Nghiên cứu bảo tồn các loài cây thuộc ngành thông (pinophyta) tại khu bảo tồn thiên nhiên pù huống, tỉnh nghệ an - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------

TRẦN ĐỨC DŨNG

NGHIÊN CỨU BẢO TỒN CÁC LOÀI CÂY THUỘC NGÀNH
THÔNG (PINOPHYTA) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2013


i

LỜI NÓI ĐẦU
Được sự nhất trí của trường Đại học lâm nghiệp và đơn vị tiếp nhận là
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An, tôi đã tiến hành thực tập
luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu bảo tồn các loài cây thuộc ngành Thông
(Pinophyta) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An”.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của
các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học, bạn bè đồng nghiệp, lãnh đạo, cán bộ
kiểm lâm Khu BTTN Pù Huống, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của 2 thầy
giáo TS. Hoàng Văn Sâm; TS. Lê Viết Lâm.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.
Hoàng Văn Sâm, TS. Lê Viết Lâm đồng thời tôi cũng xin gửi tới ban lãnh
đạo, các phòng chuyên môn và cán bộ kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù
Huống, tỉnh Nghệ An lời cảm ơn chân thành nhất.

2.1 Đối tượng nghiên cứu................................................................................................13
2.2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................13
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................................13
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................14
2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu ........................................................ 14
2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp .......................................................... 14
2.4.3. Phương pháp nội nghiệp .............................................................. 19
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................21

3.1. Điều kiện tự nhiên Khu BTTN Pù Huống ....................................................21
3.1.1. Vị trí địa lý ..................................................................................... 21
3.1.2. Địa hình, địa mạo .......................................................................... 22
3.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng .................................................................... 23
3.1.4. Khí hậu, thủy văn .......................................................................... 23
3.1.5. Tài nguyên rừng và đất rừng ........................................................ 24
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................................28


iii

3.2.1. Dân số, dân tộc .............................................................................. 28
3.2.2. Lao động và tập quán .................................................................... 30
3.2.3. Văn hoá xã hội .............................................................................. 31
3.2.4. Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng ........................................ 32
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................33

4.1. Kết quả nghiên cứu thành phần và xác định sự phân bố của các
loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) theo đai cao tại Khu BTTN Pù
Huống. ......................................................................................................................................33


Viết tắt

Viết đầy đủ

BTTN

Bảo tồn thiên nhiên

BVNN

Bảo vệ nghiêm ngặt

ĐHSP

Đại học sư phạm

EN

Nguy cấp

IUCN

Danh lục Đỏ các loài có nguy cơ bị diệt vong của Hiệp
hội Bảo vệ Thiên nhiên thế giới

KHTN – ĐHQGHN Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
NĐ 32

Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ


6

3.1

Một số nhân tố khí hậu xung quanh Khu BTTN Pù Huống

24

3.2
3.3
4.1

4.2

Hiện trạng các loại rừng và sử dụng đất đai tại Khu BTTN Pù
Huống
Hiện trạng dân số, dân tộc các bản cung quanh Khu BTTN Pù
Huống
Thành phần các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) điều tra
được tại Khu BTTN Pù Huống
Hiện trạng bảo tồn các loài thuộc ngành Thông tại Khu BTTN
Pù Huống

25
29
33
38

4.3


Cấp chiều cao cây tái sinh Dẻ tùng Vân Nam

49

4.9

Tổ thành loài cây mọc cùng với Đỉnh tùng

53

4.10

Tổ thành loài cây mọc cùng với Thông tre lá dài

56

4.11

Tái sinh quanh gốc cây mẹ của Thông tre lá dài

57

4.12

Tổ thành loài cây mọc cùng với Thông nàng

61

4.13


Tổ thành loài cây ưu thế mọc cùng Sa mộc dầu

72


vi

DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình

TT

Trang

1.1

Các vùng phân bố chính của Thông Việt Nam

8

3.1

Bản đồ hành chính của Khu BTTN Pù Huống

22

4.1

Sự phân bố của các loài thuộc ngành Thông theo đai cao

52
55
55

4.10 Hình thái nón đực (a),nón hạt (b) của Thông nàng

59

4.11 Bản đồ phân bố Thông nàng tại Khu BTTN Pù Huống

60

4.12 Hình thái quả chín (a), cành lá (b) của Kim giao núi đá

64

4.13 Bản đồ phân bố Kim giao núi đá tại Khu BTTN Pù Huống

64

4.14 Hình thái lá của Kim giao núi đất

67

4.15 Bản đồ phân bố Kim giao núi đất tại Khu BTTN Pù Huống

68

4.16
4.17

Nằm cách 30 km về phía Bắc của dãy Trường Sơn, bị ngăn cách bởi
thung lũng sông Cả và trải dài trên địa bàn các huyện Quế Phong, Quỳ Châu,
Qùy Hợp, Tương Dương và Con Cuông, Khu BTTN Pù Huống có diện tích là
40.127,7 ha. Nơi đây là một kho tàng về các nguồn gen hoang dã, quý.
Những năm gần đây, ở Pù Huống cũng giống tình trạng của các khu
rừng đặc dụng khác ở nước ta, hoạt động của con người đã làm mất hoặc suy
thoái phần lớn diện tích rừng tự nhiên. Đáng chú ý là khai thác chọn gỗ và
phá rừng lấy đất canh tác. Khai thác gỗ thương mại diễn ra vào những năm
1960 cũng đã tác động đến rừng và làm mất rừng. Khai thác gỗ hiện nay chủ


2

yếu phục vụ cho nhu cầu sử dụng của gia đình, phần lớn dùng để xây nhà
(Kemp và Dilger, 1996). Chính những nguyên nhân này đã làm hệ sinh thái
rừng suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là các loài thực vật quan trọng.. Như
vậy, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống khá đa dạng về các loài thực vật
ngành Thông, là nơi còn sót lại một số loài đặc hữu quý hiếm được ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam cũng như Sách Đỏ thế giới. Trong thời gian gần đây mặc
dù các cấp, các ngành chức năng, cũng như nhân dân các dân tộc địa phương
trong vùng đã rất cố gắng trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh
học, song do nhiều nguyên nhân khác nhau và do chưa tìm được giải pháp
hữu hiệu nhất nên nguồn tài nguyên thực vật rừng nói chung và thực vật
ngành Thông nói riêng ở đây vẫn bị tàn phá nặng nề, nhiều vụ đốt rừng làm
nương rẫy thường xuyên xảy ra và đặc biệt là tệ nạn khai thác và buôn bán tài
nguyên thiên nhiên trái phép với số lượng lớn vẫn diễn ra đã làm suy giảm
nghiêm trọng số lượng cũng như nơi sống của các loài này. Vì vậy, vấn đề
nghiên cứu bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành Thông ở đây là rất cần thiết,
không những có ý nghĩa về mặt khoa học sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực tiễn
lớn lao.

số cây cổ thụ nổi tiếng như cây Cù tùng (Sequoia) có tên “cụ già thế giới” ở
California (Mỹ) đã trên 3.000 năm tuổi, cây Tuyết tùng (Cedrus deodata) trên
đảo Ryukyu (Nhật Bản) qua máy đo đã 7.200 năm tuổi. Tại Li Băng hiện còn
một đám rừng gồm 400 cây Bách Libăng (Cedrus) nổi tiếng từ thời tiền sử,
trong đó có 13 cây cổ địa có hàng nghìn năm tuổi [18].


4

Cây trong ngành Thông là một trong những nhóm cây quan trọng nhất
trên thế giới. Các khu rừng cây ngành Thông rộng lớn của Bắc bán cầu là nơi
lọc khí cacbon, giúp làm điều hòa khí hậu thế giới. Rất nhiều dãy núi trên thế
giới gồm rừng các loài cây ngành Thông chiếm ưu thế đóng một vai trò quyết
định đối với việc điều hòa nước cho các hệ thống sông ngòi chính. Những
trận lụt lội khủng khiếp gần đây ở các vùng thấp như ở các nước Trung Quốc
và Ấn Độ có quan hệ trực tiếp tới việc khai thác quá mức rừng cây ngành
Thông phòng hộ đầu nguồn. Rất nhiều loài thực vật, động vật và nấm phụ
thuộc vào cây ngành Thông để tồn tại, do đó không có cây ngành Thông thì
những loài này sẽ bị tuyệt chủng. Ngành Thông cung cấp một phần chính gỗ
cho xây dựng, ván ép, bột và các sản phẩ m giấy của thế giới. Nhiều loài còn
cho gỗ quí với những công dụng đặc biệt như dùng đóng tàu hay làm đồ mỹ
nghệ. Phần lớn cây thuộc ngành Thông có gỗ dễ gia công, bền. Ở Chi Lê cây
Fitzroya cupressoides là một loài cây ngành Thông rừng ôn đới có chiều cao
đạt tới trên 50m và tuổi trên 3.600 năm. Thân cây này được tìm thấy từ các
đầm lầy nơi chúng đã bị chôn vùi từ trên 5.000 năm trước nhưng gỗ vẫn có
giá trị sử dụng tốt. Loài cây được dùng trồng rừng nhiều nhất trên thế giới là
Thông Pinus radiata, là nguyên liệu cơ bản cho công nghiệp rừng của châu
Úc, Nam Mỹ và Nam Phi, với tổng diện tích lớn hơn cả diện tích Việt Nam.
Tại sinh cảnh nguyên sản của cây ở California loài chỉ có ở 5 đám nhỏ còn sót
lại và đang bị đe do ̣a nghiêm trọng. Cây thuộc ngành Thông còn là nguồn

1.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Hiện tại có khoảng 29 loài cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam. Mặc dù
chỉ dưới 5% số loài cây trong ngành Thông đã biết trên thế giới được tìm thấy


6

ở Việt Nam nhưng ngành Thông Việt Nam lại chiếm đến 27% số các chi và 5
trong số 8 họ đã biết [18] (xem bảng 1.1).
Bảng 1.1. Cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam trong so sánh với thế giới
Số các chi / loài

Số chi ở

Số loài / loài đặc

trên thế giới

Việt Nam

hữu ở Việt Nam

Bách tán (Araucariaceae)

3/ 41

0

0/0


10/1-2*

Kim giao (Podocarpaceae)

18/190

4

6/1-3**

Sciadopityaceae

1/1

0

0/0

Thông đỏ (Taxaceae)

5/23

2

6/2

70/635

19


xứ ở Việt Nam lại cho thấy có năng suất cao nhất trong các khảo nghiệm ở châu
Phi và châu Úc. Những thực tế này thể hiện tầm quan trọng của các loài thuộc
ngành Thông Việt Nam đối với thế giới [7], [18].
Tầm quan trọng của ngành Thông Việt Nam được xác định bởi tính ổn định
tương đối về địa chất và khí hậu của Việt Nam trong vòng hàng triệu năm, kết hợp
với địa mạo đa dạng hiện tại của đất nước và nhiều kiểu dạng sinh cảnh kèm theo.
Nhìn chung, khí hậu trái đất đã trở nên khô và lạnh hơn, nhiều loài cây trong
ngành Thông vốn thích nghi với điều kiện ấm và ẩm bị tuyệt chủng. Tuy vậy, một
số loài đã di cư được đến các vùng thích hợp hơn như ở Tây Nam Trung Quốc và
miền Bắc Việt Nam. Sa mô ̣c (Cunninghamia), Bách tán Đài Loan (Taiwania) và
Dẻ tùng (Amentotaxus) là những ví dụ của những chi trước đây có phân bố rất
rộng trên thế giới. Phạm vi vĩ độ của Việt Nam (8o - 24o) gồm các nơi từ gần xích
đạo cho đến vùng cận nhiệt đới cùng với phạm vi độ cao của các hệ núi chính có
nghĩa là các sinh cảnh thích hợp vẫn còn tồn tại và các loài như vậy có khả năng
sống sót. Các thay đổi khí hậu trên Bắc bán cầu có ảnh hưởng đến các nhóm cây
ngành Thông rất khác nhau. Một số bị tuyệt chủng hay phải di cư tới các vùng mà
còn có khí hậu thích hợp, trong khi đó một số loài khác tiến hoá và đã có thể sống
được ở những sinh cảnh đã thay đổi trong điều kiện khí hậu mới. Các loài Thông
ở Việt Nam là ví dụ cho cả hai hình thức này. Loài Thông lá dẹt (Pinus krempfii)
được coi là một loài cây cổ tàn dư còn lại mà không có loài nào có quan hệ gần
gũi còn sống sót, trong khi đó Thông ba lá (P. kesiya) là loài mới tiế n hóa gầ n đây.
Sự gần gũi của Việt Nam về địa lý với vùng nhiệt đới còn có nghĩa là những loài


8

phát tán hạt nhờ chim chóc của một số họ trong ngành Thông ở Nam bán cầu như
họ Kim giao (Podocarpaceae) đã có khả năng di cư lên phía Bắc. Hệ thực vật
ngành Thông Việt Nam do đó chứa đựng một sự pha trộn kỳ lạ giữa các loài cây
thuộc ngành Thông cả Bắc và Nam bán cầu.

theo việc biến đổi những diện tích rừng lớn thành đất nông nghiệp, đặc biệt ở
các vùng núi có độ cao khoảng 800 đến 1.500m nơi mà các loài cây trong
ngành Thông như Du sam (Keteleeria) và Bách xanh (Calocedrus) thường
sinh sống. Việc chia cắt rời rạc các cánh rừng là một vấn đề có liên quan
khác. Các đám rừng nhỏ còn sót lại dễ bị cháy hơn và dễ bị ảnh hưởng do tính
di truyền suy giảm, các loài có các quần thể tự nhiên nhỏ đặc biệt rất nhạy
cảm với những đe dọa này. Những loài có các quần thể phân bố rộng (ví dụ
như phần lớn các loài thuộc họ Kim giao - Podocarpaceae), trong một số
trường hợp còn phân bố cả ở nước khác (như Du sam Keteleeria), có thể tạo
ra cảm tưởng rằng loài ít bị đe dọa hơn so với thực tế vì việc khai thác quá
mức và nạn phá rừng là những vấn đề của tất cả các nước ở Đông Nam Á.
Loài cây trong ngành Thông bị đe dọa nhất ở Việt Nam có lẽ là Hoàng
đàn (Cupressus funebris) ở vùng Đông Bắc. Hiện tại trong vòng 5 năm qua
mới chỉ tìm thấy được 1 cây còn lại trong tự nhiên. Các cây khác đều đã bị
chặt lấy gỗ và bị đào rễ làm hương. Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) là loài
chỉ được biết ở hai khu bảo tồn nhỏ của tỉnh Đắk Lắk. Phần lớn những cây
còn lại (số này ít hơn 250 cây) đều đã bị ảnh hưởng của lửa rừng. Hầu như
toàn bộ sinh cảnh của loài trên đầm lầy đã bị chuyển thành vườn cà phê và
không thấy có cây tái sinh, hai loài này đang đứng trước sự tuyệt chủng. Tình
trạng của một loạt các loài khác (Bách tán Đài Loan Taiwania cryptomerioides
và Bách vàng Xanthocyparis vietnamensis) có thể sẽ trở nên ở mức tương tự nếu
không có những hành động bảo tồn toàn diện được tiến hành.
Trong vòng 15 năm qua có nhiều Vườn quốc gia và khu bảo tồn đã
được thiết lập ở Việt Nam. Một số nơi này có các quần thể cây trong ngành


10

Thông bị đe dọa. Bên ngoài các khu vực này các qui định pháp luật được ban
hành nhằm ngăn chặn việc khai thác trái phép. Mặc dù vậy, việc khai thác tại


mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương trong đó các loài ngành Thông đã được
giới thiệu và mô tả khá rõ tại đây.
Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, gần đây bộ thực vật chí
Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (19601997) cùng với nhiều tác giả khác đã công bố rất nhiều các loài cây có mạch.
Trong đó các loài ngành Thông đã được giới thiệu.
Trong thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được thống kê lại bởi
các nhà thực vật Liên Xô và Việt Nam trong kỳ yếu cây có mạch của thực vật
Việt Nam – Vassular Plants Synopiss of Vietnamese Flora tập 1-2 (1996) và
tạp chí Sinh học số 4 chuyên đề (1994 và 1995).
Đáng chú ý nhất là phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng
Bộ (1991-1993) xuất bản tại Canada và được tái bản có bổ xung tại Việt Nam
trong 2 năm (1999-2000). Đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng góp phần
đáng kể cho khoa học thực vật ngành Thông Việt Nam.
Gần đây nhất là cuốn sách: Cây lá kim Việt Nam của Nguyễn Hoàng
Nghĩa (2004), hay cuốn Thông Việt Nam nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004
Nguyễn Tiến Hiệp cùng các cộng sự. Đây chính là các cuốn sách nghiên cứu,
mô tả sâu sắc tỉ mỉ một số loài cây lá kim, cũng như đưa ra được hiện trạng và
công tác bảo tồn một số loài cây thuộc ngành Thông tại Việt Nam.
1.3. Nghiên cứu tại Khu BTTN Pù Huống
Những nghiên cứu cụ thể về các loài Thông Khu BTTN Pù Huống không
có. Tuy nhiên những nghiên cứu về khu hệ và thảm thực vật tại Khu Bảo tồn
từ trước đến nay đã có một số tài liệu điều tra bước đầu bao gồm: Điều tra xây
dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn Pù Huống của Viện điều tra
quy hoạch rừng; dự án bảo bảo vệ rừng và quản lý lưu vực sông (Danida)
(2002-2006); Võ Minh Sơn, Lê Tiến An (Khu BTTN Pù Huống), Nguyễn
Sinh Khang, Nguyễn Tiến Vinh (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật), GS –


12

học, phân bố và hiện trạng bảo tồn của các loài cây thuộc ngành Thông tại
Khu BTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An.
Đề xuất được các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Thông hiện có
tại đây.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài và giá trị bảo tồn của thực vật
thuộc ngành Thông ở Khu BTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An.
Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn các loài cây thuộc ngành Thông ở khu
vực nghiên cứu.
Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học một số loài thực vật thuộc ngành
Thông có giá trị bảo tồn cao tại khu vực nghiên cứu.


14

Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Thông tại khu vực
nghiên cứu.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu
Những thông tin, tư liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã
hội khu vực nghiên cứu.
Những kết quả nghiên cứu, những văn bản có liên quan của các nhà
khoa học đã nghiên cứu về các loài cây thuộc ngành Thông tại Khu BTTN Pù
Huống và ở Việt Nam trong những năm trước đây.
2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp
2.4.2.1. Điều tra thu thập số liệu theo tuyến.
Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến điều tra được
lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn.
Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm
bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng. Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản

điều tra như sau.
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra các cây theo tuyến
Tuyến số:……………………………………………………………………
Kiểu rừng chính:……………………………………………………………
Độ cao:……………….Độ dốc:……………….Hướng dốc:………….……
Ngày điều tra:………………..Người điều tra:……………..………………
TT

Tên loài

D1.3 Hvn
(cm) (m)

Ht
(m)

Độ cao

1
2
3

2.4.2.2. Điều tra thu thập số liệu theo Ô tiêu chuẩn
a) Điều tra cá thể tầng cây cao.

Sinh trưởng

Ghi chú



VN

DC

Sinh
trưởng

1
2
...
b) Điều tra, đo đếm cây tái sinh.
Điều tra các loài Thông tái sinh tự nhiên theo tuyến.
Số liệu điều tra cây tái sinh được ghi vào biểu như sau:
Mẫu biểu 03: Biểu điều tra cây tái sinh tự nhiên theo tuyến
Tuyến số:……………………………………………………………………
Trạng thái rừng:…………………………………………………………….
Người đo đếm:………………………….Ngày đo đếm:……………………
TT

Loài cây

Cấp chiều cao (cm)

Nguồn gốc
tái sinh

Sinh trưởng


17

địa hình đã được số hoá theo các độ cao khác nhau để phân chia theo các đai
cao phù hợp và chính xác.
d) Xác định loài cạnh tranh: Trên tuyến điều tra, gặp cây Thông nào lấy làm
cây trung tâm. Lấy6 cây xung quanh để tính chỉ số cạnh tranh
Sử dụng công thức của Hegyi (1974) áp dụng để tính chỉ số cạnh trạnh
cho cây trung tâm:
Trong đó:
CI là chỉ số cạnh tranh của loài cây j đối với cây trung tâm, CI càng lớn
cạnh tranh với cây trung tâm càng mạnh
Dj là các đường kính ngang ngực của cây cạnh tranh j
Di là đường kính ngang ngực của cây trung tâm
Lij là khoảng cách từ cây trung tâm đến cây cạnh tranh j
Bán kính của ô = đường kính tán lớn nhất có thể của cây trung tâm


18

2.4.2.3. Phần phỏng vấn
a) Phỏng vấn chuyên gia, mô tả, định loại
- Làm việc với các chuyên gia lâm nghiệp, bảo tồn thiên nhiên, tài
nguyên và môi trường ở địa phương, đặc biệt là các cán bộ chuyên môn của
Khu BTTN Pù Huống để thảo luận về:
+ Thành phần loài có mặt trong Khu BTTN Pù Huống từ đó sơ bộ xác
định phân bố các loài trên bản đồ (bản đồ phân bố lý thuyết).
+ Phân bố của một số loài trong Khu BTTN Pù Huống và những điểm
quan trọng khác.
- Tiến hành phỏng vấn người dân để thu thập thông tin về phân bố quần
thể của các loài cây cần nghiên cứu.
- Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành,
các nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu ....


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status