Nghiên cứu nuôi trồng loài nấm bào ngư mới phát hiện ở vườn quốc gia cát tiên pleurotus cornucopiae - Pdf 20


i

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Anh Phạm Ngọc Dương Vườn Quốc Gia
Cát Tiên đã giúp đỡ tôi tận tình, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi trong thời
gian hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Chị Nguyễn Thị Anh cùng cán bộ, nhân viên thuộc
Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã giúp đỡ, quan tâm tôi nhiều trong thời gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Khúc Thị An, Viện Công Nghệ Sinh Học và
Môi trường đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô thuộc bộ môn Công Nghệ Sinh
Học Đại Học Nha Trang đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Bố mẹ và người thân đã cho tôi điều kiện tốt nhất
về mặt tinh thần, vật chất, giúp tôi hoàn thành khoá học.
Cuối cùng tôi cảm ơn tập thể lớp 50CNSH và các bạn cùng đi thực tập tại
Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã giúp tôi trong thời gian qua.

ii
LỜI MỞ ĐẦU
Các nấm Bào ngư Pleurotus spp. có khả năng chuyển hoá các chất xơ sợi giàu
cellulose và lignin - thực chất là khả năng phân hủy các polysacchride tự nhiên để
tạo nên nguồn carbon cho nấm sinh trưởng phát triển. Hầu hết các loại phụ phế liệu,
các chất phế thải của nông, lâm, công nghiệp đều có thể được nấm Bào ngư sử dụng
hiệu quả. Đây là nguồn tài nguyên nấm quý đang được công nghệ hóa rộng rãi ở

cốc, môi trường nuôi trồng ra thể quả Pleurotus cornucopiae, so sánh với tốc độ lan
tơ của nấm Bào ngư đang trồng phổ biến hiện nay ở Việt nam Pleurotus florida.
 Phân tích một số chỉ tiêu về dinh dưỡng của nấm Bào ngư Pleurotus
cornucopiae. Đề xuất quy trình nuôi trồng phù hợp.
iv
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI MỞ ĐẦU ii

cornucopiae. 16
2.2.3. Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang
được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường thạch dinh
dưỡng. 17
2.3.4. Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng
phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường hạt (giống cấp 2) 20
2.3.5. Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang
được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường cọng mì
(giống cấp 3). 20
2.3.6. Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Bào ngư Hoàng
bạch Pleurotus cornucopiae trên giá thể mạt cưa. So sánh với đặc điểm sinh
trưởng, phát triển hệ sợi của loài Bào ngư đang được nuôi trồng phổ biến
hiện nay Pleurotus florida trên giá thể mạt cưa. 21
2.3.7. Khảo sát hiệu quả kinh tế nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae. So sánh hiệu quả kinh tế của nấm Pleurotus cornucopiae với
loài nấm Bào ngư Pleurotus florida đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay.22
2.3.8. Phương pháp xử lý số liệu. 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1. Kết quả giải phẫu hình thái nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae. 25
3.2. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae. 30
3.3. Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ
biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường thạch dinh dưỡng. 31
phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường giá thể 1 sử dụng giống
hạt làm giống sản xuất. 53

vii

3.6.3. Khảo sát tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae trên môi trường giá thể 1 trong hai trường hợp sử dụng giống
hạt làm giống sản xuất và sử dụng giống cọng làm giống sản xuất. 55
3.6.4. Khảo sát hiệu quả kinh tế nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae. So
sánh hiệu quả kinh tế của nấm Pleurotus cornucopiae với loài Pleurotus
florida đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay. 57
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
4.1. KẾT LUẬN. 66
4.2. KIẾN NGHỊ. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng của một số loài nấm Bào ngư (%). 6
Bảng 3.1. Chỉ tiêu phân tích thành phần dinh dưỡng của Pleurotus cornucopiae. 30


x

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang

Biểu đồ 3.1. Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus
florida nuôi cấy trên môi trường 1. 32
Biểu đồ 3.2. Tốc độ lan tơ của Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy
trên môi trường 2. 37
Biểu đồ 3.3. Tốc độ lan tơ của loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và
Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 3. 40
Biểu đồ 3.4. Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae
nuôi cấy trên 3 môi trường. 44
Biểu đồ 3.5. Tốc độ lan tơ của loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và
Pleurotus florida trên môi trường hạt lúa. 47
Biểu đồ 3.6. Tốc độ lan tơ của hệ sợi nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae trên môi
trường giá thể 1 và môi trường giá thể 2 giống hạt làm giống sản xuất. 51
Biểu đồ 3.7. Tốc độ lan tơ của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và
Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường giá thể 1 giống hạt làm giống sản xuất. 54
Biểu đồ 3.8. Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae trên giá
thể 1 trong hai truờng hợp sử dụng giống hạt và giống cọng làm giống sản xuất. 56
Hình 3.13. Quả thể nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae trên giá thể 1
giống cọng làm giống sản xuất. 62
Hình 3.14. Quả thể nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae và Pleurotus
florida trên môi trường giá thể 1 giống cọng làm giống sản xuất. 63

1 CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN` TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm của chi nấm Bào ngư Pleurotus.
Trên thế giới hiện nay, chi nấm Bào ngư Pleurotus đã được định danh nhiều
hơn 40 loài. Để định danh các loài trong chi này cũng như các loài nấm lớn khác,
thường người ta dựa vào màu sắc, hình dạng, kích thước của mũ nấm, cuống nấm,
hình dạng màu sắc của bào tử, thậm chí Singer (1986) sử dụng tỉ lệ kích thước đảm
trên kích thước bào tử để định danh một số loài. Tuy những đặc điểm này không
phải là những đặc điểm chung đặc trưng để định danh nhưng nó thể hiện tính đặc
trưng và đa dạng của chi. Các nhà nghiên cứu hiện nay thường định danh dựa vào
đặc điểm của: giá (basidia), lớp sinh sản, cuống bào tử, liệt bào nằm ở bề mặt phiến
(pleurocystidia), liệt bào ở mép phiến (cheilocystidia), mấu (inflat), khóa (clamp),
cấu trúc mô bất thụ ở phiến nấm, hệ sợi nấm, sợi cứng, sợi nguyên thủy, đặc tính
nhuốm màu iot của bào tử (amyloid)…Đó là những đặc điểm đặc trưng nỗi bật của
hệ sợi, bào tử hiện nay các chuyên gia nấm học sử dụng để phân loại. Trên thế giới,
có nhiều nhà nghiên cứu nấm Bào ngư và có một số tác giả đưa ra khoá phân loại về
chi nấm này như Singer (1986), Fr.Quél (1981), Julich (1981), Kuhner et
Romagnesi (1989)… Tuy có nhiều tranh luận trong vấn đề định danh nấm Bào ngư
nhưng khóa phân loại của Fr.Quél (1986) được nhiều chuyên gia ghi nhận.[9]
Theo phân loại cổ điển, người ta xếp chi Pleurotus vào họ nấm Nhung thông
Tricholomataceae (Pleurotaceae), bộ nấm Tán Agaricales, lớp đảm tầng
Hymenomycetes, ngành nấm đảm Basidiomycota.[7]

như chất xơ xenllulose, protein, ligin. Với cấu trúc hệ sợi, tơ nấm len lỏi vào cơ chất
lấy thức ăn nuôi quả thể.[7]
Chu trình sống của nấm Bào ngư cũng như các loài nấm đảm khác, bắt đầu từ
đảm bào tử hữu tính, nảy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng (sơ và thứ cấp), kết thúc
bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm. Tai nấm sinh ra các đảm bào tử
và chu trình lại tiếp tục.
Quả thể nấm Bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn dựa theo hình dạng tai
nấm mà có tên gọi cho từng giai đoạn.
3
a: Dạng san hô d: Dạng bán cầu lệch
b: Dạng dùi trống e: Dạng lá lục bình
c: Dạng phễu
Hình 1.1. Giai đoạn phát triển quả thể của nấm Bào ngư.
Từ giai đoạn phễu sang phễu lệch có sự thay đổi về chất (giá trị dinh dưỡng
tăng), còn từ giai đoạn phễu lệch sang dạng lá có sự nhảy vọt về khối lượng (trọng
lượng tăng).
Quả thể nấm có cuống đính bên hoặc không đính cuống, mọc trên thân cây
một lá mầm, thực vật hoa mạch hoặc một số loài mọc dưới đất. Mũ nấm có hoặc
không có lông mịn, nhẵn, mép cong vào trong, có hoặc không có bao (veil), một số
loài không có vòng trên cuống. Phiến tiếp xúc với cuống ở khoảng rất rộng và men
xuống cuống, hiếm khi phân đôi. Mép phiến đều. Thịt nấm dày đến rất mỏng, mọng
nước hoặc có lớp nước nhầy.[9]
Nhìn chung, bào tử có màu trắng hoặc hồng nhợt, nhẵn. Giá (basidia) ngắn đến
dài nhất là (11)18-80 µm, gấp 2-6 lần bào tử, không có dạng tương tự giá
(basidioles). Giá (basidia) có kích thước thường biến đổi từ 12 x 4,3 µm đến 5,7 x 7
µm. Tuy nhiên, kích thước này thay đổi tùy vào các loài có bào tử khác nhau thì
khác nhau: đối với các loài có bào tử hình elip đến hình trụ giá (basidia) có kích

C, thậm chí
35
0
C như loài P. tuber-regium. Nhiệt độ thích hợp để nấm ra quả thể ở một số loài
cần từ 15-25
0
C, số loài khác cần từ 25-32
0
C.
Độ ẩm: độ ẩm rất quan trọng đối với sự phát triển tơ và quả thể của nấm.
Trong giai đoạn tăng trưởng tơ, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 50 - 60%, còn độ ẩm
không khí không được nhỏ hơn 70%. Ở giai đoạn phát triển quả thể, độ ẩm không
khí tốt nhất là 80-95%. Ở độ ẩm không khí 50%, nấm ngừng phát triển và chết, nếu
nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa mũ nấm.
Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95%, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống.
pH: Nấm Bào ngư có khả năng chịu đựng sự giao động pH tương đối tốt. Tuy
nhiên pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm Bào ngư trong khoảng 5 - 7.
5 Ánh sáng: yếu tố này chỉ cần thiết trong giai đoạn ra quả thể nhằm kích thích
nụ nấm phát triển. Nhà nuôi trồng nấm cần có ánh sáng khoảng 200-300 lux (ánh
sáng khuếch tán - ánh sáng phòng).
Thông thoáng: Nấm cần có oxy để phát triển vì vậy nhà trồng cần có độ thông
thoáng vừa phải, nhưng phải tránh gió lùa trực tiếp.
Thời vụ nuôi trồng: Nhìn chung với khí hậu miền nam nấm Bào ngư có thể
trồng quanh năm, nhưng thời vụ thích hợp nhất là vào mùa mưa, vì lúc này độ ẩm
không khí tương đối cao sẽ tiết kiệm được nước tưới.
1.1.2. Những lưu ý khi nuôi trồng nấm Bào ngư.[7]
Tính nhạy cảm với môi trường:

Carbonhydrate và protein là thành phần chính, chiếm từ 70 đến 90% trọng
lượng khô quả thể, tro ~ 10% chứa nhiều loại chất khoáng. Chất béo có hàm lượng
thấp trong hầu hết các loại, dao động trong khoảng 1-2 %, ngoại trừ P.limpidus (9,4%).
Giá trị về mặt năng lượng được đánh giá trên cơ sở thành phần protein thô,
chất béo và carbohydrate, trị số này thấp khoảng từ 261-367 Kcal/100g chất khô.
Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng của một số loài nấm Bào ngư (%).
Tên loài
Protein
thô
Chất béo

Cacbohydrate sợi Tro
Năng
lượng
(Kcal)
P.eous
17,5 1,0 59,2 12,0 9,1 261
p.florida
18,9 1,7 58,0 11,5 9,3 265
p.flabellatus
21,6 1,8 7,4 11,9 10,7 271
P.ostreatus
10,5 1,6 81,8 7,5 6,1 367
P.opuntia
8,9 2,4 72,9 7,5 15,8 330
P.limpidus
38,7 9,4 46,6 27,6 5,3 313

1.2.2. Giá trị dược liệu của nấm Bào ngư.[1]
Nấm Bào ngư được bổ sung vào nhóm nấm chống ung thư ở Việt nam, một

có nghĩa là hơn 90% loài nấm có thể có ở Việt nam còn chưa được định loại và nêu
tên trong danh mục. Hiện ở Việt nam có 10 loài Bào ngư được định danh và nêu tên
vào danh mục, gồm các loài: Pleurotus chioneus, Pleurotus cornucopiae, Pleurotus
eryngii, pleurotus globulifer, Pleurotus ostreatus, Pleurotus pulmonarius, Pleurotus
salmoneostramineus, Pleurotus spiculifer, Pleurotus versiformis [4]. Và khi định
danh loài nấm, chúng ta hiện nay chủ yếu dựa vào các khóa phân loại và mô tả loài
chuẩn của các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về khu hệ nấm của châu Âu, Bắc
8 Mỹ, Nhật Bản và một số khu hệ nấm châu Phi, Trung Quốc, Liên Xô cũ. Bởi vì, vấn
đề nghiên cứu khu hệ nấm Việt nam nói chung và nấm lớn nói riêng chỉ bước đầu
nghiên cứu. Qua đó, dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa các loài nấm Việt nam và
các nước khác, nhất là nấm ôn đới.
Nấm lớn Việt nam có khoảng hơn 200 loài trong đó khoảng 50 loài là nấm ăn
quý. Tuyệt đại đa số của nấm ăn Việt nam thuộc nấm Đảm Basidiomycota và một
số loài thuộc nấm Túi Ascomycota. Bào ngư có khoảng hơn 40 loài và một số loài
được xếp vào loài có giá trị lớn về mặt dinh dưỡng và dược liệu.
Cũng cần nói thêm rằng, việc nuôi trồng nấm ăn ở Việt nam đã thúc đẩy việc
nhập nhiều chủng giống nấm ăn ở nước ngoài để tiến hành nghiên cứu, thuần hóa và
nuôi trồng ở Việt nam dẫn tới sự có mặt của tập đoàn giống với khoảng 50 chủng
giống ăn và nấm cho dược liệu. Riêng Bào ngư hiện khoảng hơn 4 giống được nhập
ngoại, thuần hóa và nuôi trồng phổ biến ở nước ta. Bởi vậy, để khắc phục tình trạng
tụt hậu so với nghiên cứu thực vật bậc cao và động vật có xương sống, cần đầu tư
thích đáng đẩy mạnh nghiên cứu khu hệ nấm có nguồn gốc Việt nam để nghiên cứu,
nuôi trồng thử nghiệm, thuần hóa và thương mại hóa trên quy mô công nghiệp.
1.2.3.2. Nuôi trồng nấm Bào ngư ở Việt nam.[11]
Chi nấm Bào ngư Pleurotus được nuôi trồng ở nước ta cách nay hơn hai chục
năm, với nhiều chủng loại: Pleurotus florida, Pleurotus ostreatus, Pleurotus sajor-
saju, Pleurotus pulmonarius…và trên nhiều nguồn nhiên liệu khác nhau như rơm rạ,

nhưng sợi nấm hẹp, rộng 4-8 µm và thóp dần về cuối với đầu mút có chiều rộng 3-5
µm. Chúng không có giới hạn cuối cùng nào về hình dạng như dạng móc, dạng hình
trụ, dạng tù hay dạng thóp dần về cuối. Bào tử có các khoảng kích thước khác nhau
biến đổi từ 7,5-9 x 3,5 µm, 8,5-12 x 3,8-5 µm đến 8-11 x 4-4,5 µm (Dennis 1970,
Pegler 1977, Pilat 1935) và có màu trắng. Một sưu tập khác ở Tây Ban Nha (Corner
s.n.30 March 1926, on Agave) P.ostreatus có bào tử lớn 9-11,5 x 4-4,5 µm và sợi
cứng có chiều rộng 3-5 µm. Sưu tập P.ostreatus ở Oregon, M.S.Doty 80, có thể do
Anderson, Wang và Schawandt (1973) nghiên cứu cho rằng loài này có bào tử lớn,
có sợi cứng giống với loài P.opuntiae. 10 Theo PGs.Ts.Trịnh Tam Kiệt mô tả.[3]
Quả thể dạng sò với cuống ngắn, lệch, mũ màu nâu tim lối, phiến trắng men
dài xuống cuống. Mũ nấm rất thay đổi về hình dạng, từ dạng phễu lệch đến dạng sò,
dạng thận… phụ thuộc vào vị trí mọc và điều kiện sinh thái. Mặt mũ phẳng nhẵn,
không có lông; mép mũ đầu tiên cuộn vào trong nhiều, sau phẳng ra, chỉ hơi cuộn
vào, lượn sóng và chia thùy ít hay nhiều, nứt ra khi già. Mũ khi mới hình thành màu
tim đen, màu tím, màu đen nhạt với sắc thái xanh, đến màu nâu xám, nhạt dần khi
trưởng thành, khi khô, già. Kích thước 5-15(30) cm đường kính. Phiến nấm màu
trắng, xếp xít nhau, men dài xuống cuống và có thể dính lại thành dạng phân nhánh.
Cuống dài màu trắng có khi có sắc thái nâu, đặc, phần gốc phủ lông ngắn và hay
mọc dính liền với những cuống khác, đính lệch hay đính bên, kích thước 1-3 cm.
Thịt nấm màu trắng lúc đầu nạc, mềm, sau già dai. Khi phơi khô có mùi thơm.
Giá (basidia) hình chùy, kích thước 5,5-7,5 x 19-21 µm. Bào tử hình elip dài
gần hình trụ, không màu, nhẵn, kích thước 3-4,5 x 7-9(10) µm. Hệ sợi nấm hai loại
(dimitric) gồm sợi nguyên thủy có vách ngăn với khóa và sợi cứng, không vách
ngăn ngang, màng dày. Kích thước sợi 3,5-6,5 µm đường kính.

nhau kết thành mạng lưới mỏng từ gần đế cuống lên đỉnh cuống và toàn bộ mép, có
4-5 rãnh, khoảng cách giữa các rãnh rộng. Ở giữa mũ nấm phiến dày 0,3-0,75 mm.
 Pleurotus pulmonarius.[3]
Theo PGs.Ts.Trịnh Tam kiệt mô tả:
P.pulmonarius có quả thể dạng sò, màu trắng có cuống ngắn, lệch, phiến trắng
mọc men xuống. Mũ nấm hình phễu nông, lệch hình sò đến hình thìa, có kích thước
3-8(15) cm. Mặt mũ nấm nhẵn, phẳng, có thể hơi có lông mịn, màu trắng, hơi có sắc
thái vàng bẩn, khi khô hơi vàng bẩn. Mép mũ đầu tiên cuộn vào trong, sau phát triển
hơi cuộn lại hoàn chỉnh, lượn sóng và chia thùy ít hay nhiều; khi già có thể nứt ra.
Cuống nấm ngắn, màu trắng có khi có sắc thái vàng bẩn, hơi phủ lông mịn ở gốc và
mọc đính vào với cuống nấm khác thành cụm; kích thước 9,5–2(5) x 0,2–1 cm.
Phiến nấm màu trắng, xếp xít nhau, men dần xuống cuống. Khi già hay khô có sắc
thái vàng.
12 Giá (basidia) dạng chùy, không màu, kích thước 13,5–19 x 6,5–7,5 µm. Bào tử
hình elip dài gần đến hình trụ, không màu, màng nhẵn, kích thước 3,5–4 x 8,5–9,5
µm. Hệ sợi nấm hai loại (dimitric) gồm sợi nguyên thủy và sợi cứng. Sợi nguyên
thủy có vách ngăn ngang, có khóa (clamp). Sợi cứng không có vách ngăn, màng
dày, kích thước 2,5–7,5 µm đường kính. Hệ sợi nấm trong môi trường nuôi cấy
thuần khiết màu trắng, mọc khá nhanh, phần lớn tạo thành sợi nguyên thủy; khi đưa
ra sáng có khả năng hình thành mầm nấm, nấm non.
Nấm mọc trên gỗ mục các cây lá rộng, thường thành từng cụm. Nấm mọc
nhiều vào mùa nóng ẩm.
 Pleurotus saijor-caju.[3]
Theo PGs.Ts.Trịnh Tam Kiệt mô tả :
Quả thể dạng phểu nông, chất thịt mềm khi non, có vòng nấm lớn màu trắng
trên cuống ngắn. Mũ nấm dạng bán lệch, dẹp, sau hơi lõm, lệch dạng phểu nông,
mặt mũ nhẵn đến hơi có lông, vảy mịn khi già. Mép mũ đầu tiên cuộn vào trong,

phiến (cheilocystidia) và liệt bào ở bề mặt phiến (pleurocytidia). Lớp sinh sản
không dày, dưới lớp sinh sản như P.ostreatus.
Hệ sợi nấm hai loại (dimitic) gồm sợi cứng và sợi nguyên thủy. Sợi nguyên
thủy có mấu (inflat), khóa (clamp), các tế bào nguyên thủy rộng 3-23 µm đến 40
µm (Chang Kiaw Lan), phân nhánh góc rộng, vách mỏng 1µm. Tế bào sợi cứng
thóp dần, có chiều dài 200-600 µm, rộng 8-18 µm, hẹp nhất ở mũ và phiến nấm 4-7
µm, không hoặc hiếm khi phân nhánh, đan dệt vào nhau.
Mô bất thụ ở phiến nấm có dạng hướng xuống. Bề mặt của mũ nấm nhẵn.
Theo mô tả của (Fr.)Kummer và giáo sư cùng làm việc ở trường Đại học
Y.Otani ở Hokkaido, họ đã mô tả P.cornucopiae không giống ở Châu Âu: bào tử
ngắn, hẹp và sợi cứng hẹp hơn. Mũ nấm có kích thước 5,5 cm, nhẵn, màu đục, màu
vàng đậm đến vàng ong. Cuống nấm có kích thước 1,5-3 cm x 3-5 mm, cuống đính
giữa hoặc cuống đính lệch, đặc kết thành cụm có kích thước gốc cụm là 3 x 2 cm,
phủ phấn màu trắng đến màu vàng nhẹ. Phiến tiếp xúc với cuống một khoảng rộng
và men xuống cuống, đặc, kích thước chiều rộng là 5 mm, 3-4 rãnh, màu trắng. Thịt
nấm mỏng, dai, màu trắng. Có mùi thơm nhưng có lớp bụi mỏng.
14 Trên cây phân nhánh của Ulmus. Japan, Hokkaido, Mt. Keisaizura, Otani và
Corner ngày 17 tháng 9 năm 1966: bào tử P.cornucopiae có kích thước 6,5-8,5 x 2-
3 µm, hình trụ hẹp, bào tử dưới kính hiển vi không nhuốm màu iot (inamyloid). Giá
(basidia) có kích thước 26-38 x 5,5-6,5 µm, có 4 cuống bào tử, không có dạng
tương tự giá (basidioles). Dưới lớp sinh sản dày 20-25 µm, sợi nấm có kích thước 2-
3 µm đan dệt vào nhau. Liệt bào ở mép phiến (cheilocystidia) bất thụ nhỏ như giá
(basidia). Không có liệt bào ở bề mặt phiến (pleurocystidia), nhưng có một vài tế
bào gần đảm (basidium-like) bất thụ có kích thước chiều rộng 7-9 µm, nằm thưa
thớt trong lớp sinh sản.
Hệ sợi nấm hai loại (dimitic) gồm sợi cứng và sợi nguyên thủy. Sợi nguyên
thủy có khóa (clamp), mấu (inflat), tế bào sợi nguyên thủy có kích thước 30-160 x

 Bình tam giác 250 ml, 1 lít.
 Bình thủy tinh 1 lít, 2 lít.
 Buret.
 Đĩa petri.
 Que cấy, dao cấy, panh cấy.

Trích đoạn Khảo sát hiệu quả kinh tế nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae So
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status