Khoá luận tốt nghiệp nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài tuyến trùng ăn thịt bộ mononchida tại vườn quốc gia cát bà, thành phố hải phòng - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN

ĐẶNG THỊ LOAN

NGHIÊN CỨU Sự ĐA DẠNG THÀNH PHÀN LOÀI TUYẾN TRÙNG ĂN THỊT Bộ
MONONCHIDA
TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ,
THÀNH PHÓ HẢI PHÒNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

••••

Chuyên ngành: Động vật học
Ngưòi hưóng dẫn khoa học: TS. Vũ Thị Thanh Tâm

HÀ NỘI, 2015

Trước tiên, em muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS.VŨ Thị Thanh Tâm công
tác tại phòng Tuyến trùng học,Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật và TS. Đào Duy Trinh giảng
viên trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Sinh


-

KTNN, trường Đại hoạc sư phạm Hà Nội 2 đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và rèn luyện tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Lãnh Đạo Viện Sinh Thái Và Tài Nguyên Sinh Vật, các
anh chị Phòng Tuyến Trùng Học đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện


Tỷ lệ giữa chiều dài cơ thế chia cho chiều dài thực quản

c

Tỷ lệ chiều dài cơ thể chia cho chiều dài đuôi

c’

Tỷ lệ chiều dài đuôi chia cho chiều rộng cơ thế tại hậu môn

V

Tỷ lệ giữa chiều dài từ đầu đến âm hộ chia cho cả chiều dài
cơ thể

L

Chiều dài cơ thể

Amphids

Một đôi cơ quan cảm thị hóa học nằm ở phần đầu

Buccal cavity Xoang miệng
Monodelphic Kiểu hệ sinh dục chỉ có một buồng trứng ở con cái Didelphic
Kiếu hệ sinh dục có hai buồng trúng ở con cái
Vulva

Âm hộ, lỗ sinh dục cái

trong chuỗi sinh thái của các hệ sinh thái đất và thủy vực.Trong chuỗi sinh thái
này tuyến trùng đóng vai trò chủ yếu trong việc phân giải các chất hữu cơ thành
các phần cơ bản. Cùng với nhóm tuyến trùng sống tự do trong nước, chúng có vai
trò quan trọng đối với một trong những phương pháp nghiên cứu đánh giá chất
lượng môi trường mà sử dụng nhóm tuyến trùng này như nhóm sinh vật chỉ thị.
Nghiên cứu về tính đa dạng của nhóm tuyến trùng này và khả năng sử dụng chúng
như nhóm sinh vật chỉ thị trong đánh giá môi trường đất đã được tiến hành ở nhiều
nơi, đặc biệt là những nước có thế mạnh về nghiên cứu tuyến trùng như CHLB
Nga, Hungary, Ấn Độ, Mỹ, Bỉ, CHLB Đức và Hà Lan. Tuy nhiên ở Việt Nam do
nhiều nguyên nhân khách quan, việc nghiên cứu về nhóm tuyến trùng này từ trước
tới nay chưa được quan tâm đến và cũng vì thế mà các cơ sở dữ liệu của nhóm
tuyến trùng này còn rất hạn chế, không đầy đủ và không thể biên tập thành sách
tham khảo phục vụ cho nghiên cứu khoa học cũng như trong giảng dạy.
Tuyến trùng ăn thịt bao gồm toàn bộ các loài bộ Mononchida, một ít loài
thuộc các bộ aphelenchida, rhabditida, enoplida và dorylaimida. Ngoài vai trò


quan trọng của nhóm tuyến trùng này trong các hệ sinh thái đất trong việc phân
giải các chất hữu cơ làm giàu cho đất, chúng còn được sử dụng như tác nhân sinh
học trong quá trình đánh giá chất lượng môi trường đất và đặc biệt các loài tuyến
trùng ăn thịt thuộc bộ mononchida từ những năm 70 của thế kỷ này đã được nhiều
quốc gia sử dụng trong đấu tranh sinh học phòng trừ nhiều loài sâu bệnh hại,
chúng còn được coi như những thiên địch tiềm năng, có lợi trong quá trình làm
giảm mật độ quần thể của nhiều côn trùng và tuyến trùng có hại cho nông nghiệp
trong thiên nhiên.
Thức ăn hàng ngày của chúng là động vật đất nhỏ như protozoa, trùng bánh
xe, giun it tơ có kích thước bé, enchytraeid, tuyến trùng sống tự do trong đất và
tuyến trùng ký sinh thực vật... Nghiên cứu tuyến trùng ăn thịt mà trước hết là điều
tra nghiên cứu và phân loại nhằm xác định được thành phần loài tuyến trùng,
trong đó xác định được những loài là thiên địch có tiềm năng lớn cho đấu tranh


Phân tích mẫu thu thập được sau khảo sát đế xác định thành phần

loài tuyến trùng.
3. Nội dung nghiên cún
-

Xác định thành phần loài tuyến trùng tại Vườn quốc gia Cát Bà.
- Mô tả một số loài tuyến trùng là ghi nhận mới cho khu hệ tuyến trùng Việt

Nam
4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lí luận: Nhằm góp phần bố sung vào nguồn tài liệu nghiên cứu sự
đa dạng của loài tuyến trùng ăn thịt tại Vườn quốc gia Cát Bà.
Ý nghĩa thực tiễn: Đe tài sẽ góp phần khôi phục, bảo vệ
tính đa dạng tại các vườn quốc gia.
Chương 1. TỐNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về đối tượng, lĩnh yực nghiên cún
Tuyến trùng ăn thịt Bộ Mononchida thường có kích thước nhỏ.Hầu hết tuyến
trùng có dạng hình thoi hoặc sợi chỉ (Gk. Nema =sợi) và thiết diện ngang của cơ
thế tròn, thuôn dần tương đối mạnh về phía đầu và phía đuôi, hoàn toàn không có
một phần phụ nào để di chuyển.
Cơ thể tuyến trùng gồm 3 phần : đầu, mình và đuôi. Phần sau của cơ thể gọi
là đuôi, phần trước là đầu và phần giữa là thân. Nhưng phần trước của cơ thể
không phải luôn luôn thích hợp với tên gọi là đầu vì phần này không tách biệt
hoàn toàn với đường viền cơ thể và không có “não” như ở các động vật bậc cao.
Thay vào đó, phần trước được gọi bằng các tên khác nhau như vùng môi, vùng
đầu hoặc đơn giản hơn là phần trước của cơ thể.
Bao bọc toàn bộ cơ thế tuyến trùng là vỏ cutin tương đối bền và có thể co
giãn được. Trên vỏ cutin có các lỗ của hệ tiêu hoá, sinh dục, bài tiết, một số các lỗ

Chính vì vậy, “Bước đầu nghiên cứu thành phần loài tuyến trùng ăn thịt

bộ Mononchỉda tại Vườn quốc gia Cát Bày thành phố Hải Phòng ” là


nghiên cứu đầu tiên được thực hiện về tuyến trùng ăn thịt bộ Mononchida tại
Vườn Quốc Gia này.
1.4 Một vài nét khái quát về Vườn quốc gia Cát Bà
1.4.1.

Vị trí địa lí và điều kiên tự nhiên

1.4.1.1

VỊ TRÍ ĐỊA LÍ Vườn quốc gia Cát Bà nắm cách trung tâm thành phốHải

Phòng 30 hải lý về phía đông. Phía bác giáp xã Gia Luận, phía Đông giáp Vịnh
Hạ Long, phía Tây giáp thị trấn Cát Bà và các xã Xuân Đám, Trân Châu, Hiền
Hào.
Tổng diện tích tự nhiên của vườn là 16.196,8 ha. Trong đó có 10.931,7 ha
rừng núi và 5.265,1 ha là mặt nước biến. Ì.4.1.2. ĐIỀU KIÊN TỰ NHIÊN
- Khí hậu, thời tiết: Đặc trung bởi nhiệt đới gió mùa với mùa mưa và mùa
khô rõ rệt, chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu ven biển, nhiệt độ trung bình hằng
năm là 25oC đến 28oC , tống lượng mưa binh quân 1700-1800mm, mùa mưa từ
tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến thang 3 năm sau.ĐỘ ấm trung bình
khoảng 85%, cao nhất vào tháng 4, tha nhất vào tháng 1
- Địa hình:
Vườn quốc gia Cát Bà gồm một vùng núi non hiểm trở có độ cao
(tại khu vực đỉnh Ngự Lâm).
Thành phần thực vật có 741 loài khác nhau, nhiều loại cây gỗ quý như: trai
lý, lát hoa, lim xẹt, dẻ hoa, kim giao, gõ trắng, chò đãi. Thực vật ngập mặn có 23
loài, rong biển 75 loài, thực vật phù du 199 loài.

-

Động vật
Trên khu vực Vườn có Có 282 loài trong đó 32 loài thú, 78 loài chim, 20 loài
bò sát và lưỡng cư, 11 loài ếch nhái. Đặc biệt có loài voọc Cát Bà(tên khoa học:
TRACHYPỈTHECUS POLIOCEPHALUS phân loài POLỈOCEPHALUS) tức voọc

đầu vàng (một số tài liệu gọi nhầm là voọc đầu trắng, tên khoa
HỌC:TRACHỴPITHECUS POỈỈOCEPHAỈUS phân loài LEUCOCEPHALUS chỉ có

ở Trung Quốc) là loài đặc hữu hẹp của Cát Bà, hiện tại chỉ còn 66 cá thể, chỉ còn
phân bố ở các núi ven bờ biển (theo số liệu cung cấp của chi cục kiểm lâm VQG
Cát Bà, năm 2007).Động vật phù du 98 loài, cá biển 196 loài, san hô 177 loài.
Như vậy số liệu trên đã cho thấy động thực vật ở khu vực vườn quốc gia Cát
Bà rất phong phú và đa dạng. Như vậy số liệu trên đã cho thấy động thực vật ở
khu vực vườn quốc gia Cát Bà rất phong phú và đa dạng.Tuy nhiên, chưa hề có
một nghiên cứu tống quan hay tống kết nào về khu hệ tuyến trùng tại Vườn quốc


gia Cát Bà. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ bổ sung thêm và góp phần
làm hoàn thiên hơn cho khu vực này.
Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN cửu
2.1.


-

Tiến hành khảo sát và thu mẫu 1 lần/năm vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 hàng
năm.

-

Các mẫu đất được thu ngẫu nhiên tại mỗi sinh cảnh khác nhau 24 mẫu đất tại
VQG Cát Bà (Hải Phòng).

-

Mau đất được lấy tại các vị trí và sinh cảnh khác nhau; đất mùn tơi xốp; được định
lượng 250g/mẫu, ghi rõ thứ tự, thời gian, sinh cảnh và địa điếm thu mẫu.

2.4.2.
-

Phương

pháp tách lọc tuyến trùng và lên tiêu bản

Các mẫu đất được tiến hành tách lọc tuyến trùng theo phương pháp dùng bộ rây
lọc có các kích thước lỗ 1000-250-100-63 |um (Cobb, 1918) kết họp với phương
pháp rây lọc tĩnh (cải tiến từ phương pháp phễu lọc Baermann). Tuyến trùng sau
đó được thu lại bằng rây lọc có kích thước lỗ 40 ỤM.

-

Tuyến trùng thu được sẽ được xử lý nhiệt 60°c để định hình cơ thể, sau đó được


-

Phân loại dựa theo hệ thống đã chỉnh lý và bổ sung của M. Shamin Jairapuri,
1992; Andrassy, 2009 và các tài liệu liên quan.
Chưoìig 3. KẾT QUẢ

3.1.

Thành phần các loài tuyến trùng ăn thịt bộ Mononchida đã gặp ử

Vườn quốc qia Cát Bà
Bảng 3.1 Thành phần các loài tuyến trùng ăn thịt đã gặp ở Vườn quốc gia
Cát Bà


STT
I

Taxon
Họ Anatonchidaejairaipuri, 1969
Giông Miconchus Andrassy,1958

1

Loài Mỉconchus kasaensỉs Mulvey & Dickerson, 1970

2

Loài Mỉconchus studeri(Steiner, 1914) Andrassy, 1958

Loài Iotonchus PARACUTUSNinciguera & Oreselli, 2000

7

III

Loài IOTONCHUS SỈNGAPORENSỈS Ahmad & Baniyamuddin &
Jariajuri
Họ MononchidaeChitwood, 1937
Giông Mylonchulus (Cobb, 1916) Altherr, 1953

1

2

Loài MYLONCHULUS BREVỈCAUDATUSỈ(Cobb, 1917) Altherr,
1954
Loài MYLONCHULUS CONTRACTUS Jairajpuri, 1970

Theo thống kê có 12 loài thuộc 3 giống và 3 họ Monochida, trong đó họ
Anatonchidae có 3 loài thuộc 1 giống (Miconchus), họ Mylonchulidae có 2 loài
thuộc giống Mylonchulus, họ Iotonchidae có 7 loài thuộc giống Iotonchus.
Họ Iotonchidae có 7 loài có số lượng nhiều nhất chiếm khoảng 58.3%, họ
Anantonchidae có 3 loài chiếm 25%, họ Mylonchulidae có 2 loài chiếm 16.7 %.
Đây là ghi nhận đầu tiên về tuyến trùng ăn thịt bộ Mononchida tại Vườn
quốc gia Cát Bà, trong đó có 3 loài là ghi nhận cho khu hệ Việt Nam đó là:
IOTONCHUS CANDELABRỈ, I.PARACUTUS VHL.SINGAPORENSIS.


3.2 Mô tả của các họ Mononchỉda đã bắt gặp ở Việt Nam

từ đáy. Vách xoang miệng bên bụng khoong có răng nhỏ.


Hệ sinh dục kép với hai nhánh buồng trứng trải về phía trước và phía sau với
chiều dài 193-220 jum. Cơ thắt rất phát triển ở ranh giới tiếp giáp giữa tử cung với
ống dẫn trúng. Đuôi dài hình chóp có chiều dài 111-116 ỊLim, hoặc bằng 2,5-2,9
chiều rộng cơ thể tại hậu môn với mút đuôi tròn tù. Tuyến đuôi không phát triển,
ống nhả (spinneret) không nhìn thấy ở đuôi.
Con đực: Có cấu tạo tương tự con cái, gai giao cấu cong về phía bụng dài 6676 |am, trợ gai cong ở giữa với hai đầu mảnh, dài 22-30 |um. Có 12-13 nhú sinh
dục.
Phân bố:
Việt Nam: Yên Thủy (Hòa Bình), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Cát Bà (Hải Phòng). Thế
giới: Canada và Hoa Kỳ.
Bảng 3.2 Bảng số đo tuyến trùng Miconchus kasaensis
Theo Nguyễn Vũ Thanh,

Cát Bà

2000
Con cái
n

2

3

L

1.79-1.95


68-72

36-42.3

36-40.5

22.5-23.4

22.5-24.8

?

354.5-372.7

110.7-115.2

92.25-112.5

Chiêu dài xoang miệng
Chiêu rộng xoang miệng
Chiêu dài thực quản
Chiêu dài đuôi

Các số đo của loài MỈCONCHUS KASAENSỈS phù hợp với các số đo của loài đã
phát hiện trước đó ở Việt Nam.


A,B.C,D 50

D

Việt Nam: Thái Nguyên, Cúc Phương(Ninh Bình), Bạch Mã, Cát Bà (Hải
Phòng)...
Thế giới: Thái Lan, Ấn Độ.
Bảng 3.3 Bảng số đo tuyến trùng Mỉconchus studerì
Theo Nguyên Thị Thu,
2001 (Cúc Phương)
Con cái

Cát Bà

Con cái

n

5

6

L

2.2-2.4

1.5-2.0

a

25-32

20.2-31


Chiêu rộng xoang miệng

27-30

24.6-30

?

427.2-472.7

130-140

117-202

Chiêu dài thực quản
Chiêu dài đuôi


Các số đo của loài MICONCHUS STUDERỈ phù hợp với các số đo của
loài đã phát hiện trước đó.

A.c 50
A“11
B 50 í“11

Hình 3.2 Mỉconchus studeri (A-C)

A: Cấu tạo phần đầu cơ thể B: cấu tạo phần đuôi cơ thể
C:Cấu tạo hệ sinh sản con cái


1999
Con cái

Con cái

n

10

7

L

1.36-1.7

1.4-1.54

a

22.8-28.2

20.8-25.4

b

3.6-4

3.5-4.0

c


105-112

Chiêu dài xoang miệng
Chiêu rộng xoang miệng
Chiêu dài thực quản
Chiêu dài đuôi

Các số đo của loài MỈCONCHUS TRỈODONTUS phù hợp với các số đo của loài
đã phát hiện trước đó.

A]

By'\
t.


A.C50
BM'«
50

»


Hình 3.3.Mỉconchus triodontus (A-C)

A: Cấu tạo phần đầu cơ thể B: cấu tạo phần đuôi cơ thể C: Cấu
tạo hệ sinh sản con cái
3.2.2.


Thủy(Hòa Bình), Cát Bà (Hải Phòng)....
Thế giới:Thái Lan, Ấn Độ,...
Bảng 3.5 Bảng số đo tuyến trùng Iotonchus chantaburensis
Theo Nguyễn Vũ Thanh,

Cát Bà

2001
Con cái

Con cái

n

20

9

L

0.84-1.25

0.9-1.2

a

19.2-27.8

20-29


Chiêu rộng xoang miệng

14.1-18.9

14-18

7

238-290

140-187.2

157-200

Chiêu dài thực quản
Chiêu dài đuôi

------------- 7---------------------------------------- -------------------------------------------------------------------------------------7-------------------------Các sô đo của loài Iotonchus chantaburensỉsphù hợp với các sô đo của loài
1

đã phát hiện trước đó ở Việt Nam.


A
í\
\
1. 1
\

c


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status