Nghiên cứu thành phần loài họ gừng (zingiberaceae) ở ba xã nga my, xiềng my và bình chuẩn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên pù huống, tỉnh nghệ an - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ MINH SƠN

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE)
Ở BA XÃ NGA MY, XIỀNG MY VÀ BÌNH CHUẨN THUỘC KHU BẢO
TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Vinh, năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ MINH SƠN

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE)
Ở BA XÃ NGA MY, XIỀNG MY VÀ BÌNH CHUẨN THUỘC KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Thực vật
Mã số: 60.42.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG BAN

Vinh, năm 2015



Bảng 3.6. Giá trị sử dụng của họ Gừng (Zingiberaceae) ở 3 xã Bình
Chuẩn, Nga My và Xiềng My
Bảng 3.7. Môi trường sống của các loài họ Gừng ở khu vực nghiên cứu
Bảng 3.8. Yếu tố địa lý của các loài trong họ Gừng ở Bình Chuẩn, Nga
My, Xiềng My
Bảng 3.9. Các loài mới phát hiện phân bố ở tỉnh Nghệ An

Trang
18
26
28
29
30
31
32
36
37
39


DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Bản đồ xã Bình Chuẩn, Nga My và Xiềng My
Hình 3.1. Phân bố các chi, loài ở các xã nghiên cứu
Hình 3.2. So sánh chi, loài ở khu vực nghiên cứu với Pù Mát
Hình 3.3. So sánh chi, loài ở khu vực nghiên cứu với Việt Nam
Hình 3.4. Giá trị sử dụng của các loài họ Gừng ở khu vực nghiên cứu
Hình 3.5. Môi trường sống của các loại họ Gừng ở khu vực nghiên cứu
Hình 3.6. Yếu tố địa lý chính của họ Gừng ở khu vực nghiên cứu


Ảnh 20. Alpinia tonkinensis Gagnep.
Ảnh 21. Amomum villosum Lour.
Ảnh 22. Amomum gagnepainiiT. L. Wu, K. K. Larsen &Turland
Ảnh 23. Amomum muricarpum Elmer
Ảnh 24. Amomum longiligulare T. L. Wu
Ảnh 25. Amomum xanthoides Wall. ex Baker
Ảnh 26. Curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe
Ảnh 27. Amomum biflorum Jack


Ảnh 28. Amomum mengtzense H. T. Tsai ex P. S. Chen
Ảnh 29. Curcuma alismatifolia Gagnep.
Ảnh 30. Curcuma longa L.
Ảnh 31. Curcuma stenochila Gagnep.
Ảnh 32. Distichochlamys rubrostriana W. J. Kresss & Rehse
Ảnh 33. Distichochlamys orlowii K. Larsen & M. F. Newman
Ảnh 34. Hedychum flavum Roxb.
Ảnh 35. Globba marantina L.
Ảnh 36. Hedychium gardnerianum Rosc.
Ảnh 37. Hedychium stenopetalum Lodd.
Ảnh 38. Hedychium villosum Wall.
Ảnh 39. Kaempferia rotunda L.
Ảnh 40. Kaempferia galanga L.
Ảnh 41. Zingiber monophyllum Gagnep.
Ảnh 42. Slisiquamommum tonkinensis Baill
Ảnh 43. Zingibersp.
Ảnh 44. Zingiber gramineum Blume
Ảnh 45. Zingiber officinale Rosc.
Ảnh 46. Zingiber montanum (Koenig) Link ex A. Dietr
Ảnh 47. Zingiber collinzii J.Mood & I. Theilade


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong ngành thực vật hạt kín thì họ Gừng (Zingiberaceae) không phải là họ
lớn, chỉ có khoảng 45 chi, 1.300 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
trong đó chủ yếu ở Nam và Đông nam châu Á [69]. Ở Việt Nam hiện biết 19 chi và
144 loài và thứ, trong đó có nhiều cây có giá trị như: Riềng (Alpinia officinarum
Hance) làm gia vị và làm thuốc, Nghệ (Curcuma domestica Val.) làm thuốc chữa
bệnh đau dạ dày, bệnh vàng da, Gừng (Zingiber officinale Rosc) làm mứt, làm
thuốc, có hưng phấn, dễ tiêu...[8].
Nói chung họ Gừng có số lượng lớn các loài được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực: y học, dược phẩm, công nghệ thực phẩm. Do vậy, nghiên cứu họ Gừng để có
cơ sở khoa học nhằm khai thác, sử dụng và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên
thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn của nhiều nhà khoa học.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu họ Gừng như: Lê Trần
Chấn (1999) đã công bố hệ thực vật Việt Nam có 124 loài thuộc 12 chi [15],
Phạm Hoàng Hộ (2000) công bố ở Việt Nam có 115 loài của 11 chi [22], Võ
Văn Chi (2012) công bố 41 loài của 8 chi, trong họ Gừng là cây làm thuốc [12]
và rất nhiều tác giả khác nữa...
Hiện nay ở Nghệ An chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về họ
Gừng, mà mới chỉ có các công trình nghiên cứu về tính đa dạng hệ thực vật ở
một số khu vực trong đó các tác giả có đề cập đến thành phần loài thuộc họ
gừng như: Phạm Hồng Ban (2000) khi nghiên cứu thành phần loài thực vật ở Pù
Mát công bố 6 loài, thuộc 6 chi của họ Gừng [1]. Nguyễn Nghĩa Thìn và
Nguyễn Thanh Nhàn (2004) đã công bố 32 loài, của 8 chi họ Gừng ở vườn Quốc
gia Pù Mát [43]...
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống được thành lập năm 2001 với diện
tích 49.806 ha, nằm ở phía Bắc của dải Trường Sơn, có toạ độ nằm trong khoảng
19015’ - 19029’ vĩ độ Bắc, 104013’ - 105016’ kinh Đông, nằm trong địạ phận của
10

nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, bởi thực vật là mắt xích đầu tiên cung cấp năng
lượng cho mọi sinh vật khác cũng như đảm bảo sự phát triển bền vững cho hệ
sinh thái toàn cầu.
Những công trình đầu tiên nghiên cứu về thực vật cách đây hơn 3000 năm
TCN ở Ai Cập, Trung Quốc cổ đại vào khoảng 2200 năm TCN và các nước La
Mã, Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên các công trình này nghiên cứu hệ thực vật chỉ
dừng lại bằng việc quan sát và mô tả.
Théophraste (371 - 286 TCN) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp
phân loại thực vật. Phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo và quan sát sinh
cảnh sống của thực vật trong 2 tác phẩm: “Lịch sử thực vật” và “Cơ sở thực vật”,
đã mô tả được khoảng 500 loài cây trồng và cây hoang dại [theo 13]. Plinus (79 24TCN) viết bộ “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả gần 1.000 loài cây làm thuốc và cây ăn
quả. Sau đó Dioseoride (20 - 60) một thầy thuốc của Tiểu Á đã viết cuốn sách
“Materia media” (Dượcliệu học), trong đó ông nêu được hơn 500 loài cây và đã
xếp chúng vào các họ khác nhau [theo 13].
Thời kỳ Trung cổ khoa học nói chung và ngành thực vật học nói riêng không
phát triển được do bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, giáo hội thống trị.
Đến thời kỳ Phục Hưng(XV - XVI) khi mà xã hội biến chuyển, cácngành
khoa học kỹ thuật phát triển mạnh kèm theo đó là sự phát triển của các ngành
khoa học cơ bản, trong đó có ngành phân loại học thực vật, được đánh dấu bởi 3
sự kiện quan trọng đó là: Sự phát sinh tập bách thảo (Herbier) thế kỷ XVI; việc
thành lập các vườn bách thảo (TKXV - XVI) và biên soạn cuốn “Bách khoa
12


toàn thư về thực vật”. Các sự kiện đó là những cơ sở cho các nhà nghiên cứu
thực vật tiếp theo sau này. Từ đây xuất hiện các công trình như của Andrea
Caesalpino (1519 - 1603), một trong những nhà thực vật học đầu tiên đưa ra
bảng phân loại và được đánh giá cao bởi quan điểm phân loại thực vật dựa trên
đặc điểm quan trọng của chúng và hạt là đặc điểm ông lựa chọn để làm tiêu
chuẩn phân loại thực vật [theo 13]. Nhà tự nhiên học người Anh, J. Ray (1628 1705) trong quyển “Historyaplantarum- Lịch sửthực vật” gồm 3 tập mô tả

việc quan sát mô tả mà đi sâu hơn nữa như: Tìm hiểu về công dụng của các loài
cây để phục vụ mục đích của con người về chữa bệnh, lương thực, thực phẩm...
1.1.2. Ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho
sự sinh trưởng và phát triển của thực vật, có thể nhận thấy thành phần loài thực
vật ở nước ta là khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, lịch sử phát triển môn
phân loại thực vật ở Việt Nam diễn ra chậm hơn so với các nước khác.
Ban đầu chỉ có các nhà nho, thầy lang sưu tập các cây có giá trị làm thuốc
chữa bệnh như Tuệ Tĩnh (1623 - 1713) trong 11 quyển “Nam dược thần hiệu”
đã mô tả được 759 loài cây thuốc, Lê Quý Đôn (thế kỷ XVI) trong “Vân Đài
loại ngữ” 100 cuốn đã phân ra cây cho hoa, quả, ngũ cốc…Lê Hữu Trác (1721 1792) dựa vào bộ “Nam dược thầnhiệu” đã bổ sung thêm 329 vị thuốc mới trong
sách “Hải Thượng Y tôn tâm linh” gồm 66 quyển. Ngoài ra trong tập “Lĩnh nam
bản thảo” ông đã tổng hợp được 2.850 bài thuốc chữa bệnh [theo 12].
Đời nhà Lê có Nguyễn Trữ trong tác phẩm “Việt Nam thực vật học” cũng
đã mô tả được nhiều loài cây trồng. Lý Thời Chân (1595) xuất bản “Bản thảo
cương mục” đề cập đến trên 1.000 vị thuốc thảo mộc.
Đến thời kỳ Pháp thuộc tài nguyên rừng nước ta còn rất phong phú và đa
dạng, thu hút nhiều nhà khoa học phương Tây nghiên cứu. Do đó, việc phân loại
thực vật được đẩy mạnh và nhanh chóng. Điển hình như công trình của Loureiro
năm 1790 “Thực vật ở Nam Bộ” ông đã mô tả gần 700 loài cây.

14


Pierre (1879) trong “Thực vật rừng Nam Bộ” đã mô tả khoảng 800 loài
cây gỗ. Công trình lớn nhất là “Thực vật chí ĐôngDương” do H.Lecomte cùng
một số nhà thực vật người Pháp biên soạn (1907 - 1951) gồm 7 tập. Trong công
trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài
thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Sau này Aubreville và cs
(1960-1996), đã xuất bản được 29 tập thực vật chí Đông Dương. Năm 1965,

loài thuộc 604 chi và 159 họ [43].Năm 2006, Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết
Chiến đã công bố cuốn đa dạng thực vật khu BTTN Na Hang, Tuyên Quang
[44].Gần đây, Trần Minh Hợi và cs (2008) đã công bố cuốn Đa dạng sinh học
VQG Xuân Sơn, Phú Thọ [23]. Đỗ Ngọc Đài và cs (2007) đã công bố 492 loài có
mặt trên núi đá vôi VQG Bến En, Thanh Hóa [19].
Lê Trần Chấn (1999) với trong công trình “Một số đặc điểm cơ bản của hệ
thực vật Việt Nam” đã công bố 10.440 loài thực vật [15]. Dựa trên những công
trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã công bố, Nguyễn Nghĩa Thìn
(2007) thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt Nam bao gồm 11.373 loài thực vật bậc
cao trong đó có 10.580 thực vật bậc cao có mạch [40]. Năm 2000-2005, các nhà
khoa học Việt Nam đã thống kê tất cả các loài thực vật Việt Nam trong 3 tập
“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” với hơn 13.000 loài được xác định [5].
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trên để phục vụ cho công tác bảo tồn
nguồn gen thực vật, từ năm 1996 các nhà thực vật Việt Nam đã cho xuất bản cuốn
“Sách đỏ Việt Nam” phần thực vật đã mô tả 356 loài thực vật quý hiếm ở Việt Nam
có nguy cơ tuyệt chủng, được tái bản và bổ sung năm 2007 với tổng số loài lên đến
464, tăng 108 loài đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên [9].
Hiện nay, các nhà khoa học đang đi theo hướng là nghiên cứu các họ thực
vật dưới dạng thực vật chí các công trình như: họ Na - Annonaceae của Nguyễn
Tiến Bân (2000) [4], họ Hoa môi – Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000)
[36], họ Cúc - Asteraceae của Lê Kim Biên - tập 7 (2007) [7], họ Thầu dầu Euphorbiaceae của Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) [68], họ Cói-Cyperaceae của
Nguyễn Khắc Khôi (2002) [26], họ Đơn nem - Myrsinaceae của Trần Thị Kim
Liên (2002) [29], họ Trúc Đào - Apocynaceae của Trần Đình Lý (2007) [35], họ
Cỏ roi ngựa- Verbenaceae cảu Vũ Xuân Phương (2007) [37], họ Rau răm của
16


Nguyễn Thị Đỏ (2007) [20]… Đây là những tài liệu quan trọng nhất để làm cơ
sở đánh giá hệ thực vật Việt Nam và thống kê một cách đầy đủ về thành phần
loài thực vật có mặt tại Việt Nam.

Nguyễn Nghĩa Thìn và cs trong công trình nghiên cứu cây thuốc của đồng bào
dân tộc Thái vùng tây nam Nghệ An, tác giả đã mô tả 544 loài thực vật bậc cao
làm thuốc thuộc 363 chi của 121 họ và đã công bố nhiều bài thuốc hay của đồng
bào dân tộc [39]. Cũng trong năm 2000, Phạm Hồng Ban đã công bố 586 loài
thực vật bậc cao thuộc 334 chi và 105 họ ở vùng đệm Pù Mát - Nghệ An trong
công trình “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái sau nương
rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An”, ngoài sự đánh giá về đa dạng thành phần loài
tác giả còn đánh giá sự đa dạng của các quần xã thực vật và đã xác định được
diễn thế của thảm thực vật sau nương rẫy tại khu vực nghiên cứu [1]. Năm 2001,
trong công trình điều tra đa dạng sinh học ở VQG Pù Mát rất quy mô của SFNC
do cộng đồng Châu Âu tài trợ, Nguyễn Nghĩa Thìn và cs đã thống kê được 1.208
loài thực vật, trong đó có 1.144 loài thuộc 545 chi của 159 họ đã được xác định và
công bố. Đây được xem là danh lục thực vật đầy đủ nhất từ trước tới nay của Vườn
quốc gia Pù Mát [theo 43].Năm 2002, Nguyễn Anh Dũng với đề tài “Thành phần
loài thực vật bậc cao có mạch ở xã Môn Sơn vùng đệm vườn quốc gia Pù Mát” đã
công bố 496 loài 391 chi [16].Năm 2004 vườn Quốc gia Pù Mát cho xuất bản
cuốn sách "Đa dạng thực vật Vườn Quốc gia Pù Mát" công bố với 2.494 loài
thực vật có mạch [43]. Hệ sinh thái rừng ở Nghệ An đã được nhiều tác giả đề cập
đến, nhưng các tác giả chỉ đề cập theo từng chuyên đề riêng lẻ không tính đến
luận chứng kinh tế cũng như khoa học và kỹ thuật để xây dựng các KBT, VQG
một cách có hệ thống.Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009), nghiên cứu hệ thực
vật bắc Quỳnh Lưu đã xác định được sự có mặt của 516 loài thuộc 304 chi, 98
họ [2].Năm 2010, Nguyễn Đức Linh và cs đã công bố khu hệ thực vật núi đá vôi
vùng Đông Bắc Nghĩa Đàn [30]. Gần đây, khi nghiên cứu hệ thực vật Pù Hoạt
thì Lê Thị Hương và cs (2012) đã công bố 821 loài, 441 chi và 156 họcó mặt ở
đây [18].

18





Costoideae[64]. R.E.Holttum (1950), nghiên cứu họ Gừng ở Malesia đã mô tả
và công bố 22 chi với 156 loài [54].
Đến năm 1959, J.Hutchinson đã xây dựng hệ thống phân loại họ gừng
gồm có 45 chi, được xếp trong 4 tông là: Costeaa, Hedychieae, Globbeae và
Zingibereae. Với đặc điểm chính là nhị lép phát triển thành dạng cánh tràng,
dính hay không dính với cánh môi và số lượng ô trong bầu [55].H.Melchior
(1964) đã công bố 49 chi được xếp trong 2 phân họ là phân họ Zingiberoideae
với 3 tông là Hedychieae, Globbeae và Zingibereavà phân họ Costoideae chỉ với
1 tông là Costeae [60]. C.A. Backer (1968), nghiên cứu hệ thực vật Java, đã mô
tả 13 chi với 55 loài [49]. B.L.Burt và R.M.Smith (1972) đã công bố 48 chi
được xếp vào 2 phân họ. Trong đó phân họ Zingiberoideae gồm 4 tông:
Hedychieae, Globbeae, Alpiniaea và Zingibereae, và phân họ Costoideae chỉ có
1 tông Costeae [52], [65]. T.L. Wu &S.J.Chen (1981) khi nghiên cứu họ Gừng ở
Trung Quốc đã mô tả 19 chi với 144 loài [69].
A. Takhtajan (1987), cũng căn cứ vào các đặc điểm của nhị lép bên phát
triển thành dạng cánh tràng hay tiêu giảm thành dạng dùi, trung đới kéo dài bao
lấy vòi nhuỵ, số lượng các ô trong bầu cũng như cách sắp xếp của lá đã công bố
khoảng 47 chi được xếp trong 4 tông là Hedychieae, Globbeae, Alpiniaea và
Zingibereae, Tách tông Costeae trong hệ thống của J.Hutchinson ra khỏi họ
gừng và thành 1 họ riêng biệt là họ Costaceae (Họ Mía dò) [66].
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học
đã hỗ trợ rất tích cực cho việc nghiên cứu thực vật, bên cạnh các phương pháp
truyền thống là phương pháp hình thái so sánh, còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu ở các cấp độ phân tử như phân tích sinh học phân tử, hay phương
pháp phân tích bằng AND, với những thành tựu này thì các kêt quả nghiên cứu
đảm bảo độ chính xác cao hơn. J.Kress và cộng sự (2002), đã công bố 53 chi
được xếp trong 4 phân họ là: Siphonochiloideae, Tamijoideae, Alpinioideae và
Zingiberoideae với 6 tông [57].

có một số công trình nghiên cứu về giá trị tài nguyên của họ Gừng như Võ Văn
Chi (2012) trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 45 loài thuộc 12
chi làm thuốc [12], [14]. Lê Trần Đức (1997) đã giới thiệu 112 loài thuộc 5 chi
21


có tác dụng làm thuốc [17]. Đỗ Tất Lợi (1995) đã mô tả 13 loài thuộc 5 chi làm
thuốc [31]. Đỗ Huy Bích và các tác giả (2004) đã mô tả 16 loài thuộc 7 chi làm
thuốc [6]. Trần Đình Lý (1993) trong 1900 loài cây có ích ở Việt Nam đã giới
thiệu 8 chi với 24 loài được sử dụng làm thuốc, làm gia vị, cho tinh dầu [34].
Triệu Văn Hùng (2007) trong “Lâm Sản ngoài gỗ ở Việt Nam” đã giới thiệu 13
loài được sử dụng trong lĩnh vực làm thuốc và cho tinh dầu [24].
1.2.3. Ở Nghệ An
Nghiên cứu họ Gừng ở Nghệ An chưa có công trình nào chuyên sâu mà
chỉ có các công trình công bố về điều tra đa dạng ở các khu vực khác nhau
như: Phạm Hồng Ban (2000) khi nghiên cứu thành phần loài thực vật ở Pù Mát
công bố 6 loài, thuộc 6 chi của họ Gừng [1]. Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn
Thanh Nhàn (2004) đã công bố 32 loài, của 8 chi họ Gừng ở vườn Quốc gia Pù
Mát... [43]. Gần đây khi nghiên cứu hệ thực vật Pù Hoạt, Lê Thị Hương và cs
đã công bố có 13 loài và 6 chi thuộc họ Gừng[18]. Như vậy các nghiên cứu về
họ Gừng ở Nghệ An đang còn rất ít mặc dù tiềm năng về tính đa dạng và giá trị
sử dụng là rất lớn.
1.3. Nghiên cứu về yếu tố địa lý
Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý thực vật khác nhau, thể hiện
ở yếu tố đặc hữu và yếu tố di cư, các loài thuộc yếu tố đặc hữu biểu hiện ở sự
khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cư sẽ chỉ
ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó hay nói cách khác đó chính là sự du nhập
của các loài bằng những con đường khác nhau tạo thành ổ sinh thái trong khu
hệ thực vật.
Các yếu tố địa lý thực vật của Việt Nam mang bản sắc của các yếu tố địa lý

phương và sự độc đáo về loài.
Theo Pócs Tamás (1965), khi nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, đã
phân biệt 3 nhóm các yếu tố như sau:
- Nhân tố bản địa đặc hữu

39,90 %

+ Của Việt Nam

32,55 %

+ Của Đông Dương

7,35 %

- Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới:

55,27 %

+ Từ Trung Quốc

12,89 %

+ Từ ấn Độ và Himalaya

9,33 %

+ Từ Malaysia - Indonesia

25,69 %

Năm 2008 Nguyễn Nghĩa Thìn căn cứ vào các khung phân loại của Pócs
Tamás (1965), tác giả đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho
hệ thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam
vào các yếu tố địa lý như sau [40]:
1- Yếu tố toàn cầu
2- Yếu tố Liên nhiệt đới
3- Yếu tố Cổ nhiệt đới
4- Yếu tố nhiệt đới châu Á
5- Yếu tố ôn đới
6- Yếu tố đặc hữu Việt Nam
7- Yếu tố cây trồng.
Từ khung phân loại các yếu tố địa lý đó Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự
đã lần lượt xác định các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật các VQG và
KBTTN trong cả nước. Tài liệu mới nhất về các yếu tố địa lý thực vật của hệ
thực vật chính ở VQG Bạch Mã (2003) [42] được chỉ ra như sau:
Yếu tố toàn cầu:

0,61 %

Yếu tố nhiệt đới:

62,93 %

Yếu tố ôn đới:

3,76 %

Yếu tố đặc hữu Việt Nam:

25,12 %

đã đưa ra các yếu tố địa lý như sau:
Yếu tố toàn cầu:

2,58 %

Yếu tố nhiệt đới:

80,21 %

Yếu tố ôn đới:

5,25%

Yếu tố đặc hữu Việt Nam:

8,87 %

Yếu tố cây trồng:

0,34 %

1.4. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1. Vị trí địa lý
Xã Bình Chuẩn (huyện Con Cuông); xã Nga My, Xiềng My (huyện
Tương Dương) thuộcKhu BTTN Pù Huống cách thành phố Vinh 180 km về phía
Tây Tây Bắc, có tọa độ địa lý như sau:Từ 19o15'5” đến 19o28'31”vĩ độ Bắc;Từ
104o44'27’’ đến 105o1'9”kinh độ Đông.Phía Bắc giáp xã Quang Phong, huyện
Quế Phong; xã Châu Hoàn, Diễn Lãm huyện Quỳ Châu. Phía Namgiáp xã Đôn
Phục của huyện Con Cuông. Phía Đông giáp xã Châu Cường, Nam Sơn của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status