BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN HỮU TUYẾN
BIÊN SOẠN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
TÍCH HỢP CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN HỮU TUYẾN
BIÊN SOẠN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
TÍCH HỢP CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. CAO CỰ GIÁC
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................................2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................................................2
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu...............................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................................2
6. Giả thuyết khoa học.......................................................................................................3
7. Đóng góp mới của đề tài................................................................................................3
............................................................................................................................................3
Chương 1...........................................................................................................................4
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.................................................................................4
1.1. Quan điểm về tích hợp................................................................................................4
1.2. Mối quan hệ giữa Hóa học và các bộ môn khoa học tự nhiên khác..........................7
1.3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực..........................................................11
1.4. Vận dụng quan điểm DHTH các môn khoa học tự nhiên trong dạy học hóa học
theo định hướng tiếp cận năng lực HS............................................................................17
1.5. Thực trạng DHTH các môn khoa học tự nhiên ở trường phổ thông Việt Nam......23
Chương 2.........................................................................................................................33
BIÊN SOẠN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TÍCH HỢP................................33
CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 10.................33
THEO ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH.......................................33
2.1. Cơ sở và nguyên tắc biên soạn hệ thống bài tập tích hợp........................................33
2.2. Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp.........................................................................38
Bài tập Chương nguyên tử..............................................................................................40
Bài tập chương HALOGEN...........................................................................................46
Một số bài tập thực tiễn.................................................................................................63
..........................................................................................................................................71
Bài tập Chương Oxi – Lưu Huỳnh.................................................................................71
Một số bài tập thực tiễn.................................................................................................84
Trung học phổ thông
Trung học cơ sở
Học sinh
Giáo viên
Thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm
Đối chứng
Giáo dục - Đào tạo
Công thức phân tử
Công thức cấu tạo
Sách giáo khoa
Sách bài tập
Kiểm tra
Phó giáo sư
CHỮ VIẾT TẮT
BTHH
DD
ĐKTC
GD
ĐHSP
ĐHQG
THPT
THCS
HS
GV
TNSP
TN
ĐC
GD-ĐT
1. Lí do chọn đề tài
Việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông theo Nghị quyết số 29-NQ/TW
với mục tiêu “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học. Khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách
học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển năng lực”. Với mục tiêu thay đổi phương pháp dạy học, từ
truyền đạt kiến thức sang tổ chức hướng dẫn, định hướng phát triển năng lực nhận thức
HS, đang đặt ra thách thức lớn đối với đội ngũ GV ở trường phổ thông. Theo đề án đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục. DHTH là định hướng về nội dung và phương pháp
dạy học, trong đó GV tổ chức hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ
năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập. Thông qua
đó hình thành những kiến thức mới, kĩ năng mới. Phát triển được những năng lực cần
thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống.
Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong giáo dục. Quan điểm
tích hợp đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ
thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm
tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và
quá trình dạy học.
Trong số các môn học ở trường phổ thông, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí là những
môn học có nhiều nội dung liên môn, xuyên môn, nội môn. Việc tích hợp các môn
khoa học tự nhiên nói trên thành các chủ đề dạy học tự chọn là dễ dàng thực hiện được,
thành hệ thống câu hỏi tích hợp các bộ môn khoa học tự nhiên trong dạy học Hóa học.
Thực trạng giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay cho thấy đặc điểm cơ bản của
giáo dục là định hướng nội dung, chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học
theo các môn học đã được qui định trong chương trình dạy học. Những nội dung của
môn học này đều có thể tích hợp được thành các chuyên đề tự chọn cho mỗi lĩnh vực
trong dạy học. Người dạy chỉ chú trọng việc trang bị cho HS hệ thống tri thức khoa học
khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau, chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học
cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.
5.1. Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu có nội dung liên quan đến đề tài.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra, phỏng vấn.
- Tìm hiểu thực trạng DHTH ở trường THCS và THPT nhằm phát hiện ra những
vấn đề cần nghiên cứu.
- Thực nghiệm sư phạm.
5.3. Phương pháp xử lí thông tin
- Sử dụng toán học thống kê để xử lí số liệu thực nghiệm.
2
6. Giả thuyết khoa học
Xu hướng sử dụng kiến thức tích hợp liên môn khoa học tự nhiên trong dạy học hóa
học hiên nay là một yêu cầu tất yếu. Do đó sử dụng câu hỏi tích hợp trong dạy học hóa
học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông trong giai
đoạn hiện nay.
7. Đóng góp mới của đề tài
Về cơ sở lí luận: Nghiên cứu cơ sở dạy học tích hợp và các khái niệm liên quan.
Về thực tiễn: Đề xuất hệ thống bài tập tích hợp các môn khoa học tự nhiên trong dạy
học hóa học lớp 10 THPT
Vận dụng hệ thống bài tập tích hợp trong các tình huống dạy học cụ thể.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Quan điểm về tích hợp
4
Như vậy, thực hiện DHTH sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân
mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò của người chủ gia đình, người công dân,
người lao động tương lai.
Dạy học tích hợp là định hướng về nội dung và phương pháp dạy học, trong đó GV
tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh
vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những
kiến thức, kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải
quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống.
1.1.1.3. Tầm quan trọng của tích hợp trong dạy học
- Thứ nhất, do mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều ít nhiều có mối
liên hệ với nhau. Nhiều sự vật, hiện tượng có những điểm tương đồng và cùng một
nguồn cội…Để nhận biết và giải quyết các sự vật, hiện tượng ấy, cần huy động tổng
hợp các kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Không phải ngẫu nhiên mà
hiện nay đang ngày càng xuất hiện các môn khoa học “liên ngành”.
- Thứ hai, trong quá trình phát triển của khoa học và giáo dục, nhiều kiến thức, kĩ
năng chưa hoặc chưa cần thiết trở thành một môn học trong nhà trường, nhưng lại rất
cần trang bị cho HS để họ có thể đối mặt với những thách thức của cuộc sống. Do đó
cần tích hợp giáo dục các kiến thức và kĩ năng đó thông qua các môn học.
- Thứ ba, do tích hợp mà các kiến thức gần nhau, liên quan với nhau sẽ được nhập
vào cùng một môn học nên số đầu môn học sẽ giảm bớt, tránh được sự trùng lặp không
cần thiết về nội dung giữa các môn học nhằm giảm tải cho HS.
- Thứ tư, khi người GV kết hợp tốt phương pháp DHTH sử dụng các hiện tượng
trong thực tiễn cuộc sống, ngoài giúp HS chủ động, tích cực say mê học tập còn lồng
ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó. Từ đó giáo dục và đào tạo thế hệ
trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt. Đây cũng là hướng đi mà ngành giáo dục nước ta
1.1.2. Các hoạt động tích hợp cơ bản trong dạy học
1.1.2.1. Tích hợp đa môn
Tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học. Các môn liên quan
với nhau có chung một định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi
môn lại có một chương trình riêng. Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức
các “chuẩn” từ các môn học xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án, tạo điều kiện cho
người học vận dụng tổng hợp kiến thức của các môn học có liên quan.
1.1.2.2. Tích hợp liên môn
Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, GV tổ chức chương trình học tập xoay quanh
các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn.
Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án, trong đó nhiều môn học liên
quan được kết lại thành một môn học mới với hệ thống những chủ đề nhất định xuyên
suốt qua nhiều cấp lớp. Ví dụ: Địa lí, Lịch sử, Sinh học, Xã hội, Giáo dục công dân,
Hoá học, Vật lí, Địa lí được tích hợp thành môn “Nghiên cứu xã hội và môi trường” tại
6
Anh, Australia, Singapore, Thái Lan.
1.1.2.3. Tích hợp xuyên môn
Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, GV tổ chức chương trình học tập xoay
quanh các vấn đề và quan tâm của người học. HS phát triển kĩ năng sống khi áp dụng
các kĩ năng môn học và liên môn vào ngữ cảnh thực tế. Hai con đường dẫn đến tích
hợp xuyên môn là học tập theo dự án và thương lượng chương trình học.
1.1.2.4. Tích hợp nội môn
Khi tiếp cận tích hợp nội môn, GV cố gắng gắn kết, đảm bảo tính đồng bộ giữa các
nội dung có liên quan của các phân môn trong một môn học, ví dụ: tích hợp phân môn
hóa hữu cơ và vô cơ, vô cơ, hữu cơ với hóa pân tích hay điện hóa... hoặc lồng ghép các
vấn đề cần thiết nhưng không thành môn học như các nội dung giữa lý thuyết với thực
hành, giữa lý thuyết với thực tiễn, như vấn đề về môi trường, năng lượng, biến đổi khí
Trước hết khái niệm cấu tạo chất được hình thành ở sách Vật lí lớp 7. Ở SGK mới
lớp 7, trong phần Điện học của sách Vật lí, có đề cập đến một số luận điểm về cấu tạo
nguyên tử và phân tử. Nguyên tử có cấu tạo phức tạp, nó gồm có hạt nhân mang điện
dương và các electron mang điện âm, nguyên tử trung hoà về điện.
Giai đoạn tiếp theo của sự hình thành khái niệm cấu tạo được bắt đầu ở sách Hoá học
lớp 8 và sau đó được tiếp tục cả trong sách Vật lí lớp 8 ở phần Nhiệt học. Các luận
điểm này sẽ được nhắc tới và phát triển thêm trong sách Hoá học lớp 10. Những kiến
thức về cấu tạo nguyên tử ở Hoá học lớp 10 sẽ được mở rộng thêm trong phần Vật lí
nguyên tử và hạt nhân. Trong quá trình hình thành khái niệm về cấu tạo chất, khái niệm
phân tử và thuyết nguyên tử phân tử được trình bày trong sách Vật lí với mục đích đi
sâu vào nghiên cứu các hiện tượng nhiệt, cấu tạo chất rắn, tức là nghiên cứu quá trình
không có sự biến đổi chất này thành chất khác, còn trong sách Hoá học, kiến thức về
phân tử, nguyên tử được nghiên cứu với mục đích đi sâu vào giải thích bản chất hiện
tượng hoá học, các quá trình xảy ra với sự biến đổi phân tử chất này thành phân tử các
chất mới. Tuy mục đích riêng của mỗi bộ môn là khác nhau, nhưng cả hai giáo trình
đều có mục đích chung là trang bị kiến thức về cấu tạo chất cho HS. Các kiến thức đó
được hình thành, mở rộng và củng cố một cách xen kẽ kế tiếp nhau qua hai giáo trình
Vật lí và Hoá học.
Hoá học không phải chỉ có mối liên hệ qua lại với Vật lí mà còn có liên hệ liên môn
với Sinh học, Toán học và Địa lí nữa. Tuy rằng chương trình môn học được xây dựng
năm 1989 đã có những chú ý bước đầu đến các mối liên hệ liên môn nhưng chương
trình các môn học tự nhiên của trường THCS còn có những nhược điểm về mặt này
cần được khắc phục. Chương trình mới trường THCS được xây dựng năm 2002 đã chú
ý tăng cường mối liên hệ liên bộ môn giữa Hoá học với Vật lí và Sinh học. Dự thảo
chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (8/2015) đã định hướng rất rõ từ quan điểm
xây dựng chương trình, mục tiêu, yêu cầu, kế hoạch tổng thể đến định hướng xây dựng
chương trình các môn học. Trong đó đã xây dựng kế hoạch khung cho hai môn học tích
hợp liên môn đó là môn Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học) và môn Khoa
8
Xung quanh chúng ta là các vật chất. Các vật chất đó không tự sinh ra và cũng không
tự mất đi mà chúng được chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác nhờ các phản ứng
hóa học.
1.2.2. Sinh học
Sinh học hay là Sinh vật học là một môn khoa học về sự sống (từ tiếng Anh: biology
9
bắt nguồn từ Hy Lạp với bios là sự sống, và logos là môn học). Nó là một nhánh
của khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng
với nhau và với môi trường. Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật (ví dụ:
cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống), cách thức các cá thể và loài tồn tại
(ví dụ: nguồn gốc, sự tiến hóa và phân bổ của chúng). Nghiên cứu về hóa cơ bản của sự
sống, molecular biology nghiên cứu các tương tác phức tạp giữa các hệ thống của các
phân tử sinh học, cellular biology tìm hiểu các cấu trúc cơ bản tạo thành mọi sự sống.
Như vậy, sự sống ở mức độ nguyên tử và phân tử được nghiên cứu thông qua sinh
học phân tử, hóa sinh và di truyền phân tử. Ở mức độ tế bào, nó được hiểu biết thông
qua tế bào học và mức độ đa bào thì thông qua physiology, giải phẫu học và mô
học. Sinh học phát triển nghiên cứu sự sống ở các giai đoạn phát triển khác nhau
hoặc phát triển cá thể (ontogeny) của sinh vật.
Mọi sinh vật sống đều có mối quan hệ với các sinh vật khác và môi trường của
chúng. Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự phức tạp khi nghiên cứu các hệ thống
Sinh học là do mối tương tác phức tạp này.
1.2.3. Vật lí
Vật lí học là ngành khoa học nghiên cứu về các quy luật vận động của tự nhiên, từ
thang vi mô (các hạt cấu tạo nên vật chất) cho đến thang vĩ mô (các hành tinh, thiên hà
và vũ trụ). Trong tiếng Anh, từ Vật lí (physics) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp φύσις
(phusis) có nghĩa là tự nhiên và φυσικός (phusikos) là thuộc về tự nhiên. Đối tượng
nghiên cứu chính của Vật lí hiện nay bao gồm vật chất, năng lượng, không gian và thời
đựng yếu tố mới mẽ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết thành công nhiều tình
huống khác nhau, trong lĩnh vực hoạt động rộng hơn.
1.3.2. Các năng lực chung
1.3.2.1. Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân
* Năng lực tự học
Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học
tập cho mình, có khả năng tự quản lí việc học của mình. Xác định được nhiệm vụ học
tập một cách tự giác, chủ động, tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nổ lực phấn
đấu thực hiện. Có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh
hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm
việc và làm việc hợp tác với người khác. Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm
túc, nề nếp, thực hiện các cách học như: hình thành cách ghi nhớ của bản thân, phân
tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tài liệu đọc phù hợp, các đề mục,
các đoạn bài ở SGK, sách tham khảo, internet. Lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi
tóm tắt với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa, ghi chú bài
giảng của GV theo các ý chính, tra cứu tài liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của
nhiệm vụ học tập.
Mỗi hoạt động bao gồm trong nó nhiều hành động với nhiều cách thức thực hiện
khác nhau. Kĩ năng của một hoạt động nào đó là phức hợp bao gồm nhiều kĩ năng
11
thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau trong cấu trúc của hoạt động.
Kĩ năng tự học là khả năng thực hiện một hệ thống các thao tác tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động tự học trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm có liên quan đến hoạt
động đó.
Kĩ năng tự học là một hệ thống, bao hàm trong nó những kĩ năng chung cho hoạt
động học tập và những kĩ năng chuyên biệt. Có bao nhiêu loại hình học tập thì có bấy
nhiêu loại hình kĩ năng chuyên biệt.
triển cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn. Nếu HS thực sự nắm
được nội dung đó, thì đây là chỉ tiêu rõ nhất về trình độ phát triển năng lực tư duy của
HS.
* Năng lực tự quản lí
Năng lực tự quản lí là khả năng nhận ra được các yếu tố tác động đến hành động của
bản thân trong học tập và trong giao tiếp hàng ngày. Kiềm chế được cảm xúc của bản
thân trong các tình huống ngoài ý muốn. Ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
Xây dựng và thực hiện được kế hoạch nhằm đạt được mục đích. Nhận ra và có ứng xử
phù hợp với những tình huống không an toàn. Tự đánh giá, tự điều chỉnh những hành
động chưa hợp lý của bản thân trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày.
1.3.2.2. Nhóm năng lực quan hệ xã hội
* Năng lực giao tiếp
Năng lực giao tiếp là khả năng tiếp xúc trao đổi thông tin, mong muốn, suy nghĩ
tình cảm, cảm xúc...là khả năng thể hiện, bày tỏ ý kiến của bản thân (bao gồm cả bày tỏ
về ý tưởng, mong muốn, suy nghĩ tình cảm, cảm xúc) theo theo hình thức nói, viết
hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng
nghe, tôn trọng ý kiến người khác.
Năng lực giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh
cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của mình
nhưng không gây hại hoặc tổn thương cho người khác. Năng lực giao tiếp giúp cho HS
nhận thức tư duy học hỏi, làm tăng khả năng tiếp thu và học tập. Ngoài ra năng lực này
giúp cho HS có mối quan hệ tích cực với người khác đồng thời biết cách xây dựng các
mối quan hệ trong xã hội tạo niềm vui trong cuộc sống.
* Năng lực hợp tác
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành một công
việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung của tập thể.
Năng lực hợp tác là khả năng cùng làm việc, học tập với những người khác, khả
năng thực hiện nhiệm vụ của bản thân để đóng góp vào kết quả chung của tập thể. Chủ
động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao các nhiệm vụ. Xác định được loại công
việc nào có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp. Biết
bị ICT để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ
bản, sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau, tổ chức
và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng. Xác định được
thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập. Tìm kiếm được thông tin với các
chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp. Đánh giá sự phù hợp của
thông tin, dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra. xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã
biết với thông tin mới thu thập được và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ
học tập và trong cuộc sống.
* Năng lực sử dụng ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao thiệp với
14
nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống
như vậy. Ngành khoa học nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ là khả năng của mỗi cá nhân khi nghe hiểu nội dung
chính hay nội dung chi tiết các bài đối thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận,
nói chính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung chủ đề thuộc
chương trình học tập, đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài
liệu ngắn. Viết đúng các dạng văn bản về những chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân ưa
thích. Viết tóm tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn.v.v. Phát âm đúng
nhịp điệu và ngữ điệu. Hiểu từ vựng thông dụng được thể hiện trong hai lĩnh vực khẩu
ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa. Phân tích được cấu trúc và ý nghĩa
giao tiếp của các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm thán, câu khẳng
định, câu phủ định, câu đơn, câu ghép, câu phức, câu điều kiện.
* Năng lực tính toán
Năng lực tính toán là khả năng sử dụng được các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia,
luỹ thừa, khai căn) trong học tập và trong cuộc sống; hiểu và có thể sử dụng các kiến
thức, kĩ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống quen thuộc. Sử dụng được các
trình.
Như vậy cũng giống như tư duy khoa học tự nhiên, Toán học và Vật lí, Sinh học tư
duy hóa học cũng sử dụng các thao tác tư duy vào quá trình nhận thức thực tiễn và tuân
theo quy luật chung của quá trình nhận thức.
Trực quan
sinh động
Tư duy
trừu tượng
Thực
tiễn
Hóa học là bộ môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm có lập luận, trên cơ sở những
kỹ năng quan sát các hiện tượng hóa học, phân tích các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng,
thiết lập những sự phụ thuộc xác định để tìm ra những mối liên hệ giữa các mặt định
tính và định lượng, quan hệ nhân quả của các hiện tượng và quá trình hóa học, xây
dựng nên các nguyên lý, quy luật, định luật, rồi trở lại vận dụng để nghiên cứu những
vấn đề của thực tiễn.
1.3.3.2. Năng lực thực hành thí nghiệm
Thí nghiệm là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của kiến thức đã tiếp thu được
qua học tập, nghiên cứu tài liệu. Mọi giả thuyết khoa học trong quá trình nghiên cứu
đều cần được kiểm tra bằng thực nghiệm (thí nghiệm) trước khi quy về các quy luật tự
nhiên. Thậm chí, đối với một số kiến thức có thể đã được rút ra nhờ suy luận lôgic cần
tiến hành thí nghiệm để kiểm chứng độ xác thực và tính đúng đắn của chúng. Theo
quan điểm lý luận dạy học hiện đại, thí nghiệm (dạy học thí nghiệm) vừa là mục đích
dạy học vừa là phương tiện để giúp người học chiếm lĩnh các kiến thức khoa học Đặc
biệt trong bối cảnh hiện nay nhiều nước đã áp dụng mô hình “phòng thí nghiệm
khám phá” trong đó nhấn mạnh đến hệ thống kỹ năng, cách thức làm thí nghiệm (lập
kế hoạch, thực hiện qui trình, đánh giá cải tiến) hơn là tính xác thực của kết quả thí
đọc tài liệu từ nhiều nguồn và tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau. Việc sử dụng
nhiều nguồn thông tin khuyến khích người học tham gia vào việc chuẩn bị bài học, tài
liệu, và tư duy tích cực và sâu hơn so với cách học truyền thống với chỉ một nguồn tài
liệu duy nhất. Kết quả là người học sẽ hiểu rõ hơn và cảm thấy tự tin hơn trong việc
học của mình.
Dạy học tích hợp không chỉ là sự kết hợp đơn thuần giữa lý thuyết và thực hành,
trong một tiết/buổi dạy. Chúng ta cần phải hiểu rằng, phía sau quan điểm đó là một
17
triết lý giáo dục, nó phản ánh mục tiêu của việc học. Theo quan điểm truyền thống thì
mục tiêu của dạy học là cung cấp một hệ thống các kiến thức hoặc kĩ năng riêng lẻ cho
người học để sau đó người học muốn làm bất kì việc gì với những kiến thức và kỹ năng
đó. Còn theo quan điểm dạy học tích hợp thì mục tiêu của dạy học là hướng đến việc
đào tạo ra những con người với những năng lực cụ thể để giải quyết những vấn đề
trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo.
1.4.1.2. Không ôm đồm, chồng chéo kiến thức
Trong quá trình xây dựng nội dung chương trình dạy học tích hợp tránh những kiến
thức, kỹ năng bị trùng lặp, chồng chéo, phân biệt được nội dung trọng tâm và nội dung
ít quan trọng. Các kiến thức phải gắn liền với thực tiễn, kỉ năng sống của HS. Từ đó
HS cảm thấy quá trình học tập có ý nghĩa vì nó giải quyết được một tình huống, một
vấn đề trong thực tiễn cuộc sống tạo điều kiện phát triển năng lực toàn diện.
1.4.1.3. Dễ trước, khó sau
Để hình thành và phát triển các năng lực phù hợp với đối tượng HS và chương trình
mục tiêu dạy học. Các nội dung tích hợp, kiến thức liên môn được sắp xếp một cách
khoa học, logic, Tạo hứng thú học tập cho HS, phù hợp theo các cấp độ tư duy, bắt
đầu từ dễ đến khó.
1.4.1.4. Ưu tiên phát triển năng lực cho học sinh
Dạy học tích hợp phải làm cho người học hình thành và phát triển các năng lực