá. Sự vận động của
trùng rất nhanh, chúng vận động theo chu kỳ co rút và kéo dài của cơ thể. Trong khi vận
động trùng có thể cảm nhận được hướng khác nhau bởi các mảnh trước bụng nhưng phần

trong quần thể bị lây nhiễm nặng, trong khi những cá thể khác rất ít hoặc không bị nhiễm
[43].
Aloo và ctv (2004) đã thực hiện nghiên cứu KST đa bào ở một số loài cá có giá trị
thương phẩm dọc bờ biển Kenyan. 16 loài cá đã được kiểm tra KST đó là các loài cá:
Siganus sutor, Plectorhynchus flavomaculatus, P. sordicus, Lethrinus nebulosus,
Sardinella gibosa, Scarus horrid, Sellar crumenophthalmus, Rastrelliger kanarguta,
Parupeneus indicus, Mugil cephalus, Scombromorus commerson, Epinephelus
macrospilas, Thunnus sp, Leptoscarus viagensis, Leptoscarus sordidus and Hemiramphus
far. Chỉ có 8 loài cá bị nhiễm cả nội và ngoại KST đó là: cá dìa (Siganus sutor), cá thu
9
(Selar crumenophthalmus, Scormbromorus ommerson và Ratrelliger kanarguta), cá
Parrot (Leptoscarus vagiensis), cá Sardine (Sardinella gibosa), cá ngừ (Thunnus sp,) và
cá kim (Hemiramphus far). Trong 8 loài cá bị nhiễm KST thì cá dìa (Siganus sutor)
nhiễm với hầu hết các loài KST, trong khi đó cá Sardinella và Leptoscarus nhiễm loài
ngoại ký sinh. Cường độ nhiễm tăng theo tuổi đặc biệt là ở loài Siganus sutor cá con tỷ lệ
nhiễm thấp, trong khi cá lớn thường bị nhiễm nặng [16].
Lim (2002) có 3 loài sán lá đơn chủ (Monogenea) của Pseudohaliotrema Yamaguti,
1953 được thu thập từ hai loài cá dìa đánh bắt ở Singapore. Đó là loài Pseudohaliotrema
virgata và Pseudohaliotrema molnari từ loài cá dìa (Siganus virgatus) và loài
Pseudohaliotrema falcata từ loài cá dìa bông (Siganus guttatus). Chúng khác nhau ở hình
dạng, kích thước cơ thể, thanh nối móc bám và ở hình thái của cơ quan sinh dục đực [41].
Dzikowski và ctv (2003) nghiên cứu những thay đổi hàng năm trong cộng đồng KST
ký sinh ở loài cá dìa (Siganus rivulatus) ở Vịnh Aqaba, Hồng Hải, trong môi trường chịu
tác động liên tục của con người. Tác giả đã phân tích và chỉ ra rằng tỷ lệ giữa
Heteroxenous và loài KST Monoxenous giảm đáng kể ở tất cả các các địa điểm nghiên
cứu từ năm 1995-1997 và từ năm 1998-2000 đặc biệt là loài Opisthogonoporoides sp. và
loài Gyliauchen sp., thậm chí nhiều hơn đáng kể so với dữ liệu từ năm 1981-1985. Các
loài giun sán đường ruột ký sinh phổ biến khác, cụ thể là các loài Hexangium sigani,
Cucullanus sigani và Procamallanus elatensis [27].
Ho và ctv (2004) đã tìm thấy 4 loài giáp xác ký sinh ở 10 loài cá biển nuôi trong các

Delane và Paolo (2007) kiểm tra 9 loài cá dìa (Siganus spp) từ Úc, Trung Quốc, và
Ai Cập đã tìm thấy loài Pseudohaliotrema spp. (Monogenoidea, Dactylogyridae). Phát
hiện thấy loài Pseudohaliotrema sphincteroporus ký sinh trên mang của loài cá dìa
Siganus doliatus, Siganus lineatus, và Siganus corallinus và loài Pseudohaliotrema
molnari ký sinh trên mang của loài cá dìa Siganus corallinus, Siganus doliatus, Siganus
lineatus, và Siganus virens từ Great Barrier Reef, Úc. Loài cá dìa Siganus fuscescens từ
Australia và Trung Quốc; Loài cá dìa Siganus argenteus, Siganus rivulatus, và Siganus
luridus từ Ai Cập, và Loài cá dìa Siganus vulpinus từ Australia đã âm tính với loài
Pseudohaliotrema spp. Pseudohaliotrema được sửa đổi, loài Pseudohaliotrema
sphincteroporus và loài Pseudohaliotrema molnari đã được mô tả lại bằng hình vẽ chi tiết
với các móc bám và cơ quan giao cấu [25].
11
Yang và ctv (2007) tìm thấy hai loài Polylabris lingaoensis và Polylabris mamaevi
từ mang của cá xương ở Vịnh Bắc Bộ, Nam Trung Quốc. Loài Polylabris lingaoensis
được mô tả từ mang của cá Ambassis gymnocephalus (Chandidae), từ Vịnh Bắc Bộ, gần
Lâm Cao, tỉnh Hải Nam (Trung Quốc). Các loài mới được đặc trưng bởi một lỗ âm đạo
giữa bụng, tinh hoàn tương đối ít (5-7) cái, và đĩa bám sau với 2 đường song song nhau
bao gồm 30-43 van bám kitin xếp liên tiếp nhau. Loài Polylabris lingaoensis được biết là
một trong số loài ký sinh gây hại cho cá. Loài Polylabris mamaevi được mô tả ký sinh ở
mang của các cá dìa vằn (Siganus fuscescens) từ vùng biển Nam Trung Quốc, đại diện
cho vật chủ mới và các giun sán được ghi lại ở địa phương [59].
Delane và ctv (2007) đã kiểm tra 9 loài cá dìa Siganus (Siganidae) và Naso
brevirostris (Acanthuridae) cho thấy loài sán lá đơn chủ (Monogenea) là Tetrancistrum
spp. Các loài này đã được xác định lại và các loài sau đây được báo cáo hoặc mô tả từ
Australia, Ai Cập, và Trung Quốc là loài Tetrancistrum sigani từ loài cá dìa vằn (Siganus
fuscescens) ở Úc và Trung Quốc, loài Tetrancistrum fusiforme từ loài cá dìa (Siganus
lineatus) ở Úc, loài Tetrancistrum polymorphum từ loài cá dìa (Siganus luridus) ở Ai Cập,
loài Tetrancistrum strophosolenus và Tetrancistrum suezicum từ loài cá dìa (Siganus
rivulatus) ở Ai Cập, và loài Tetrancistrum makau và Tetrancistrum longispicularis từ loài
cá Naso brevirostris ở Úc. Theo mô tả hiện nay thì giống Tetrancistrum bao gồm 16 loài:

Hirudinea, 3 loài Branchiura, 12 loài Copepoda và 2 loài Isopoda [18].
Theo Phan Văn Út, 2006 nghiên cứu bệnh do sán lá đơn chủ (Monogenea) ký sinh
trên cá mú (Epinephelus spp) và cá hồng (Lutijanus argentimaculatus) nuôi tại Khánh
Hòa, có hai giống sán lá đơn chủ gây ra bệnh mè cá là Benedenia và Neobendenia. Trong
đó tìm thấy hai loài có tính chất ký sinh đặc thù Benedenia epinepheli ký sinh gây bệnh ở
cá mú (Epinephelus spp) và Neobenedenia lutjanus ký sinh gây bệnh ở cá hồng (Lutijanus
argentimaculatus). Bệnh sưng mang ở cá mú (Epinephelus spp) và cá hồng (Lutijanus
argentimaculatus) xảy ra do một số loài KST thuộc ba giống sán lá đơn chủ:
Pseudorhadosynuchus; Diplectanum và Ancyrocephalus ký sinh ở mang với tỷ lệ cảm
nhiễm cao gây ra. Trong đó, 1 loài có tính chất ký sinh đặc thù là Pseudorhadosynuchus
epinephe [15].
13
Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, 2008. Tìm thấy 14 loài KST, thuộc 14 giống, 14 họ,
12 bộ, 8 lớp và 6 ngành KST ký sinh ở cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) nuôi tại
Khánh Hòa. Trong đó có 3 loài thuộc lớp trùng tiêm mao, 1 loài thuộc lớp bào tử sợi, 1 loài
thuộc lớp sán đơn chủ, 4 loài thuộc lớp sán lá song chủ, 1 loài thuộc lớp sán dây, 1 loài
thuộc lớp giun tròn, 1 loài thuộc lớp đỉa và 2 loài thuộc lớp giáp xác [10].
Nguyễn Thị Hải Thanh, 2008. Kiểm tra 218 mẫu cá cảnh biển được kiểm tra thuộc 3
giống cá khoang cổ (Amphiprion spp), cá mó (Halichoeres spp), cá nàng đào (Chaetodon
spp). Đã tìm thấy 22 loài KST thuộc 18 giống, 18 họ, 15 bộ, 7 lớp KST. Trong đó, 9 loài
thuộc lớp sán lá song chủ, 3 loài thuộc lớp sán lá đơn chủ, 3 loài thuộc lớp sán dây, 3 loài
thuộc lớp giun tròn, 2 loài thuộc lớp giáp xác, 1 loài thuộc lớp đỉa và 1 loài thuộc lớp tiêm
mao trùng [13].
Nguyễn Văn Giang, 2008. Có 18 loài KST thuộc 13 giống, 13 họ, 10 bộ, 6 lớp và 5
ngành. Trong đó, 2 loài thuộc lớp tiêm mao trùng (Oligohymrnophora), 2 loài thuộc lớp
bào tử sợi (Myxosporea), 3 loài thuộc lớp sán lá đơn chủ (Monogenea), 4 loài thuộc lớp sán
lá song chủ (Digenea), 1 loài thuộc lớp đỉa (Hirudinae) và 5 loài thuộc lớp giáp xác ký sinh
ở cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus Forskal, 1775) nuôi tại Khánh Hòa [5].
Trong khoảng thời gian từ năm 2005-2009 Võ Thế Dũng và Ctv đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu KST ký sinh ở cá mú (Epinephelus spp), với rất nhiều loài KST được tìm


15
2. CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 06/2010 đến 12/2011.
Địa điểm: Mẫu cá dìa nghiên cứu được thu mua của các ngư dân ở một địa phương
trong tỉnh Khánh Hoà như: Cam Ranh, Nha Trang và Ninh Hòa.
Mẫu cá sau khi thu được phân tích tại phòng nghiên cứu KST - Viện Nghiên cứu
Nuôi trồng Thủy sản III.
Đối tượng nghiên cứu: Thành phần giống loài KST ký sinh ở cá dìa bông (Siganus
guttatus Bloch, 1787) và cá dìa (Siganus canaliculatus Park, 1797).
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu
Làm tiêu bản
Thu thập, cố định và bảo quản mẫu Soi tươi
Lấy mẫu KST
Đo, đếm, vẽ, mô tả, chụp ảnh KST
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

đến lớn (x4, x10, x40, x100 lần) để phát hiện KST.
Quan sát dấu hiệu, trạng thái hoạt động, hình dạng bên ngoài để tìm KST có kích
thước lớn. Sau đó lấy nhớt da, mang, gốc vây, lấy máu kiểm tra. Lấy mẫu phết lên lam
kính, nhỏ thêm một vài giọt nước muối sinh lý và quan sát dưới kính hiển vi có độ phóng
đại từ nhỏ đến lớn (4x, 10x, 40x, 100x). Nếu phát hiện ký sinh trùng thì thu mẫu, làm
sạch mẫu, chụp hình, đo, vẽ,… để tiến hành phân loại. Tùy từng loài ký sinh trùng mà có
các bước xử lý mẫu phù hợp. Dùng kéo cắt rời các vây rồi bỏ vào hộp lồng có chứa nước
muối sinh lý, quan sát dưới kính soi nổi, nếu phát hiện có KST dùng pipet hút trùng ra,
rửa sạch và quan sát dưới kính hiển vi, chụp hình, đo kích thước, vẽ… để phân loại.
17
Mang, xương nắp mang: dùng kéo cắt rời phần xương nắp mang, quan sát kỹ dấu
hiệu bên ngoài của mang. Sau đó, cắt rời cung mang và tách từng lá mang bỏ vào hộp
lồng có chứa nước muối sinh lý. Dùng dùi nhọn và panh tách những trùng có kích thước
lớn. Quan sát dưới kính soi nổi để tách trùng có kích thước nhỏ hơn, tất cả trùng được rửa
sạch rồi quan sát dưới kính hiển vi, chụp hình, đo kích thước, vẽ,… để phân loại.
Giải phẫu lấy toàn bộ nội tạng cho vào đĩa lồng, các cơ quan để riêng từng đĩa lồng
có chứa nước muối sinh lý.
Dạ dày:
Dùng kéo mổ và gạt nhẹ thức ăn ra khỏi dạ dày. Dùng panh thu các ký sinh trùng có
kích thước lớn. Dùng dao cán liền cạo nhớt dạ dày đưa lên lam, nhỏ vài giọt nước muối
sinh lý, đậy lamen lại và đưa lên kính hiển vi quan sát. Nếu phát hiện KST thì chuyển
sang kính giải phẫu để tách trùng.
Ruột: Chia làm 3 phần: ruột trước, ruột giữa và ruột sau, tùy thuộc vào mỗi loài cá
mà chiều dài ruột thay đổi do tập tính ăn của chúng. Dùng kéo cắt dọc ống ruột, gạt nhẹ
phần thức ăn, quan sát bằng mắt thường sau đó dùng dao cạo nhớt đưa lên lam, nhỏ vài
giọt nước muối sinh lý, đậy lamen lại và đưa lên kính hiển vi quan sát. Nếu phát hiện
KST thì chuyển sang kính giải phẫu để tách trùng.
Bóng hơi: Dùng kéo cắt bóng hơi, sau đó dùng dao cạo nhớt bên trong bóng hơi,
quan sát dưới kính giải phẫu, kính hiển vi.
Tim: Cắt một miếng nhỏ tim cho lên lam kính, dùng lam khác để ép mỏng tim sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status