đánh giá ảnh hưởng của loài mai dương (mimosa pigra l ) đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia cát tiên - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Từ Hoàng Thương

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LOÀI
MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.) ĐẾN ĐA DẠNG
THỰC VẬT Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Từ Hoàng Thương

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LOÀI
MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.) ĐẾN ĐA DẠNG
THỰC VẬT Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số :
60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ LAN THI


TP. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 09 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Từ Hoàng Thương


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN .......................................................................................3
1.1. Tổng quan về sinh vật ngoại lai .....................................................................3
1.1.1. Sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai ở vùng nhiệt đới ...............................3
1.1.2. Các yếu tố thành công của loài xâm lấn .................................................3
1.1.3. Ảnh hưởng của sự xâm lấn đến sinh thái và kinh tế xã hội ...................5
1.1.4. Cỏ dại và cỏ dại môi trường ...................................................................7
1.2. Đặc điểm sinh học của cây Mai dương (Mimosa pigra L.) .........................11
1.2.1. Hình thái ...............................................................................................11
1.2.2. Phân bố địa lý .......................................................................................11
1.2.3. Nơi cư trú..............................................................................................12
1.2.4. Sinh trưởng và phát triển ......................................................................12
1.2.5. Sinh sản ................................................................................................13
1.2.6. Sự biến động quần thể ..........................................................................13
1.2.7. Tác dụng ...............................................................................................14
1.2.8. Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa pigra L.) đến đa dạng thực vật......15
1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan .....................................17

3.3.2. Phân tích kết quả khảo sát ....................................................................56
3.4. Thảo luận .....................................................................................................64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..............................................................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................74
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.

Thiệt hại về kinh tế do thực vật ngoại lai xâm hại. ...............................7

Bảng 2.1.

Một vài phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của cỏ dại đến đa
dạng thực vật, những thuận lợi và khó khăn. ......................................27

Bảng 2.2.

Một số kỹ thuật đa dạng để đánh giá ảnh hưởng của một loại cỏ
dại đến đa dạng thực vật và những thuận lợi, khó khăn. .....................28

Bảng 3.1.

Giá trị trung bình của một số chỉ số sinh học trên mặt đất của cây
Mai dương. ..........................................................................................37

Bảng 3.2.

Giá trị trung bình số lượng hạt Mai dương (hạt/m2) của ngân hàng


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1.

Vị trí vườn quốc gia Cát Tiên và khu vực thu mẫu. .......................30

Hình 3.1.

Cây Mai dương ở mật độ dày. .........................................................36

Hình 3.2.

Cây Mai dương ở mật độ thưa. .......................................................36

Hình 3.3.

Biểu đồ mật độ trung bình (cây/m2) của cây Mai dương trên
mật độ dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa. ...............................37

Hình 3.4.

Biểu đồ độ che phủ trung bình (%) của cây Mai dương trên mật
độ dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa. ......................................38

Hình 3.5.

Biểu đồ số cây con trung bình (cây/m2) của cây Mai dương trên
mật độ dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa. ...............................39

Hình 3.6.

mưa. .................................................................................................56

Hình 3.12.

Biểu đồ giá trị trung bình chỉ số đa dạng sinh học các loài ngân
hàng hạt ở ba mật độ Mai dương dày, thưa và không có Mai
dương vào mùa khô và mùa mưa. ...................................................57

Hình 3.13.

Biểu đồ giá trị trung bình chỉ số cân bằng ngân hàng hạt ở ba
mật độ Mai dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa
khô và mùa mưa. .............................................................................58


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự suy giảm đa dạng sinh học đã và đang là mối lo chung của toàn nhân loại.
Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học thì các loài sinh vật ngoại
lai xâm hại được coi là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất. Chúng đang
ngày càng mở rộng khu phân bố, cạnh tranh gay gắt đến mức hủy diệt các loài bản
địa, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên. Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại có mặt
trong hầu hết các nhóm sinh vật, từ vi sinh vật, nấm, thực vật bậc cao đến các loài
động vật. Trong các loài ngoại lai xâm hại thì thực vật ngoại lai là một trong những
nhóm có mức nguy hại lớn do chúng có khả năng phát tán nhanh chóng và gây xâm
lấn, hủy diệt các loài bản địa.
Hiện nay, Việt Nam đang bị một số loài thực vật ngoại lai như Lục bình
(Eichhornia crassipes Mart. Solms), Bèo cái (Pistia stratiotes L.)…gây tác hại
nghiêm trọng. Trong số đó, cây Mai dương (Mimosa pigra L.) là loại thực vật ngoại

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài đánh giá sơ bộ ảnh hưởng của loài Mai dương (Mimosa pigra L.) đến
đa dạng thực vật ở vùng đồng bằng ngập lũ theo mùa.


3

Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về sinh vật ngoại lai
1.1.1. Sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai ở vùng nhiệt đới
Loài ngoại lai là loài được mang đến một vùng nằm ngoài vùng phân bố địa lý
tự nhiên của chúng do vô tình hoặc có mục đích của con người. Sau khi xâm nhập
vào môi trường mới, một số loài có khả năng mở rộng phạm vi phân bố và trở thành
loài xâm lấn. Loài xâm lấn có mặt ở tất cả các nhóm của sinh giới từ virus, nấm, vi
sinh vật, thực vật bậc thấp và bậc cao, đến động vật không xương và có xương.
Phần lớn các loài xâm lấn được con người du nhập một cách có chủ đích để làm vật
nuôi, cây trồng, thực phẩm, sinh vật cảnh và nguyên vật liệu trong sản xuất. Một số
loài khác được nhập nội một cách vô tình cùng với sự vận chuyển của con người và
hàng hóa. Khoảng 75% tổng số loài du nhập là những loài có phạm vi phân bố hẹp,
25% còn lại là loài phân bố rộng và có tiềm năng trở thành loài xâm lấn. Các vùng
địa lý cách ly như trên đảo, vùng hồ, vùng núi cao thường dễ bị xâm lấn bởi các loài
ngoại lai. Trong vùng nhiệt đới, các khu bảo tồn trên đảo thường có nhiều loài nhập
nội hơn các khu bảo tồn trong đất liền [8, tr.7].
Loài bản địa là loài xuất phát từ quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên trong
vùng. Ngược lại, loài xâm lấn hay loài xâm hại là những loài có khả năng bành
trướng, lất át và trong nhiều trường hợp loại trừ các loài sinh vật bản địa trên khu
vực chiếm cứ của chúng [8, tr.3].
Loài bản địa được coi là xâm lấn khi chúng lây lan vào môi trường sống nhân
tạo như các trang trại hoặc vườn hoặc khi chúng làm tăng sự phong phú trong phạm
vi hoặc những thay đổi mới, đặc biệt là những thay đổi do con người gây ra trong

số cao ở vùng nhiệt đới, nạn phá rừng và xử lý nước thải là hai nguyên nhân chính
gây ra hiện tượng phú dưỡng từ nguồn nước thải công nghiệp địa phương và phân
bón bị rửa trôi của các hệ sinh thái nông nghiệp. Mitsch (1976) cho biết dòng dinh
dưỡng giảm sẽ làm giảm sự phát triển của Lục bình (Eichhornia crassipes) trong
nước ở hồ Alice, Florida, Mỹ. Mực nước giảm trong hồ do bùn đất rửa ra từ các khu
vực lưu vực sẽ tăng cường tải chất dinh dưỡng và sẽ giúp nhanh chóng ép thành
khối dày cho cỏ dại ngoại lai sinh sôi nảy nở nhanh chóng như Salvinia molesta D.
S. Mitchell và tăng cường sự ổn định thảm [20, tr.2 – 4].
Ngoài các điều kiện môi trường nêu trên, một số đặc điểm sinh học của bản
thân loài ngoại lai có thể giúp chúng trở thành loài xâm lấn:


5
- Có khả năng tăng trưởng và sinh sản nhanh chóng nhờ sử dụng hiệu quả chất
dinh dưỡng ở trú quán mới.
- Có khả năng lan rộng rất nhanh để ổn định quần thể.
- Có thể sinh sản sinh dưỡng từ gốc hoặc thân bị chặt.
- Sự vắng mặt các loài thiên địch.
- Có biên độ sinh thái rộng đối với nhiều yếu tố môi trường.
- Có khả năng tạo ra độc tố giúp lấn át loài bản địa [8, tr.7 – 8].
1.1.3. Ảnh hưởng của sự xâm lấn đến sinh thái và kinh tế xã hội

 Ảnh hưởng của sự xâm lấn đến hệ sinh thái
Về mặt sinh thái, sự xâm lấn của loài ngoại lai có nguy cơ làm tuyệt chủng
loài bản địa do đó làm giảm đa dạng sinh học. Sự bành trướng của các loài ngoại lai
trên phạm vi rộng có thể dẫn đến nhiều thay đổi các quá trình địa mạo, chế độ thủy
văn, chế độ lửa, thành phần dinh dưỡng trong đất, thành phần và độ phong phú của
hệ động thực vật bản địa.
Thực vật ngoại lai xâm lấn thay thế thảm thực vật bản địa, lấn át không cho
thảm thực vật bản địa phục hồi, do đó làm giảm hoặc tuyệt chủng loài bản địa, làm

bắt cá (nguồn chính cung cấp protein). Năm 1981, chỉ một thập kỷ sau khi nhập nội
loài bèo này, Thomas và Room (1986) đã báo cáo rằng người địa phương đang đói.
Sự xuất hiện của một tác nhân sinh học là sâu đục thân Cyrtobagous salviniae đã
kiểm soát thành công loài Salvinia moslesta này. Mặc dù Salvinia molesta là một ví
dụ về một loài xâm lấn, theo sau sự kiểm soát sinh học thành công của loài động vật
ăn cỏ, nó đã làm nổi bật những tiềm năng cho một cuộc xâm lấn sinh học hoàn toàn
để phá vỡ một nền kinh tế nông thôn.
Chi phí kinh tế của việc kiểm soát các loài xâm lấn được dẫn chứng tài liệu tốt
hơn. Macdonald và Wissel (1989) chỉ ra rằng chi phí thanh toán bù trừ cây bụi keo
ở Nam Phi đã lên đến khoảng 1.800 USD/ ha. Cây Mai dương (Mimosa pigra L.) là
một loài thực vật ngoại lai xâm lấn đất nông nghiệp, lấp đầy các kênh mương, hồ
ao, hồ chứa nước ở các nước thuộc châu Úc, châu Phi, châu Á. Kinh phí đầu tư để
diệt trừ loài này rất tồn kém do nó có khả năng lấn át cây bản địa rất mạnh, chịu
ngập nước lâu, lại có nguồn hạt rất phong phú, phát tán bằng nhiều hình thức như
gió, nước hoặc hạt có lông bám vào người và súc vật để phát tán đi xa. Ở phía Bắc
nước Úc, trong hai năm 1996 – 1997 đã tiêu tốn 11,4 triệu USD để kiểm soát sự


7
xâm lấn của Mai dương, riêng vườn quốc gia Kakadu (Úc), trong khoảng 10 năm đã
tiêu tốn 5 triệu USD để kiểm soát 80.000 ha đất bị Mai dương xâm lấn [21].
Ở Tây Phi, việc giải quyết cây Lục bình (Eichhornia crassipes) là một vấn đề
quan trọng ở các nước như Cộng hòa Niger, Mali, Bờ Biển Ngà, Nigeria, Ghana và
Senegal. Hơn 550 km sông Niger đã bị loài cây này xâm lấn. Thiệt hại về kinh tế do
Lục bình gây ra ở những quốc gia châu Phi này ước tính khoảng 20 – 50 triệu USD
mỗi năm, còn thiệt hại ở toàn châu Phi có thể vượt quá 100 triệu USD mỗi năm
[11, tr.15 -16].
Bảng 1.1. Thiệt hại về kinh tế do thực vật ngoại lai xâm hại [11, tr.23].
Loài


Queensland, Úc.
- Kiểm soát chi phí trong khu
Lythrum salicaria
vực hoang dã của Hoa Kỳ.

134 triệu USD

20 – 50 triệu USD

160 triệu USD

200 triệu USD
5 – 17 triệu USD

45 triệu USD

1.1.4. Cỏ dại và cỏ dại môi trường
Cỏ dại là những loài thực vật mọc ở nơi mà con người không mong muốn. Cỏ
dại có thể bao gồm các loài thực vật ngoại lai và thực vật bản địa. Một loài thực vật
được xem là cỏ dại đối với người này nhưng lại là loài có ích đối với người khác.


8
Chúng có thể là cỏ dại ở nơi này nhưng không là cỏ dại ở nơi khác, hoặc là cỏ dại ở
thời điểm này nhưng lại là một loài cây có giá trị ở thời điểm khác. Vì một loài cây
có thể được mong muốn bởi một số người và không được mong muốn bởi một số
người khác nên trong thực tế có thể nói cỏ dại là loại cây mà cái hại do nó gây ra
lớn hơn lợi ích mà nó mang lại. Ví dụ cỏ Năng (Eleocharis dulcis Burm.f.) được
xem là cỏ dại trong ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại là một loài
thực vật quan trọng trong vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp. Lục bình

thì các loài cây nông nghiệp có nguồn gốc ngoại lai trước đây là hữu dụng nay sẽ bị
xem là cỏ dại. Cỏ dại môi trường là mối đe dọa đến đa dạng sinh học trong các khu
bảo tồn thiên nhiên. Các tác động chủ yếu của cỏ dại môi trường lên chức năng của
hệ sinh thái bao gồm:
- Cạnh tranh ánh sáng, nước, không gian và chất dinh dưỡng với loài bản địa,
có độc chất ngăn cản loài bản địa sinh sản.
- Thay đổi quá trình địa mạo (xói mòn hoặc tích tụ) thành phần dinh dưỡng
trong đất.
- Thay đổi chế độ thủy văn, chế độ lửa.
- Thay đổi độ phong phú của hệ động vật bản địa do làm thay đổi nơi cư trú
[8, tr.9-10].
Ngày nay, người ta đã sử dụng khá nhiều các biện pháp kiểm soát cỏ dại với
mục đích ngăn chặn, phòng ngừa tình trạng lây lan, xâm lấn và gây hại của cỏ dại
đến môi trường sinh thái. Các biện pháp được biết đến như biện pháp cơ học, sinh
thái, hóa học, ngăn ngừa, tận dụng sinh khối, tổng hợp. Trong đó, biện pháp tổng
hợp (sử dụng phối hợp các biện pháp kiểm soát nhằm phát huy ưu điểm và hạn chế
khuyết điểm của từng biện pháp riêng lẻ) được khuyến khích sử dụng vì có hiệu quả
cao.

 Ảnh hưởng của cỏ dại đến đa dạng thực vật
Tác động của các loài xâm lấn vào sự đa dạng loài trong một môi trường sống
đã được làm nổi bật ở nhiều nghiên cứu. Trong gần như tất cả các trường hợp này,
tác động của cỏ dại được hiển thị để gây ra sự suy giảm về độ phong phú và đa dạng
các loài bản địa [9, tr.7].
Ở phía Đông Ethiopia, tác động của cây Cúc liên chi dại (Parthenium
hysterophorus L.) trên đồng ruộng chủ yếu là trên lúa miến và kê ngón tay là rất
nghiêm trọng. Nhờ sự lây lan nhanh chóng, Cúc liên chi dại cũng đã xâm lấn Kenya


10



11
những tác động tàn phá nền kinh tế nông nghiệp và hệ sinh thái thảo nguyên của
loài cỏ Sả (Cymbopogon nardus L.) [11, tr.16].
1.2. Đặc điểm sinh học của cây Mai dương (Mimosa pigra L.)
1.2.1. Hình thái
Cây Mai dương còn được gọi là Trinh nữ nhọn (Phạm Hoàng Hộ, 1999) có tên
khoa học Mimosa pigra L., thuộc họ Fabaceae. Chi Mimosa có 400 – 500 loài, hầu
hết có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ. Cây Mai dương được Linnaeus mô tả là
một loài riêng lần đầu tiên vào năm 1759. Ở Việt Nam, tất cả các loài Mimosa đều
được gọi là cây Xấu hổ ở miền Bắc và cây Mắc cỡ ở miền Nam.
Mimosa pigra là một loài cây bụi mọc ở nơi đất trống, ẩm ướt ở vùng nhiệt
đới có thể cao đến 6m. Thân, cành có gai dày 7mm. Lá có hai lần kép lông chim,
xếp lại khi đụng vào. Cuống dài 0,3 – 1,5cm. Sóng lá chét dài 3,5 – 12 (-18) cm có
gai thẳng đứng, mảnh, mũi nhọn hướng lên trên, ở giữa gốc của 6 – 14 (-16) cặp lá
chét và thỉnh thoảng có gai mọc chệch hoặc mọc giữa các cặp lá. Mỗi lá chét có 20
– 42 cặp lá chét con, thuôn, dài 3 – 8 (-12,5) mm, rộng 0,5 – 1,25 (-2) mm, gân lá
gần song song với gân giữa, mép lá có lông tơ. Hoa màu vàng hoặc hồng, cụm hoa
hình đầu đường kính khoảng 1cm. Mỗi cụm hoa có khoảng 100 hoa. Mỗi nách lá có
1 – 2 (-3) cụm hoa. Đài nhỏ, xẻ không đều, dài 0,75 – 1mm. Tràng dài 2,25 – 3mm,
8 tiểu nhị. Cụm quả trung bình khoảng 7 trái (1 – 27) quả. Quả màu nâu, có lông,
dày, dài 3 – 8 cm, rộng 0,9 – 1,4cm, chia thành 21 (14 – 26) đốt, mỗi đốt chứa một
hạt, khi chín rụng từng đốt chừa hai bìa lại. Hạt chín có màu nâu hay xanh oliu,
thuôn, dài 4 – 6mm, rộng 2,2 -2,6mm, cân nặng 0,011g (0,006 – 0,017g). Từ khi
cây ra hoa cho đến khi quả chín khoảng 5 tuần. Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 26
[8, tr.345].
1.2.2. Phân bố địa lý
Cây Mai dương có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ từ Mexico qua Trung
Mỹ đến Bắc Argentina và nay lan rộng khắp vùng nhiệt đới. Cây Mai dương được

tiềm ẩn trong đất dưới dạng hạt.
Tỉ lệ thoát hơi nước qua lá thay đổi theo mùa từ 240g/cây/ngày vào đầu mùa
khô, đến 480g/cây/ngày vào cuối mùa khô, do thay đổi độ ẩm tương đối của môi
trường trong mùa khô. Chiều cao cây tăng trưởng cực đại 1,33cm/ngày ở cây mầm
và 1,1cm/ngày ở cây hơn một năm tuổi. Lá kép của nhiều loài cây thuộc chi


13
Mimosa nhạy với các loại kích thích khác nhau như điện, cơ học, hóa chất, nhiệt độ,
vết cắt và ánh sáng. Loài này cũng có đặc tính khép lá ban đêm [8, tr.346].
1.2.5. Sinh sản
Cây bắt đầu ra hoa khoảng 6 – 8 tháng sau khi nảy mầm. Ở xứ bản địa, cây
Mai dương là loài thụ phấn nhờ ong. Cây tự thụ phấn khi không có vật truyền hạt
phấn, đôi khi thụ phấn nhờ gió. Trong môi trường ẩm ướt, cây cũng có hiện tượng
thai sinh. Mỗi năm cây tạo trung bình 9000 hạt/cây. Ở nơi khô hơn cây tạo ít trái
hơn. Cây mọc gần hồ có nhiều trái hơn cây mọc ở đồng lũ. Mỗi đốt quả có lông nên
trôi nổi trong nước, do đó hạt phát tán nhanh chóng theo hệ thống sông ngòi.
Hạt của Mimosa pigra cứng nên nước thoát dần ra khỏi hạt tươi có lẽ qua rốn
hạt. Hạt sống hơn 5 năm trong phòng thí nghiệm. Hạt có thể tồn tại ít nhất 23 năm
trong đất cát. Vì luôn có một số lượng lớn nằm sâu trong đất ít bị thất thoát nên phải
kiểm soát cây mầm nhiều năm sau khi đã loại trừ được cây trưởng thành. Nhiệt độ
cao không ảnh hưởng đến sức sống của hạt. Hơn nữa dao động nhiệt độ còn làm vỡ
vỏ hạt và hạt dễ hút nước để nảy mầm. Trong phòng thí nghiệm, nhiệt độ dao động
trong khoảng 200C thúc đẩy hạt nảy mầm. Tỉ lệ nảy mầm cao nhất khi hạt nằm ở
khoảng 1cm trong đất và thấp đến bằng 0 ở 10cm trong đất. Phần lớn hạt nằm trong
khoảng 10cm cách mặt đất. Sức sống của hạt thấp trong suốt mùa khô, phụ thuộc
vàođộẩm của đất. Số lượng lớn hạt (khoảng 1500 hạt/m2) nằm trên đất ẩm sẽ nảy
mầm dưới tán cây mẹ khi nước lũ vừa rút. Hạt cũng nảy mầm vào đầu mùa mưa,
hoặc sau khi cháy Mimosa pigra không có hình thức sinh sản sinh dưỡng tự nhiên.
Cây này tuợc rất mạnh từ gốc đã bị chặt thân [8, tr. 346].

phí lớn nhất là chi phí kiểm soát cây Mai dương bằng thuốc diệt cỏ vì nó làm tích tụ
trầm tích trong lòng hồ chứa nước và hệ thống tiêu nước. Ngoài ra nó còn xâm lấn
các ruộng lúa làm cho chi phí phục hồi rất cao, khoảng 75% chi phí làm đất chỉ để
kiểm soát cây Mai dương [7, tr.25].
Ở Việt Nam, từ thập kỷ 90, cây Mai dương bùng phát và gây hại ở nhiều nơi.
Hiện nay, chúng xuất hiện khắp nơi và nhất là ở vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh
Đồng Tháp. Cây Mai dương cũng đang xâm lấn mạnh ở vùng hạ lưu sông Đồng
Nai. Ở vườn quốc gia Cát Tiên, Mai dương bao phủ toàn bộ diện tích 100 ha của
Bàu Chim và mỗi năm vườn phải trả 50 – 100 triệu để phòng trừ loài cây này nhưng
không có kết quả vì hàng năm trong mùa lũ, dòng sông Đồng Nai lại mang hàng
triệu hạt từ các cánh đồng Mai dương mênh mông của huyện Cát Tiên, trên thượng
lưu lại theo dòng sông Đồng Nai tràn vào các bàu nước của vườn quốc gia Cát Tiên


15
như Bàu Chim, Bàu Cá. Hiện nay, nhiều hồ chứa nước như hồ Trị An, hồ Đồng Mô
– Ngải Sơn…cũng đang bị cây Mai dương xâm lấn và gây ảnh hưởng đến chức
năng cung cấp nước và phục vụ du lịch của các hồ. Hiện nay, ở Việt Nam, cây Mai
dương đang trở thành một hiểm họa đối với các khu bảo tồn vì đất rộng mênh
mông, khó kiểm soát, nó cũng là hiểm họa đối với các vùng đất ngập nước và các
hồ chứa nước vì Mai dương rất thích hợp với vùng đất ngập nước, cây bị ngập lâu
ngày chỉ chết phần ngọn và rụng hết lá, khi nước rút phần gốc của cây vẫn có khả
năng nảy mầm. Đối với các cánh đồng lúa nước Mai dương cũng gây ảnh hưởng
nhưng vì ruộng lúa được người dân thường xuyên chăm sóc nên khi Mai dương vừa
xuất hiện đã bị dọn sạch ngay như các loại cỏ dại khác nên tác hại của nó đối với
ruộng lúa và vườn cây ăn quả chưa lớn lắm. Việc tiêu diệt Mai dương đã được tiến
hành ở một số nơi nhưng chưa thu được kết quả vì việc làm còn mang tính địa
phương, cục bộ, không kiểm soát được nguồn cung cấp hạt thường xuyên ở nơi
khác đến [21].


giảm số lượng cây, sinh khối và độ phong phú, đa dạng của thực vật thân thảo
[12, tr.189].
Ở Mozambique, Mai dương đã trở thành loài ưu thế trong đầm Chunga của
vườn quốc gia Lochinvar trong vòng 15 năm. Trước năm 1980, chỉ có khoảng 2 ha
nơi thượng nguồn của suối Nampongwe chảy qua đầm Chunga bị Mai dương xâm
lấn nhưng vào giữa những năm 1980, nóđã lan rộng và bao phủ khoảng 100 ha. Một
cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2003 đã cho thấy khu vực này đã tăng lên
khoảng 2.500 ha, Mai dương đã nhanh chóng thay thế thảm thực vật đồng cỏ chiếm
ưu thế trước đó như Echinochloa stagina và Oryza longistaminata A. Chev [12,
tr.206].
Mức độ nghiêm trọng của các tác động của cây Mai dương như sau: (1) sự
thống trị cao của các loài xâm lấn; (2) sự thay đổi trong cấu trúc tổng thảm thực vật;
và (3) việc chuyển đổi một loạt các cấu trúc của thảm thực vật đến một vùng cây
bụi cao đồng nhất. Đối với các loài động vật, những thay đổi môi trường sống có
thể sẽ là thảm họa. Tất cả các vùng đầm lầy, và hầu hết các hệ thống thủy sản nước
ngọt, rất dễ bị xâm lấn. Sự mất mát này của vùng đất ngập nước sẽ tàn sát số lượng
chim nước dựa vào vùng đầm lầy cho việc gây giống và nuôi dưỡng [12, tr.206].
Ở Việt Nam, sự xâm lấn của cây Mai dương đã gây ra nhiều tác động tiêu cực
đến đa dạng sinh học của nhiều hệ sinh thái. Tại vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh


17
Đồng Tháp, cây Mai dương mọc thành những đám thuần loại, che phủ các vùng ven
kênh và các đồng cỏ, làm biến mất thảm thực vật bản địa. Nhiều vùng đồng Cỏ
năng ở khu A4 và A5 trước đây là bãi ăn của Sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii)
nay đã hoàn toàn bị cây Mai dương chiếm cứ. Việc giảm diện tích các bãi thức ăn
đã góp phần vào việc suy giảm đàn sếu đến vườn quốc gia Tràm Chim hàng năm.
Với tốc độ xâm nhiễm hiện tại, và nếu không có bất cứ cố gắng kiểm soát nào loài
cây này, thì chỉ trong khoảng 5 năm nữa tất cả diện tích đồng cỏ của Tràm Chim sẽ
bị xâm lấn hết, đe dọa nghiêm trọng đến đời sống của các loài động thực vật bản địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status