Thành phần loài thực vật lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) ở khu vực Thác Kèm vườn Quốc gia Pù Mát tỉnh Nghệ An - Pdf 31

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các nguồn tài nguyên mà trái đất cung cấp có vai trò vô cùng quan trọng
đối với cuộc sống của con người, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng. Rừng
không những đem lại cho con người những nguồn lợi vô giá như cung cấp gỗ,
củi, dược liệu, động, thực vật... Rừng còn giữ vai trò rất to lớn trong việc điều
hoà khí hậu, góp phần ngăn chặn lũ lụt, hạn hán, thiên tai, giữ vững sự cân
bằng sinh thái… Hiện nay, diện tích rừng ngày càng giảm suốt một cách nhanh
chóng, chỉ tính trong giai đoạn 1990-1995 ở các nước đang phát triển đã có hơn
65 triệu ha rừng bi mất đi, đến năm 1995 diện tích rừng trên thế giới chỉ còn
3,454 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn khoảng 35%. Ngày nay, mỗi tuần trên thế giới
có khoảng 500.000 ha rừng tự nhiên bị mất do con người phá hoại.
Viêt Nam được đánh giá là nước có tài nguyên sinh học rất đa dạng và
phong phú. Hệ thực vật Việt Nam có ý nghĩa rất to lớn về măt kinh tế, văn
hóa, xã hội …. Cho nên, việc điều tra cơ bản là hết sức cần thiết để bảo tồn và
khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, có hiệu quả.
Vườn Quốc gia Pù mát với tổng diện tích tự nhiên là 94.275 ha, vùng
đệm của Vườn quốc gia Pù Mát có diện tích 100.000 ha. Hiện nay, công tác
điều tra đánh giá tính đa dạng thực vật ở Nghệ An nói chung và Pù Mát nói
riêng còn ít ỏi và chưa mang tính hệ thống. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Thành phần loài thực vật lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) ở khu vực Thác
kèm, vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định thành phần loài thực vật của lớp Ngọc lan tại vườn Quốc gia
Pù Mát, tỉnh Nghệ An.
- Tạo cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài
thực vật trong khu vực nghiên cứu.


2

3
Cho đến thế kỷ XIX việc nghiên cứu các hệ thực vật đã thực sự phát
triển mạnh mẽ với nhiều công trình có giá trị được công bố như: Thực vật chí
Hồng Công, thực vật chí Anh (1869), thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872-1897,
thực vật Vân Nam (1977), thực vật chí Malayxia, thực vật chí Trung Quốc,
thực vật chí Liên Xô, thực vật Australia, thực vật chí Thái Lan,... [theo 33].
1.2. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam
Từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, đó là
bộ thực vật chí Đông Dương do Lecomte H. chủ biên (1907 - 1951). Trong
công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả
các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương [theo 12].
Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) đã
thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ. Ngành Hạt
kín có 3.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%). Ngành
Dương Xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 họ (14,5%). Ngành Hạt
trần 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%) [30].
Về sau Humbert (1938 - 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việc
đánh giá thành phần loài cho toàn vùng và gần đây phải kể đến bộ Thực vật
chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên
(1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ
gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có [41].
Trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê
được ở Miền Bắc có 5.190 loài [43] và năm 1969 Phan Kế Lộc thống kê và bổ
sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ (xếp theo hệ
thống Engler), trong đó có 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các
ngành còn lại [23]. Song song với sự thống kê đó ở Miền Bắc từ 1969 - 1976,
nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật đã cho xuất bản bộ sách "Cây cỏ thường thấy
ở Việt Nam" gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên [18] và ở miền Nam Phạm
Hoàng Hộ công bố hai tập “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5.326


3.754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế


5
Lộc chủ biên (1984) [3]; “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ
(1985) công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592 km 2 [15];
Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1994) về
hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hoà Bình) [9], [7]; Nguyễn Nghĩa Thìn và
Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài thực vật bậc cao, 771 chi,
200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan [35].
Trên cơ sở các bộ thực vật chí, các danh lục thực vật của từng vùng,
việc đánh giá tính đa dạng hệ thực vật của cả nước hay từng vùng cũng đã
được các tác giả đề cập đến dưới các mức độ khác nhau, trên những nhận định
khác nhau.
Về đa dạng các đơn vị phân loại: Trên phạm vi cả nước Phan Kế Lộc
(1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch,
2.010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số loài lên tới 10.361 loài,
2.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế
giới. Ngành Hạt kín chiếm 92,47% tổng số loài; 92,48% tổng số chi và
85,57% tổng số họ. Ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỷ lệ 6,45%,
6,27%, 9,97% về loài. Ngành Thông đất đứng thứ 3 (0,58%) tiếp đến là ngành
Hạt trần (0,47%) hai ngành còn lại không đáng kể về họ, chi và loài [22].
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống
Brummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582
chi, 395 họ thực vật bậc cao và 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loài
chiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật [31]. Lê Trần Chấn (1999) với công
trình "Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam" đã công bố 10.440
loài thực vật [8]. Gần đây tập thể các nhà thực vật Việt Nam đã công bố
“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” từ bậc thấp đến bậc cao. Có thể nói
đây là công trình tổng hợp đầy đủ nhất từ trước tới nay và cũng là tài liệu cập

+ Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác 1,4%
+ Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy 0,4%


7
1.4. Nghiên cứu đa dạng về phổ dạng sống của hệ thực vật
Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều
kiện môi trường. Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ
chặt chẽ của các dạng với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự
tác động của điều kiện sinh thái đối với từng loài thực vật.
Trên thế giới, người ta thường dùng thang phân loại của Raunkiaer
(1934) [44] về phổ dạng sống, thông qua dấu hiệu vị trí chồi so với mặt đất
trong thời gian bất lợi của năm. Thang phân loại này gồm 5 nhóm dạng sống
cơ bản.
1- Cây có chồi trên đất (Ph)
2- Cây chồi sát đất (Ch)
3- Cây chồi nửa ẩn (Hm)
4- Cây chồi ẩn (Cr)
5- Cây chồi một năm (Th)
Ở Việt Nam, trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tác
giả Pócs Tamás (1965) [43] đã đưa ra một số kết quả như sau :
- Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)

4,85%

- Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Me)

3,80%

- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)

(1996) [20] đưa ra phổ dạng sống như sau:
SB = 57,78Ph + 10,46Ch + 12,38Hm + 8,37Cr + 11,01Th
Đối với Vườn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô
(2003) [36] đã công bố dạng sống như sau:
SB = 75,71Ph + 5,78Ch + 4,83Hm + 10,23Cr + 3,45Th
Còn ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn
(2004) [37], [32]. đã lập được phổ dạng sống :
SB = 78,88Ph + 4,14Ch + 5,76Hm + 5,97Cr + 5,25Th
Năm 2006, Nguyễn Nghĩa Thìn đưa ra phổ dạng sống ở Khu bảo tồn Na
Hang [34].
SB = 70,14Ph + 4,33Ch + 3,50Hm + 11,98Cr + 10,05 Th
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Vườn quốc gia Pù Mát
1.5.1. Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Pù Mát nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, cách thành
phố Vinh khoảng 160km theo đường quốc lộ, toạ độ địa lý của vườn:
18 46' - 19 12' Vĩ độ Bắc. 104 24' - 104 56' Kinh độ Đông (Có diện tích vùng
lõi 94.275ha, và diện tích vùng đệm 100.000ha)
Ranh giới của vườn: phía Nam có chung 61km với đường biên giới Lào.
Phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Định, Tam Quang (huyện Tương
Dương).
Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện Con
Cuông).
Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn).


9
Khu vực Thác kèm nằm trong tiểu khu 796A, thuộc phân khu hành
chính (có diện tích 3.764,9ha, trong đó bao gồm 12,1 ha đất khác) của Vườn
quốc gia Pù Mát.

lũng các sông suối khe Thời, khe Choang, khe Khặng (sông Giăng) và bờ
phải sông Cả.
- Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trình
karst trẻ và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200 - 300m. Cấu tạo phân
phiến dày, màu xám đồng nhất và tinh khiết.
- Thổ nhưỡng
- Đất feralit mùn trên núi trung bình (PH), chiếm 17.7%, phân bố từ độ
cao 800 -1000m dọc biên giới Việt Lào.
- Đất feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp (F), chiếm 77.6%, phân bố
phía Bắc và Đông Bắc vườn quốc gia.
- Đất dốc tụ và đất phù sa D, P chiếm 4.7%, phân bố thành giải nhỏ xen
kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả.
- Núi đá vôi (K2) chiếm 3.6% phân bố thành giải nhỏ xen kẽ nhau bên
hữu ngạn sông Cả.
+ Khí hậu thuỷ văn
- Khí hậu
Vườn quốc gia Pù Mát nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Do chịu ảnh
hưởng của địa hình dãy Trường Sơn đến hoàn lưu khí quyển nên khí hậu ở
đây có sự phân hoá và khác biệt lớn trong khu vực. Số liệu của trạm khí tượng
Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn và Vinh được ghi trong bảng 1.
Bảng 1: Số liệu khí hậu của 3 trạm trong vùng.
TT

Các nhân tố khí hậu
0

1
2
3
4

42,10 C/5
50C/1
1706,6

133

153

138


11
6
7
8
9
10
11
12
13
14

Lượng mưa ngày lớn nhất (mm)
Lượng bốc hơi năm (mm)
Số ngày có sương mù (ngày)
Độ ẩm không khí bình quân năm (%)
Độ ẩm không khí tối thấp bq (%)
Độ ẩm không khí tối thấp tđ (%)
Toạ độ trạm: Vĩ độ


105053’
27
40

105018’
6
40

Độ cao (m)
Thời gian quan trắc (năm)
Số liệu bảng trên cho thấy:
Chế độ nhiệt:

- Nhiệt độ trung bình năm 23 - 240C, tổng nhiệt năng 8500 - 87000C.
- Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2, do chịu ảnh hưởng của gió mùa
đông bắc nên nhiệt độ trung bình trong các tháng này xuống dưới 20 0C và
nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 180C (tháng giêng).
- Ngược lại trong mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết
rất khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7). Nhiệt độ trung bình
mùa hè lên trên 250C, nóng nhất là tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 29 0C.
Nhiệt độ tối cao lên tới 420C ở Con Cuông và 42,70C ở Tương Dương vào
tháng 4 và 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%.
Chế độ mưa ẩm:
- Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nước
tập trung trong mùa mưa. Lượng mưa lớn nhất là tháng 9,10 và thường kèm
theo lũ lụt. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Các tháng 2,3,4 có
mưa phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc. Tháng 5,6,7 là những
tháng nóng nhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất.
- Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 - 86%, mùa mưa lên tới 90%. Tuy
vậy, những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kỳ khô

62435
66,89
2
Khơ Mú
1984
13765
14,75
3
Kinh
2531
10498
11,25
4
H’Mông
599
3714
3,98
5
Đan Lai
265
1494
1,60
6
Poọng
132
813
0,87
7
Ơ Đu
96

Giáo dục, Dịch vụ. Việc dư thừa lao động, đời sống khó khăn khiến người
dân đã vào vườn quốc gia Pù Mát để khai thác lâm sản.
+ Văn hoá truyền thống
Văn hoá dân tộc Thái qua điệu múa xoè, múa chăm và tiếng khèn cồng
chiêng của họ và những thú vui uống rượu cần, múa lăm vông mang đậm dà
bản sắc văn hoá dân tộc từ bao đời nay, hiện nay Bản Yên Thành với làng
nghề dệt thổ cẩm truyền thống, các cô gái Thái đã rất khéo léo dưới bàn tay
của mình dệt nên những chiếc váy, khăn, túi xách ... rất đẹp. Tiếp giáp với xã
Lục Dạ là xã Môn Sơn nơi đây đã ghi nhiều di tích lịch sử Cách mạng cao
trào Xô-Viết Nghệ -Tĩnh 1930-1931 và nơi đây chi bộ Đảng miền Tây đã ra
đời .
Văn hoá dân gian của các dân tộc ở Con Cuông là những di sản quý
hoá, kết tinh qua bao đời, thể hiện sức sáng tạo của cha ông. Nó phản ảnh
cuộc sống một cách chân thực trong sáng, tế nhị, văn hoá dân gian gồm 2 bộ
phận cấu thành là: Văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, phản ánh một cách
chân thực cuộc sống của người dân nơi đây. Cuộc sống đấu tranh xây dựng
văn hoá vật chất văn hoá tinh thần của bà con trong quá trình phát triển. Mỗi
một dân tộc đều có vốn văn hoá riêng biệt, mang màu sắc riêng, ở dân tộc
Thái, có điệu khắp, điệu xên có thể nói vốn văn hoá dân gian rất phong phú và


14
đa đạng, không kể các làn điệu dân ca. Còn có đủ các loại hình như: Tục ngữ,
ca dao, truyện thơ.... Nền văn hoá đó phản ánh chân thực cuộc sống lao động
và chiến đấu của nhân dân cùng tư tưởng tình cảm tâm hồn của đồng bào
miền núi, đặc biệt những cuộc vui khi uống rượu cần.
Nét độc đáo của người Thái có những điệu khắp dành cho nam nữ thổ lộ tình
cảm với nhau trong các ngày lễ hội.
Hội xăng khan còn là ngày hội thi tài của nam nữ thanh niên, trong các
ngày đó, các chàng trai, cô gái cùng các cụ già vui bên chum rượu cần, cùng

17
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bao gồm toàn bộ các loài thực vật lớp Ngọc lan ở khu vực Thác kèm
nằm trong tiểu khu 796A, thuộc phân khu hành chính (có diện tích 3.764,9ha,
trong đó bao gồm 12,1 ha đất khác) của vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ
An.
2.2.Thời gian nghiên cứu
Đề tài thực hiện từ tháng 6/2012 đến tháng 6/2013.
Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu 3 đợt, mỗi đợt kéo dài từ 5 đến 6 ngày.
- Đợt 1: Từ 12/7/2012đến 17/7/2012.
- Đợt 2: Từ 15/10/2012 đến 20/10/2012.
- Đợt 3: Từ 11/3/2013 đến 16/3/2013.
Trong đợt thu mẫu về thì chúng tôi phân tích và xác định tên khoa học.
Số mẫu thu được cả 3 đợt nghiên cứu: 386 mẫu, chúng tôi đã xác định
được 245 loài. Hiện nay số mẫu đã được lưu trữ tại phòng thực vật bậc cao
khoa Sinh học, trường Đại học Vinh.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Xây dựng bảng danh lục thực vật ở Thác Kèm, vườn Quốc gia Pù
Mát, tỉnh Nghệ An
- Phân tích đa dạng thực vật về các mặt :
+ Thành phần loài
+ Dạng sống
+ Giá trị tài nguyên và mức độ đe doạ
2.4. Phương pháp nghiên cứu


18
2.4.1. Thu thập số liệu ở thực địa

Xác định tên loài: Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học phải
tuân theo các nguyên tắc:
+ Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến chi tiết bên trong.
+ Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình.
+ Phân tích đi đôi với việc tra khoá xác định.
+ Hoàn toàn trung thực, khách quan với mẫu thực.

+ Khi tra khoá luôn đọc từng cặp đặc điểm đối nhau cùng một lúc để dễ
phân định các cặp dấu hiệu.
Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học gồm:
+ Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), (1999 - 2000) [16].
+ Flora of China (1994 - 2011) [45].

+ Thực vật chí Việt Nam (The Flora of Vietnam): Họ Na - Annonaceae
(Nguyễn Tiến Bân, 2000) [1], Họ Bạc hà - Lamiaceae (Vũ Xuân Phương,
2000) [27], Họ Trúc đào - Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2005) [26], Họ Đơn
nem - Myrsinaceae (Nguyễn Thị Kiêm Liên, 2002) [21], Họ Cỏ roi ngựa
Verbenaceae (Vũ Xuân Phương, 2005) [28],…
Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại
các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót. Điều
chỉnh khối lượng họ và chi theo hệ thống của Brummitt trong "Vascular Plant
Families and Genera" (1992) [42], điều chỉnh tên loài theo tài liệu "Danh lục
các loài thực vật Việt Nam" (2001 - 2005) [2].
Bổ sung thông tin: Việc xác định các thông tin về đa dạng sinh học của
các loài về dạng sống, về công dụng và tình trạng đe doạ, bảo tồn, ngoài các
tài liệu trên, còn sử dụng các tài liệu khác như:
+ 1900 cây có ích (Trần Đình Lý, 1993) [25].
+ Sách Đỏ Việt Nam (2007) [6].



3. Hemicryptophytes (Hm) - Cây có chồi nửa ẩn
4. Cryptophytes (Cr) - Cây có chồi ẩn


21
5. Thérophytes (Th) - Cây chồi một năm
Nhóm cây chồi ẩn (Cr) bao gồm cả cây chồi ẩn trong đất (Ge Geophytes), cây chồi ẩn trong nước (He - Helophytes) và cây chồi dưới nước
(Hy - Hydrophytes).
Xây dựng phổ dạng sống: Sau khi thống kê các loài theo các kiểu dạng
sống, chúng tôi tiến hành lập phổ dạng sống. Dựa vào đó để đánh giá mức độ
đa dạng của điều kiện sống (nhân tố sinh thái) cũng như thấy được mức độ tác
động của các nhân tố đối với hệ thực vật.
2.4.8. Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ bị đe dọa
Dựa vào các tài liệu: Sách Đỏ Việt Nam [6], Từ điển cây thuốc của Võ
Văn Chi [10] [11] để phân tích thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.


22
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đa dạng về thành phần loài
Kết quả điều tra về thành phần loài thực vật lớp Ngọc lan ở khu vực
Thác kèm, vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Bước đầu chúng tôi mới chỉ
xác định được 245 loài, 153 chi và 58 họ (bảng 3)
Bảng 3. Danh lục thực vật 2 lớp Ngọc lan
ở khu vực Thác kèm, vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
TT

1
2

Polyalthia simiarum (Ham. ex
Hook.f. et Thoms.) Hook.f. et
Thomson
Polyalthia lauii Merr.
Fam.3. Apocynaceae
Kitabalia laurifolia (Ridl.)
Woodson
Tabermaemontana pauciflora
Blume
Wrightia annamensis Eberh.ex
Duby

Tên Việt Nam
Lớp hai lá mầm
Họ Ô Rô
Gai kim tuyến bán
nguyệt
Hoả rô đạt
Xuân tiết bằng
Chuỳ hoa Trung bộ
Dây bông báo
Họ Na
Thậu lĩnh
Dây móng rồng
Dây công chúa
Gié bụi
Quấn đầu cực nhỏ
Quấn đầu khỉ

Dạng Công

Oil,T

Ph

T,M

Lài trâu ít hoa

Ph

M

Mức Trung bộ

Ph

T,
Mp,

M


23

16
17
18
19
20
21

Schefflera macrophylla (Dunn)
R.Vig.
Trevesia burkii Boerl.
Fam.5. Asclepiadaceae
Gymnema albilirum Cost.
Streptocaulon griffithii HooK.f.
Streptocaulon juventas (Lour.)
Merr.
Tylophora tenuis Blume
Fam.6. Asteraceae
Ageratum conyzoides L.

Lòng mức đỏ
Mức hoa đỏ
Họ Nhân Sâm
Đinh lăng gai
Chân chim 9 lá
Chân chim lá to

Ph
Ph
Ph
Ph
Ph

M

Thầu dầu núi
Họ Thiên Lý
Loã ti hoa trắng

Vernonia cumingiana Benth.
Fam 7. Begoniaceae
Begonia lecomtei Gagnep.

Sơn hoàng
Cỏ lào

Th
Ch

M,E,
F
E, M
M, E

Rau tau bay
Thạch lan
Bông bạc
Dây chè
Họ Thu Hải Đường
Thụ hải đường
lecomte.
Họ Quao
Núc nác
Họ Búp Lệ
Mật mông hoa
Bọ chó hoa chùm
Họ Trám
Trám chim


Ph
Ph

Vàng anh

Ph

Fam.8. Bignoniaceae
Oroxylum indicum ( L. ) Vent.
Fam.9. Buddleiaceae
Buddleja officinalis Maxim.
Buddleja paniculata Wall.
Fam.10. Burseraceae
Bursera tonkinensis Guillaum.
Canarium tramdenum Đại et
Yakovb.
Fam.11. Caesalpiniaceae
Bauhinia ornata Ktze.
Pelthophorum dasyrrachis (Pierre)
K.ex S.S. Larsen
Saraca dives Pierre

Ph

M

T,F
F,T,
M
T,M,

Fam.12.Capparaceae
Capparis floribunda Wight
Cleome viscosa L.
Fam.13. Caprifoliaceae
Sambucus javanica Reinw. ex
Blume
Viburnum cylindricum Buch-Ham.
ex D.Don
Fam.14.Celastraceae
Glyptopetalum thorelii Pit.
Fam.15. Combretaceae
Quisqualis indica L.
Terminalia citrna (Gaertn.) Roxb.
ex Fleming
Fam.16. Clusiaceae
Garcinia gauđichaudii planch ex
Triana
Garcinia oligantha Merr.
Fam.17.Convolvulaceae
Merremia boisiana (Gagnep. )
Ooststr.
Merremia mammosa (Lour.)
Hallier f.
Fam.18.Cucurbitaceae
Diplocyclos panmatus (L.)
C.Jeffrey
Trichosamthes baviensis Gagnep.
Trichosanthes villosa Blume
Fam.19.Dilleniaceae
Dillenia indica L.


M

Ph

M

Ph
Ph
Ph

M,Or

Họ Bứa
Săng ngang

Ph

Bứa ít hoa

Ph

F,T,
M
F,T,
M

Họ Khoai Lang
Bìm Bois


Họ Dầu
Chỏ chỉ
Táu nước
Họ Thị
Thị lọ nồi
Thị 9 tầng
Họ Côm
Côm tầng

Ph
Ph

T,M,
F
T
T

Ph
Ph

T
T

Ph
Ph

T
T

Ph

89

Elaeocarpus tonkinensis A.DC.
Sloanea tomentosa (Benth.) Rehd.
et Willd.
Fam.23. Euphorbiaceae
Aporosa serrata Gagnep.
Baccaurea oxycarpa Gagnep.
Baccaurea silvestris Lour.
Croton tiglium L.
Glochidion hirsutum (Roxb.)
Voigt
Glochidion hypoleucum (Miq.)
Boerl.
Macaranga tanarius (L.) Muell. –
Arg.
Melanolepis multiglandulosa
(Reinw. ex Blume) Rchb. f. ex
zoll.
Phyllanthus anthopotamicus
Hand.-Mazz.
Sapium rotundifolium Hemsl.
Suregada cicerosperma (Gagnep.)
Croizat
Trigonostemon quocensis Gagnep.
Fam.24.Fabaceae
Bowringia callicarpa Champ.ex
Benth.
Dalbergia sericea G. Don
Dalbergia tonkinensis Prain

Sóc lông

Ph
Ph
Ph
Ph
Ph

T,M

Sóc dưới trắng

Ph

T

Ba soi núi cao

Ph

T,M

Vẩy đen

Ph

Diệp hạ châu

Hm


Ph
Ph
Ph

T,F
T
T,F

Ph

T

Sồi núi

Ph

T

Dẻ rừng

Ph

F,T

Dẻ xanh

Ph

T


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status