BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------------
NGUYỄN THỊ HẠNH
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI LẠC VÀ
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC, SINH
THÁI HỌC CỦA MỌT Carpophilus dimidiatus Fabr.
(COLEOPTERA: NITIDULIDAE) TRONG KHO BẢO
QUẢN LẠC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CHÚNG
TẠI VÙNG BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------------
NGUYỄN THỊ HẠNH
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI LẠC VÀ
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC,
SINH THÁI HỌC CỦA MỌT Carpophilus dimidiatus
Fabr. (COLEOPTERA: NITIDULIDAE) TRONG
KHO BẢO QUẢN LẠC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG
TRỪ CHÚNG TẠI VÙNG BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
cơ sở vật chất, điều kiện thí nghiệm trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn tập thể các Thầy cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư,
Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc
trong thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Cao học Khoa học cây
trồng khóa 21 cùng bạn bè, người thân trong gia đình đã động viên khích lệ tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................................................................................ii
............................................................................................................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................................................................................vii
DANH MỤC CÁC HÌNH....................................................................................................................................................ix
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài...............................................................................................3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.............................................................3
Ý nghĩa khoa học......................................................................................................3
Ý nghĩa thực tiễn......................................................................................................3
CHƯƠNG 1 .........................................................................................................................................................................4
2.6.2.Địa điểm nghiên cứu.....................................................................................24
CHƯƠNG 3........................................................................................................................................................................25
3.1.Thành phần sâu mọt hại kho bảo quản lạc và thiên địch của chúng...............25
3.1.1.Thành phần sâu mọt hại kho không chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An. 25
3.1.2.Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc ở 3
tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.......................................................................29
3.1.3.Thành phần sâu mọt hại kho lạc trên kho chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ
An...........................................................................................................................32
3.1.4.Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc ở 3 tỉnh
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh..............................................................................34
3.1.5.Thành phần thiên địch trong kho bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An..................36
v
3.2.Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại lạc trong kho bảo quản năm
2014 tại tỉnh Nghệ An............................................................................................37
3.2.1.Mật độ sâu mọt hại lạc trong kho chuyên bảo quản lạc...............................37
3.2.2.Mật độ sâu mọt hại kho không chuyên bảo quản lạc ..................................39
3.3.Triệu chứng gây hại của một số loài sâu mọt trên lạc nhân............................41
3.3.1.Triệu chứng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr.......41
3.3.2.Triệu chứng gây hại của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr.........................42
3.3.3.Triệu chứng gây hại của mọt Ngô Sitophilus zeamais Motsch....................44
3.3.4.Triệu chứng gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Fabr...............44
3.4.Một số đặc điểm hình thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr..................45
3.4.1.Pha trứng.......................................................................................................46
3.4.2.Pha sâu non....................................................................................................47
3.4.3.Pha nhộng......................................................................................................48
3.4.4.Trưởng thành.................................................................................................49
Aproaerema modicella
BVTV:
Bảo vệ thực vật
C. dimidiatus:
Carpophilus dimidiatus
CTTN:
Công thức thí nghiệm
H. amigera:
Hellicoverpa amigera
KDTV:
Kiểm dịch thực vật
M. testulatis:
Macura testulatis
R. dominica:
Rhizopertha dominica
0
Thành phần sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ
3
An
3
Sự phân bố của sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc ở 3 tỉnh
3
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
5
Bảng 3.5.
Thành phần thiên địch trong kho bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An
36
Bảng 3.6.
Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại chính trong kho
3
5
Fabr.
3
50
Bảng 3.11.
Tỷ lệ trứng nở trung bình của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr.
54
Bảng 3.12.
Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến quần thể mọt Carpophilus
5
dimidiatus Fabr.
5
Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến tỷ lệ thiệt hại do mọt
5
Carpophilus dimidiatus Fabr. gây ra
Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại chính trong kho
chuyên bảo quản lạc
Hình 3.2.
38
Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại chính trong kho
không chuyên bảo quản lạc
41
Hình 3.3.
Trưởng thành Rhizopertha dominica Fabr.
42
Hình 3.4.
Triệu chứng gây hại của trưởng thành Rhizopertha dominica Fabr.
42
Hình 3.5.
Triệu chứng gây hại bên trong của trưởng thành Carpophilus
dimidiatus Fabr.
43
47
Hình 3.11.
Diễn biến quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr. ở thuỷ phần
8%.
Hình 3.12.
Diễn biến quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr. ở thuỷ phần
14%.
Hình 3.13.
56
Diễn biến quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr. ở thuỷ phần
20%.
Hình 3.14.
56
57
Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến tỷ lệ thiệt hại do mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr. gây ra
59
nhiều khó khăn, do sản phẩm lạc nhân của nước ta chưa có đủ tính cạnh tranh cao
2
về kích cỡ hạt, phẩm chất, màu sắc, hàm lượng dầu, ... Sâu bệnh hại là một trong
những nguyên nhân làm giảm phẩm chất lạc nhân của nước ta. Các loài sâu mọt trên
lạc ngoài tác hại làm giảm khối lượng, phẩm chất, ... còn tạo điều kiện cho nấm mốc
phát triển, đặc biệt là nấm Aspergillus flavus sinh ra độc tố Aflatoxin rất nguy hiểm
cho người và gia súc.
Trong những năm qua, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu sâu
bệnh hại lạc và tổn thất do chúng gây ra, đồng thời đưa ra các biện pháp phòng
trừ hợp lý. Các kết quả nghiên cứu được áp dụng trong sản xuất đã góp phần
nâng cao năng suất và sản lượng lạc ở nước ta. Riêng việc nghiên cứu sâu bệnh
hại lạc mới chỉ được quan tâm ở ngoài đồng ruộng còn tình hình sâu bệnh hại lạc
sau thu hoạch hầu như chưa được các nhà khoa học quan tâm nhiều.
Cho đến nay, tài liệu được công bố về sâu mọt hại lạc trong bảo quản sau
thu hoạch của nước ta cũng như trên thế giới còn rất hạn chế. Vì vậy, việc điều
tra xác định chính xác danh mục dịch hại, nhằm phát hiện kịp thời các đối tượng
dịch hại kiểm dịch thực vật (KDTV) và các loài sâu mọt trong kho bảo quản lạc
sau thu hoạch và trên lạc nhân xuất khẩu, đồng thời tìm các biện pháp phòng trừ
kịp thời; đảm bảo uy tín chất lượng hàng hoá nông sản của nước ta trên thị
trường quốc tế là một nhiệm vụ quan trọng của ngành kiểm dịch thực vật.
Kết quả nghiên cứu chắc chắn là những dẫn liệu góp phần làm cơ sở cho
việc xây dựng các quy trình kiểm tra, xác định danh mục dịch hại kiểm dịch thực
vật của nước ta, giúp ích việc phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại của ngành và
các đối tác xuất nhập khẩu với Việt Nam. Nghiên cứu sâu mọt hại trên lạc nhân,
nhằm hạn chế tác hại của chúng, nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng này
trên thị trường quốc tế là việc làm cần thiết của thực tế hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, thực hiện nhiệm vụ của Chi
dựng các biện pháp phòng chống sâu mọt hại lạc trong bảo quản, đặc biệt sử
dụng thuốc hợp lý và tránh ô nhiễm môi trường.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản
Sự phá hại của côn trùng đối với sản phẩm bảo quản rất đa dạng. Trước hết
phải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá huỷ làm cho vật chất dữ trữ hay
lưu trữ bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng. Trong nhiều trường hợp, thiệt
hại có thể là rất lớn và thậm chí là vô giá.
Báo cáo của Pavvgleg (1963) cho thấy tổn thất hạt bảo quản hàng năm được
công bố ở Mỹ là khoảng 15-23 triệu tấn (trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột, 816 triệu tấn do cồn trùng), ở Châu Mỹ La Tinh người ta đã đánh giá rằng ngũ cốc
và đậu đỗ sau thu hoạch bị tổn thất khoảng 25 -50%. Ở một số nước Châu Phi,
khoảng 30% tổng sản lượng nông nghiệp bị mất đi hàng năm (Dẫn theo Vũ Quốc
Trung, 1991) [36].
Bakal (1963) đánh giá sự mất mát lương thực hàng năm do chuột, côn trùng
và nấm mốc gây ra là 33 triệu tấn, lương thực này đủ để nuôi sống người dân
nước Mỹ trong 1 năm (Dẫn theo Snelson, 1978) [78].
Theo công bố của FAO [66, 67] kết quả nghiên cứu của các tác giả Mỹ về
mất mát ngũ cốc sau thu hoạch vào năm 1967 ở các nước công nghiệp phát triển
đã lên tới 42 triệu tấn, tức bằng 95% tổng sản lượng thu hoạch của Canada hay
gấp đôi sản lượng lương thực của nước ta năm 1992.
Việc thay đổi kỹ thuật bảo quản nông sản sau thu hoạch, nguồn thức ăn của
côn trùng hại kho, các điều kiện sinh thái cũng có nhiều thay đổi. Do vậy thành
phần, mật độ các loài côn trùng cũng luôn có sự biến đổi. Cho đến nay việc
nghiên cứu thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản vẫn đang
được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm.
Thiệt hại do sâu hại kho gây ra là rất lớn về nhiều mặt: Nó làm giảm số
lượng sản phẩm, chất lượng, giá trị thương phẩm như làm giảm protein, lipit,
6
vitamin biến tính, màu sắc không bình thường; Làm nhiễm bẩn, nhiễm độc
nông phẩm, do đó làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng hoặc trực tiếp
truyền bệnh cho người; Con người phải thêm chi phí khắc phục hậu quả; Mất uy
tín hàng hoá trên thương trường; Mất mát hạt giống cho mùa vụ sau.
Từ những thiệt hại to lớn đó mà đã có nhiều công trình nghiên cứu để đưa
ra các biện pháp phòng trừ.
Mọt cứng đốt (Trogoderma granarium) là một trong những loài mọt rất nguy
hiểm. Nó được nhiều nước trên thế giới đưa vào danh mục đối tượng KDTV như:
Algeria, Angola, Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Thailand, Malaysia, Zambia
(Bank, 1977),... Chúng đã gây thiệt hại trên 100 mặt hàng, đặc biệt là hàng nông
sản như bột mỳ, lúa mạch, thóc,... và ở môi trường thức ăn trên chúng phát triển rất
nhanh (Monschel, 1971) (Dẫn theo Dobie, P. Haines, 1985) [63].
Theo Khoo T. N. (1990) [71] ở Cộng hoà liên bang Đức riêng loài mọt thóc
(Sitophilus granarius) đã gây thiệt hại hơn 100 triệu mác hàng năm. Ở nước này
riêng tổn thất của ngũ cốc nhập khẩu trong 3 năm (1949-1952) là 162 triệu mác
(Schulze, 1964). Theo Justen (1960), ở Cộng hoà liên bang Đức năm 1957 đã có
379.919 tấn ngũ cốc, 1.382 tấn quả khô và 19.641 tấn hạt có dầu đã bị thiệt hại
do côn trùng gây ra không thể sử dụng được.
Theo thống kê của Mallis Amold (1990) [73] trên thế giới ước tính có
Bengstong Merv (1997) [57] đã chỉ rõ các loài côn trùng gây hại kho chủ
yếu là Sitophilus spp., Rhizopertha dominica, Tribolium castaneum, Sitotroga
cerealella và Ephestia cautella phân bố khắp thế giới và đặc biệt các vùng khí
hậu ấm áp, trong đó 200 loài dịch hại ngũ cốc cất giữ trong kho.
Theo Bolin Pai (2001) [58] kết quả điều tra cơ bản của Trường đại học
Oklahoma vào đầu và cuối thập kỷ 80, chỉ ra các loại côn trùng chiếm ưu th ế
gây hại kho là Rhizopertha dominica, Cryptolestes spp., Tribolium castaneum
và ngài Ấn Độ.
8
Tổ chức C.A.B.I. (2002) [61] nêu rõ các loài côn trùng Acanthoscelides
obtectus, Callosobruchus spp.,
Rhizopertha dominica, Sitophilus spp.,
Tribolium castaneum là loài gây hại nguy hiểm đối với kho thóc và đậu.
1.1.2. Nghiên cứu về thành phần, thiệt hại của sâu mọt hại lạc
Lạc là một trong những cây trồng khá giàu dinh dưỡng vì vậy trong suốt
quá trình sinh trưởng, phát triển nó bị khá nhiều loài gây hại. Đây cũng là nguyên
nhân quan trọng làm giảm năng suất, tăng chi phí đầu tư cho sản xuất và là lý do
hạn chế việc tăng năng suất lạc [50].
Smith, J. W. và Barfield, C.S, (1982) [77] cho biết nhờ phòng trừ được bọ
trĩ gây hại mà năng suất lạc tại Brazil tăng thêm từ 35 - 50%. Kết quả nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng các loài sử dụng cây lạc làm thức ăn gồm 360 loài, trong đó có
6% là những loài gây hại quan trọng.
Hàng năm thiệt hại do sâu hại gây ra cho lạc lên tới 15 - 20% sản lượng. Để
hạn chế thiệt hại do sâu gây ra cho lạc, trên thế giới, trong những năm gần đây đã
có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về sâu hại lạc.
armigera) và một số sâu hại trong đất. Thiệt hại kinh tế do chúng gây ra vào
khoảng 15 - 20% năng suất.
Wightman, J. A. (1994) [84] cho biết trên lạc tác hại của sâu khoang phụ
thuộc vào mật độ và giai đoạn sinh trưởng của cây. Nếu sau gieo 10 ngày, mật độ
sâu là 1 con/cây, diện tích lá bị ăn là 47% thì năng suất sẽ giảm 22%. Nhưng nếu
với mật độ 10 con/cây thì năng suất sẽ giảm là 56%. Song ở giai đoạn cây hình
thành củ cùng với mật độ như trên thì năng suất giảm ít hơn nhiều (9% và 16%
tương ứng vớị mật độ). Do đó việc phòng trừ sâu khoang trên lạc là rất cần thiết.
Ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương, theo tác giả Waterhouse D. F. (1993)
[82] đã xác định được 157 loài sâu hại trên lạc trong số 160 loài thu được. Trong
đó có 46 loài quan trọng và có ít nhất 25 loài đã được đầu tư nghiên cứu tỉ mỉ và
một số loài đã áp dụng biện pháp phòng trừ có hiệu quả. Còn tại vùng Đông Nam
Châu Á có 37 loài sâu hại trên lạc trong đó 19 loài có mức độ phổ biến cao.
10
Nhìn chung, trong thời gian qua các nhà khoa học mới chỉ tập trung nghiên
cứu về thành phần, thiệt hại của côn trùng trên cây lạc ở ngoài đồng. Ở giai đoạn
sau thu hoach còn ít được các nhà khoa học quan tâm tuy nhiên qua các kết quả
nghiên cứu trên đây cho thấy thành phần sâu mọt hại lạc trong kho bảo quản khá
phong phú, mức độ gây hại cao.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Những nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản
Các kết quả điều tra về thành phần loài côn trùng gây hại trong kho ở Việt
Nam không nhiều và ít được điều tra cập nhật.
Nguyễn Công Tiễu (1936) là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề này. Ông
cũng là tác giả dịch cuốn “Cho được có hoa lợi nhiều và tốt hơn” của P.
Braemen, trong đó chủ yếu giới thiệu vắn tắt các đặc điểm hình thái, đặc tính gây
BVTV đã thu thập và giám định được 110 loài côn trùng trong kho thuộc 43 họ
của 8 bộ khác nhau, trong đó có 32 loại côn trùng gây hại chủ yếu và gây hại trên
nhiều nhóm nông sản khác nhau (Báo cáo khoa học Cục BVTV, 1996) [46].
Các nghiên cứu về thành phần sâu mọt trên hàng nông sản xuất nhập khẩu
còn rất nhiều hạn chế. Mới chỉ có một số nghiên cứu như kết quả theo dõi thành
phần côn trùng trong các mặt hàng xuất nhập khẩu trong 30 năm (từ 1960 - 1990
của Nguyễn Thị Giáng Vân, 1991) [46]. Kết quả đã thu thập, phát hiện được 130
loài thuộc 9 bộ, 46 họ côn trùng hại trên hàng hoá xuất nhập khẩu và bảo quản.
Theo Hoàng Văn Thông (1997) [32] thành phần côn trùng hại trên hàng
nông sản nhập khẩu ở khu vực phía Bắc Việt Nam từ 1991- 1997 có 40 loài,
phân bố trong 4 bộ. Trong đó 36 loài thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, 10 loài
xuất hiện ở mức phổ biến. Trên hàng nông sản xuất khẩu có 40 loài côn trùng hại
nằm trong 29 họ, thuộc 5 bộ. Trong đó có 30 loài thuộc bộ cánh cứng
(Coleoptera) và chỉ có 14 loài xuất hiện ở mức tương đối phổ biến.
Kết quả nghiên cứu thành phần dịch hại trên giống côn trùng nhập nội tại
khu vực Hà Nội (Quách Viết Do, 1997) [9] đã điều tra, thu thập được 10 loài côn
12
trùng, nhện hại trên giống cây trồng nhập nội. 10 loài này đều là những loài nguy
hiểm, có ảnh hưởng lớn đến năng suất, phẩm chất của nhiều loại cây trồng.
Kết quả điều tra thành phần loài côn trùng gây hại thóc dự trữ ở quy mô
hộ nông dân vùng Hà Nội cho thấy chỉ có 5 - 7 loài côn trùng gây hại, số lượng
loài côn trùng gây hại ít hơn rất nhiều so với trong kho thóc dữ trữ đổ rời
(Nguyễn Minh Màu, 1998) [22].
Báo cáo về thành phần loài côn trùng hại thóc dự trữ tại Hà Nội của
Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [53] cho thấy tác giả đã ghi nhận được 9 loài côn
trùng gây hại thuộc 8 họ của 3 bộ, trong đó có 3 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp
và 6 loài nhóm gây hại thứ cấp.
Nam (Dương Minh Tú, 2004) [40] đã thu thập được 32 loài côn trùng thuộc 20
họ của 5 bộ. Trong đó có 25 loài côn trùng gây hại (4 loài gây hại sơ cấp, 21
loài gây hại thứ cấp) 7 loài côn trùng có ích (4 loài bắt mồi, 3 loài sống ký
sinh), 3 loài côn trùng lần đầu tiên được bổ sung vào danh sách côn trùng trong
kho thóc dự trữ là Liposcelis entomophila E., Lipocelis bostrychophila B. và
Cortcaria japonica R.
1.2.2. Nghiên cứu sinh học, sinh thái học của sâu mọt hại nông sản
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học côn trùng gây hại
trong kho không nhiều, chỉ có một số công trình được công bố như:
Đặc điểm sinh học và sinh thái học của mọt đậu xanh (Callosobruchus
chinensis) của Nguyễn Văn Đình (1964) [10]. Đặc điểm sinh học, sinh thái học
của mọt gạo (Sitophilus oryzae L.) của Bùi Công Hiển (1976) [16].
Theo tài liệu của Vũ Quốc Trung (1978) [35], thuỷ phần gạo thích hợp
nhất cho sự phát sinh và gây hại của mọt gạo và mọt bột đỏ là 15 - 20%. Kết
quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học quần thể của các loài côn trùng gây
hại trong kho thóc ngoại thành Hà Nội của Bùi Công Hiển (1980) [13] và Lê
Trọng Trải (1980) [34].
Đặc điểm phát triển của mọt bột mỳ (Tribolium castanium Herbst.) của Vũ
Huy Tiếu (1986) [30].
14
Theo Dương Minh Tú (1997) [39] vòng đời của mọt bột vàng Tenebrio
molitor nuôi trên bột mỳ ở 24,6°C, độ ẩm không khí tương đối 78% là 336 ngày
ở 25,8°C, độ ẩm không khí tương đối 75% là 257 ngày.
Theo Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [53] vòng đời trung bình của mọt đục
hạt nhỏ khi nuôi trên gạo giã nhỏ có thủy phần là 10,3% ở nhiệt độ 25°C là 96,61
ngày và 30°C là 67,2 ngày.
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của quần