Điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của loài sâu róm 4 gù (2 vàng 2 vệt đen) orgyia sp trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012 - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
“ ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI
CÔN TRÙNG VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA SÂU RểM
4 GÙ (2 VÀNG 2 VỆT ĐEN) - ORGYIA SP. TRấN CÂY LẠC TẠI
VÙNG NGOẠI THÀNH HÀ NỘI VỤ XUÂN Hẩ 2012 ”
Giáo viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN XUÂN THÀNH
Sinh viên thực hiện : VŨ VĂN AN
Lớp : 0801
Hà Nội – 2012
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin trân thành cảm ơn TS. Nguyễn Xuân Thành – Viện
Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật .Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn về
mọi mặt trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
này .
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung Tâm Đậu Đỗ của Viện Khoa
Học Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra tại
khu ruộng thí nghiệm của trung tâm .
Qua đõy tụi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, cán bộ
Khoa Công Nghệ Sinh Học- Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi học tập suốt 4 năm học vừa qua , cũng như trong
quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cỏc cụ cỏc bỏc nông dân tại thôn Vĩnh
Quỳnh – Thanh Trì – Hà nội, Thôn Khuyến Lương – Hoàng Mai –Hà Nội,
Ninh Sở-Thường Tớn-Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi

Bảng 5: Thời gian phát dục của trứng sâu róm 4 gù (2 vàng 2 vệt đen).
Error: Reference source not found
Bảng 6: Thời gian phát dục, tỉ lệ sống của sâu non ở nhiệt độ trung bình
30ºC, độ ẩm là 81%. Error: Reference source not found
Bảng 7: Thời gian phát dục, tỉ lệ sống của sâu non ở nhiệt độ trung bình
31.7C, độ ẩm trung bình 78.2% Error: Reference source not
found
Bảng 8: Thời gian phát dục và tỉ lệ vũ hóa của pha nhộng sâu róm 4 gù
(2 vàng 2 vệt đen). Error: Reference source not found
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành nông nghiệp từ trước đến nay là một trong những ngành quan
trọng của thế giới. Nó cung cấp lương thực , thực phẩm cho con người . Cây
lạc là một trong số cây trồng đó. Lạc là cây trồng công nghiệp ngắn ngày có
giá trị kinh tế cao, đứng thứ hai trong số các cây trồng có dầu (Đoàn Thị
Thanh Nhàn , 1996). Bên cạnh đó , lạc cũng là cây thực phẩm có vai trò quan
trọng trong đời sống con người. Hạt lạc là thức ăn giàu chất dinh dưỡng, với
1g lạc thỡ cú : lipit (38-50%); protein (22-27%); 15,5% gluxit ; 2,5% chất xơ;
68mg vitamin P và nhiều loại vitamin B, C, E, F,… bổ sung cho con người
(Phạm Văn Thiều, 2001; Hill and Waller, 1985). Thõn, lỏ, khô dầu lạc là
nguồn cung cấp thức ăn nuôi gia súc, gia cầm. Hơn nữa, lạc có hương thơm,
mùi vị rất đặc biệt mà không một loại thực phẩm nào có được. Ngoài ra, lạc
còn là một trong năm mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị nước ta. Khối
lượng lạc xuất khẩu đứng thứ hai sau lúa (Cao Đức Phát, 1991; Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn, 1999). Không những thế, lạc còn là loại cây
trồng lý tưởng trong hệ thống luân canh và cải tạo đất. Tuy nhiên, cũng như

được sử dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến. Do đó các nhà khoa học đã nghiên
cứu đồng thời về sâu hại và thiên địch của chúng. Để đánh giá được tầm quan
trọng vai trò của chúng trong cân bằng sinh thái.
Vì thế, được khoa Công Nghệ Sinh Học Viện Đại Học Mở Hà Nội cho
phép, dưới sự giúp đỡ của Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thành chúng tôi đã thực tập
và viết khóa luận với đề tài “ Điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành
phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của loài sâu róm 4 gù
(2 vàng 2 vệt đen)-Orgyia sp. trên cây lạc tại vùng ngoại thành Hà Nội vụ
Xuõn Hố 2012”.
2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
A. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
- Thu được số liệu về thành phần các loài côn trùng (hại và lợi) cú trên cây
lạc.
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
2
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
- Thu được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu róm 4 gù
(2 vàng 2 vệt đen) - Orgyia sp. trên cây lạc  tìm hiểu vai trò của chúng
trong quần xã qua đó có hướng tác động đạt hiệu quả.
- Nghiên cứu mạng lưới thức ăn của cỏc sõu róm 4 gù (2 vàng 2 vệt
đen) - Orgyia sp., nhằm tìm hiểu vai trò của chúng trong chuỗi thức ăn 
chọn được điểm cần tác động làm thay đổi cân bằng sinh thái trong quần xã
theo hướng có lợi cho sự phát triển sản xuất về cây lạc.
- Dựa trên nhưng điều trên chúng ta tìm ra các giải pháp sinh thái để ổn
định về mặt thành phần loài côn trùng và mật độ cá thể loài sâu róm 4 gù (2
vàng 2 vệt đen) - Orgyia sp. trên cây lạc theo hướng cân bằng động có lợi cho
việc phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường sống trong lành.
B. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

vệ môi trường.

Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
4
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
PHẦN I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Lạc là một trong những cây công nghiệp ngắn ngày quan trọng đối với
đất nước ta cũng như nhiều nước khỏc trờn thế giới. Nờn trờn thế giới cũng
như Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lạc. Trong đó vấn đề
sâu hại và thiên địch của chúng luôn luôn được nhắc đến nhiều và cũng có rất
nhiều đề tài nói về vấn đề này. Tuy nhiên do điều kiện khí hậu , đặc điểm
từng vùng địa lý khác nhau và các kĩ thuật canh tác , gieo trồng lạc cũng khác
nhau. Nờn đó ảnh hưởng đến thành phần sâu hại và thiên địch của chúng. Do
đó chúng tôi xin được nêu ra tình hình sâu hại và thiên địch của chúng ở trong
và ngoài nước.
1. Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc ở trong nước và ngoài nước .
Lạc là cây trồng công nghiệp ngắn ngày quan trọng của nước ta. Nú
gúp một phần quan trọng vào trong nghành nông nghiệp. Tuy nhiên cây lạc
cũng như các cây trồng khác, cũng có rất nhiều loại sâu hại bệnh phá hoại
gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và làm giảm năng suất của chúng. Do
điều kiện thời tiết, cỏc vựng địa lí khác nhau, vào từng vụ và mùa khác
nhau mà mức độ sâu bệnh hại khác nhau. Ở những giai đoạn sinh trưởng
khác nhau thỡ cú những loại sâu bệnh khác nhau như : Giai đoạn cây con
đến cây bắt đầu ra hoa thỡ cú nhúm sõu ăn lá, nhúm chớch hỳt, nhúm bệnh
cây (bệnh đốm lá , bệnh gỉ sắt); Trong giai đoạn cây ra hoa đến thu hoạch :
cũng cú cỏc loại sâu như ở giai đoạn trên, và cũn cú thiệt hai do các mối,
bệnh thối quả .

Theo kết quả điều tra cơ bản thành phần côn trùng trên cây trồng nông
nghiệp trong 2 năm 1967-1968 của Viện Bảo Vệ thực vật thỡ trờn lạc cú trờn
40 loài côn trùng hại, trong đó nhúm sõu ăn lá lạc chủ yếu là sâu khoang, sâu
xanh, sâu cuốn lỏ, sõu đục quả, sâu róm. Chúng có mật độ cao và gây hại
mạnh từ lúc cây lạc có bốn lá lớn tới khi ra hoa và quả chắc, nhúm sõu chớch
hỳt chủ yếu là rầy xanh và bọ trĩ. Tỷ lệ gây hại của chúng ở giai đoạn cây con
từ 45-47%. Nhúm sõu hại trong đất chủ yếu là sùng hại lạc (ấu trùng ăn rễ,
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
6
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
củ) gồm ấu trùng bọ dừa nâu, bọ cánh cam, tỷ lệ cây bị sùng hại từ từ 1-27%
và năng suất lạc bị giảm tới 40%. Đặc biệt ở những vùng đất cát ven sông
thường bị các loại sùng (ấu trùng cánh cứng) gây hại nặng.[34].
Kết quả điều tra thành phần sâu hại lạc ở Nghệ An, Hà Tây, Hà Nội của
Phạm Thị Vượng (1998) đã xác định được 46 loài sâu hại lạc thuộc 26 họ của
8 bộ trong đó sâu hại lạc bộ cánh vẩy có 14 loài (6 họ) chiếm tỉ lệ cao nhất
(30,43%)[34].
Ranga Rao (1996) đã thống kê được 51 loài sâu hại lạc thuộc 27 họ của
9 bộ ở Miền Bắc Việt Nam, trong đó có 47 loài gây hại trên đồng ruộng, 4
loài gây hại trong kho. Bộ cánh vảy và bộ cánh cứng có số laoif gây hại nhiều
nhất là 14 loài (chiếm 27,5% tổng số loài) bộ cánh thẳng có 9 loài, các bộ còn
lại mới chỉ xác đinh được 1- 4 loài. Trong đó có 8 loài gây hại đáng kể là sâu
khoang (Spodotera litura), sâu đục hoa quả và quả đậu (Maruca testulatis),
sâu xanh (Helicoverpa armigera), bọ phấn (Bemisia sp), rầy xanh (
Empoasca motti ), bọ trĩ ( Scirtohrips dorsalas ), rệp ( Aphiscracivora ) và sâu
đục lá (Aproaerema modicella).
Theo kết quả nghiên cứu của Lương Minh Khôi và CTV (1991) cho biết
trên ruộng lạc ở vùng Hà Nội có 21 loài thường xuyên xuất hiện gây hại, song

keo da láng, sâu đục hoa và quả. Nguyễn Văn Cảm (1983) đã ghi nhận được
43 loài côn trùng hại lạc tại một số tỉnh trồng lạc ở phía Nam Việt Nam.
Nguyễn Thị Chắt và các cộng tác viên (1996) cho biết, tại vùng chuyên canh
lạc như Tràng Bàng, Gò Dầu – Tây Ninh, Đức Hòa- Long An, Củ chi –
Thành Phố Hồ Chí Minh, trong vụ đụng xuõn 1995 – 1996 diện tích lá lạc bị
hại tới 81% và năng suất bị giảm 18 – 30% do sâu khoang (Spodoptera) gây
nên.
Nguyễn Văn Cảm (1983) đã ghi nhận được 43 loài côn trùng hại lạc tại
một số tỉnh trồng lạc ở miền Nam. Nguyễn Thị Chắt (1996) và CTV (1996)
[18] cho biết tại vùng chuyên canh lạc như Trảng Bàng, Gũ Dầu-Tõy Ninh,
Đức Hũa-Long An, Củ Chi-Hồ Chí Minh, trong vụ đụng xuõn 1995-1996
diện tích lá lạc bị hại tới 81% và năng suất bị giảm 18% do sâu khoang
(S.litura) gây ra.
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
8
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
Trong những năm 1995-1996, các chuyên gia ICRISAT đã phối hợp với
cán bộ trong nước tiến hành điều tra, giám định thành phần sâu hại lạc và
nghiên cứu phòng ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở miền Bắc có
tới 47 loài sâu hại trên đồng ruộng, các loài sâu hại quan trọng, gây thiệt hại
đáng kể như: sâu khoang, sâu róm, sâu đục quả, sâu đục hoa, sâu xanh, bọ trĩ,
bọ phấn, rệp, đục lá và còn cả sùng trắng. Ở miền Nam có 28 loài sâu gây hại
trên đồng ruộng các loài gây thiệt hại lớn như: sâu khoang, sâu xanh, sâu róm,
sâu keo da láng, sâu đục lỏ, sõu đục hoa và quả.
1.2.Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc ở nước ngoài.
Thiệt hại do sâu hại hàng năm lờn tới 15-20% sản lượng [45]. Để hạn
chế thiệt hại do sâu gây ra trên thế giới trong những năm gần đây đã có nhiều
tác giả quan tâm nghiên cứu về sâu hại lạc.

lạc đặc biệt có 11 loài thường xuyên xuất hiện và phá hỏng đáng kể.
Tại Ấn Độ người ta đã tìm thấy 3 loài bọ trĩ gây hại chủ yếu cho lạc có
tới 2500 loài rầy xanh phá hoại trên hầu hết các cây trồng trong đó có nhiều
loại hại lạc [34] .Cũng tại Ấn Độ, trong vụ khô 1980-1981 và 1982-1983,
Ranga Rao và Wightman (1993) cho biết năng suất lạc giảm 17% do bọ trĩ
gây ra. Tại một số vùng lạc Ấn Độ, loài Scirtothrips dosalis làm giảm năng
suất lạc quả 29% ( Phạm Thị Vượng, 1998) [34].
Tại Thái Lan có 30 loài sâu hại trờn cỏcc cánh đồng lạc trong đó có 10
loài quan trọng làm giảm năng suất (Aphirat Arunin, 1978) [42].
Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học ở các nước khác
nhau như Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan, Cũng đã xác định được đặc tính sinh
học sinh thái của nhiều loài sâu hại bộ cánh vẩy, bỏ trĩ, rầy xanh, Kết quả
nghiên cứu của ICRISAT năm 1982 cho rằng rầy xanh có thể làm thiệt hại
90% năng suất của cây lạc. Ngoài việc gây hại trực tiếp rầy còn là trung gian
truyền bệnh, chẳng hạn loài Orosius argentatus, được biết là trung gian
truyền virus bệnh khảm lạc và nhiều bệnh khác cho cây trồng khác.[45]
2. Tình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc ở trong và ngoài nước.
Cùng với sự tồn tại của các loài sâu hại trên cây lạc là những loài thiên
địch của chúng. Đây là những loài có ích trong việc kìm hãm các loài sâu hại
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
10
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
tiềm năng trong tầm kiểm soát [34].
2.1. Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc ở trong nước.
Ở Việt Nam hiện nay thì sự nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lạc vẫn
chưa được chú trọng nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có những
nghiên cứu rất quan trọng trong việc phòng trừ sâu hại lạc bằng thiên địch của
chúng

cánh cứng chân chạy, trong đó 8 loài hiện chưa phân loại được. Các loài ghi
nhận được tập trung nhiều nhất ở tộc Hapalini sau đó là tộc Odacanthini.
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng (1995)cho biết có 9 loài chân
khớp ăn thịt sâu hại lạc ở Nghệ An, Hà Tây, Hà Bắc. Trong đó có 4 loài thuộc
bộ Coleoptera và 5 loài thuộc bộ Araneida. Cũng tác giả này (1996) khi
nghiên cứu về ký sinh sâu non sâu khoang ( Spodoptera litura ) hại lạc tại
Nghệ An, Hà Tây, Hà Bắc đã phát hiện được 5 loài ong và ruồi ký sinh thuộc
3 họ của 2 bộ. Bộ Hymenoptera có 2 loài thuộc họ Ichneumonidae, bộ Diptera
có 3 loài thuộc 2 họ: Họ Tachinidea có 2 loài, họ Phoridae có 1 loài. Tỷ lệ ký
sinh dao động từ 1,99%- 4,91%, tỷ lệ sinh vào trung tuần tháng 5, thấp nhất ở
Hà Bắc rồi đến Nghệ An cao nhất ở Hà Tây. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ ký sinh
thấp nhất ở những vùng nông dân phun thuốc trừ sâu hóa học nhiều lần/vụ.
Phải chăng số lần phun thuốc đã là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ
lệ ký sinh tự nhiên [19].
Ở Miền Nam nước ta, các loài ký sinh cũng làm giảm đáng kể đến
trứng sâu khoang và đóng góp làm giảm 5-10% mật độ sâu non trên đồng
ruộng. Tuy vậy một số nấm và virus lại có vai trò đáng kể trong hạn chế
mật độ sâu non. Ở nhiều nơi tỉ lệ sâu khoang (Spodoptera litura) bị nhiễm
đạt tới 30% [24].
Theo Nguyễn Thị Chắt tại Trảng Bài - Tây Ninh, Củ Chi – Thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy, trên đồng ruộng lạc động vật ăn mồi phần lớn là nhện
lớn, bọ rùa tập trung chủ yếu vào thời gian nửa đầu vụ. Về kí sinh đa dạng
hơn bao gồm ong kén trắng, ong kén vàng, nấm kí sinh màu trắng – xanh, vi
khuẩn gây chết nhũn, virus gây chết treo…Kớ sinh xuất hiện chủ yếu vào vụ
sau mùa lạc. Ngoài ra tác giả còn cho biết sâu khoang không bị kí sinh nhưng
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
12
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801

13
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
non vẽ bùa và sâu khoang hại lạc cho thấy có 38 loài kí sinh. Tỷ lệ chết bởi ký
sinh khá cao, biến động từ 6-90%. Trung bình trong mùa mưa 36% và sau
mùa mưa là 40% nhờ đó làm giảm đáng kể mật độ sâu khoang và sâu vẽ bựa
trờn sinh quần lạc [32].
Smith và Barfield (1982) đã tập trung nghiên cứu tác nhân gây chết của
các loài sâu xanh (Heliothis virescens) ở vùng Đông Nam nước Mỹ. Kết quả
cho thấy có từ 3-38% trứng các loài sõu trờn bị ong mắt đỏ (Trichogramma
sp) ký sinh, các loài ký sinh sâu non (Microplitis croceipes, Ucelatoria
armigera) và virus Nuclear polyhedrosis đã làm giảm mật độ sâu xanh hại lạc
xuống dưới ngưỡng hại kinh tế.
Theo Smith và Johnson (1989) trên cây lạc không phun thuốc tại Texas
(Mỹ) tỷ lệ chết của sâu xanh trong một lứa sâu từ 87,1% - 96,5% tác giả xác
định tác nhân gây chết là do 13 loài ký sinh, 5 loài ăn thịt, một số loài nấm,
virus gây bệnh.
Bên cạnh nhúm sõu ăn lá thỡ nhúm sõu chớch hỳt như rầy , rệp , bọ trĩ
cũng gây hại đáng kể. Nghiên cứu về côn trùng ký sinh bọ trĩ hại lạc
Ananthaksishnan (1984) cho biết các loài thuộc nhóm ong kí sinh Chalcid ,
Eulophids. Mymarids, Trichogrammatics là những loài ký sinh chủ yếu của
bọ trĩ và chúng có khả năng hạn chế sự phát triển của bọ trĩ khá rõ nét. Điều
đó cho thấy các loài côn trùng ký sinh có vai trò quan trọng trong việc hạn
chế sự phát triển của sâu hại cây trồng trên đồng ruộng.
Nhện bắt mồi ăn thịt đã được nghiên cứu khá chi tiết tại texas trong điều
kiện không phuc thuốc từ 1981-1982 (Agnew và Smith, 1989), phân tích,
định loại 25.000 cá thể nhện thu thập được thì thấy chúng thuộc 18 họ , 79
giống. Tỷ lệ giữa nhện săn bắt mồi và nhện kéo màng là 10/1 điều đó chứng
tỏ thành phần nhện bắt mồi ăn thịt trên sinh quần ruộng lạc rất phong phú.
Bên cạnh đó có nhiều loại ăn mồi không kém phần quan trọng đối với sâu hại

- Phân hóa học NPK trồng cây 1 bao
- Lọ độc để diệt côn trùng : 1 lọ 250ml
B – Dụng cụ :
- Vợt côn trùng : 1 chiếc
- Panh gắp côn trùng : 1 chiếc
- Ống hút côn trùng: 1 ống
- Kim ghim côn trùng: 30 chiếc
- Lồng nuôi côn trùng 50 x 50 x 50 cm: 1 chiếc
- Giá đựng lọ nuôi côn trùng (Hình 1) 1 chiếc
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
16
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
- Lọ nhựa nuôi côn trùng: 30 lọ
- Sổ ghi nhật ký nuụi sõu: 1 quyển
- Sổ ghi thí nghiệm: 1 quyển
- Sổ điều tra: 1 quyển
- Cặp kẹp nhật kí điều tra: 1 cái
- Bút ghi 2 ngũi(1 ngũi chỡ và 1 ngòi mực) 1 chiếc
- Giấy kẻ sẵn để ghi các loại côn trùng : 20 tờ
- Bút lông: 1 chiếc
- Lồng nuụi sõu bịt lưới: 1 chiếc
C – Thiết bị:
- Kính lúp cầm tay: 1 cái
- Kính lúp soi nổi: 1 cái
- Ôn, ẩm kế treo tường: 1 cái
- Bông thấm nước:
- Dao: 1 cái
-Kéo: 1 cái

trưởng của cây). Điều tra tại 3 khu khác nhau, mỗi khu điều tra 5 điểm chộo
gúc. Mỗi điểm điều tra 5 cây. Điều tra cả 4 hướng (Đụng, tõy, nam, bắc) và
điều tra từ trên xuống gốc cây. Kiểm tra cả 2 mặt lá và thu tất cả các pha phát
triển của mọi loài côn trùng. Vật mẫu được chứa trong lọ nhựa trên miệng bịt
vải màn mang về phòng phân tích, xác định tên khoa học của loài, tỷ lệ ký
sinh…Loài nào cần nuôi sinh học thỡ nuụi, loài nào cần ngâm giữ mẫu thì
cho vào cồn 70
0
.
2.3.2. Phương pháp ghi chép điều tra:
Ghi nhật ký điều tra các thông tin: Ngày điều tra, thời tiết ngày điều tra,
sinh trưởng của cây trồng ở từng thời điểm điều tra, các loài côn trùng thu
được. Pha phát triển của loài và số lượng cá thể của từng loài thu được trên
m
2
. Vật mồi (côn trùng bị ăn) của loài côn trùng bắt mồi.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Nghiên cứu
Khoa Công Nghệ Sinh Học
Viện Đại Học Mở Hà Nội
19
Khoá luận tốt nghiệp
SV. Vũ Văn An - 0801
sinh thái, sinh hoc):
a. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố sinh thái (ôn, ẩm độ) đến trạng
thái sinh học của loài sâu róm 4 gù (2 vàng 2 vệt đen) - Orgyia sp. trên cây
lạc.
(Nuôi côn trùng vào các thời gian khác nhau – ít nhất 2 lần)
1. Ảnh hưởng của T
0
C và W% đến thời gian phát triển, tỷ lệ sống sót của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status