SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ VĂN LINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BÀI TẬP TÍCH HỢP CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ
NHIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT.
Người thực hiện: Hà Xuân Tuân
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Hóa học
THANH HOÁ NĂM 2016
1
MỤC LỤC.
1. Mở đầu............................................................................................
1.1. Lý do chọn đề tài ....................................................................
1.2. Mục đích nghiên cứu................................................................
1.3. Đối tượng nghiên cứu...............................................................
1.4. Phương pháp nghiên cứu..........................................................
2. Nội dung.........................................................................................
2.1. Cơ sở lí luận của SKKN..........................................................
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN...........................
2.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề..............................
2.4. Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp.........................................
3. Kết luận...........................................................................................
1
1
2
2
4
6
8
17
17
19
19
20
Bài tập
Bài tập hóa học
Công thức
Công thức cấu tạo
Công thức phân tử
Dạy học tích hợp
Đối chứng
Điều kiện tiêu chuẩn
Giáo viên
Học sinh
Nội dung
Phương pháp
Phương pháp dạy học
Phương trình hóa học
Sách giáo khoa
Sách tham khảo
Trung học phổ thông
nhiên trong dạy học hóa học lớp 12 THPT, góp phần đáp ứng nhu cầu giảng dạy
của GV và nhu cầu học tập của HS.
1.3.Đối tượng nghiên cứu.
Biên soạn và sử dụng hệ thống câu hỏi tích hợp các bộ môn khoa học tự
nhiên trong dạy học hóa học lớp 12 THPT theo định hướng phát triển năng lực
HS. Đối với các lớp 12 ở trường phổ thông Lê Văn Linh. Huyện Thọ Xuân.
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1. Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu có nội dung liên quan đến đề tài.
1.4.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra, phỏng vấn.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học hóa học ở trường THPT nhằm phát hiện ra
những vấn đề cần nghiên cứu.
- Thực nghiệm sư phạm.
2. NỘI DUNG.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
3
2.1.1. Quan điểm về tích hợp
a) Khái niệm tích hợp
+ Thế nào là tích hợp?
Trong những năm gần đây xuất hiện thuật ngữ “tích hợp” “tích hợp là một
khái niệm của lí thuyết hệ thống, chỉ trạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ
thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”.
+ Tầm quan trọng của tích hợp trong dạy học
Từ những năm 60 của thế kỉ XX và ngày càng được áp dụng rộng rãi. Ở
mức độ cao có thể tích hợp các môn vật lí, hóa học, sinh học thành một môn
chung – môn khoa học tự nhiên, hoặc tích hợp các môn lịch sử, ngữ văn, địa lí,
… thành môn khoa học xã hội. Những môn tích hợp này là môn mới chứ không
2.1.2.4. Tích hợp nội môn
Khi tiếp cận tích hợp nội môn, GV cố gắng gắn kết, đảm bảo tính đồng bộ
giữa các nội dung có liên quan của các phân môn trong một môn học, ví dụ: tích
hợp phân môn hóa hữu cơ và hóa vô cơ; hóa vô cơ, hóa hữu cơ với hóa phân
tích hay hóa lí... hoặc lồng ghép các vấn đề cần thiết nhưng không thành môn
học như các nội dung giữa lý thuyết với thực hành, giữa lý thuyết với thực tiễn,
như vấn đề về môi trường, năng lượng, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số,
sức khỏe sinh sản,…vào nội dung của mỗi bài dạy.
2.1.3. Mối quan hệ giữa các bộ môn khoa học tự nhiên.
Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các
môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học với
nhau, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học, tức là con đường tích
hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau. Tùy theo khoa học
cụ thể mà có thể tích hợp các môn khoa học khác lại với nhau như: Lí - Hóa Sinh, Văn - Sử - Địa. Hoặc có thể tích hợp được cả các môn tự nhiên với các
môn xã hội như: Văn, toán, hóa, sinh, giáo dục công dân,…Ở mức độ cao, sự
tích hợp này sẽ hình thành những môn học mới, chứ không phải là sự lắp ghép
thông thường các môn riêng rẽ với nhau. Tuy nhiên, các môn vẫn giữ vị trí độc
lập với nhau.
Hoá học không phải chỉ có mối liên hệ qua lại với vật lí mà còn có liên hệ liên
môn với sinh học, toán học và địa lí nữa. Dự thảo chương trình đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục phổ thông trong đó có kế hoạch tổng thể đến định hướng xây
dựng chương trình các môn học. Trong đó đã xây dựng kế hoạch khung cho hai
môn học tích hợp liên môn đó là môn Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh
học) và môn Khoa học xã hội (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí).
2.1.4. Năng lực nhận thức và biểu hiện của nó.
Năng lực nhận thức được biểu hiện ở nhiều mặt khác nhau nhưng năng
lực trí tuệ của con người (quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng, tu duy) mà đặc trưng
nhất là tư duy độc lập và tư duy sáng tạo nhằm ứng phó với các tình huống mới
2.1.5. Sự phát triển năng lực nhận thức cho học sinh
2.2.1. Thực trạng dạy học tích hợp các môn khoa học tự nhiên ở trường phổ
thông Việt Nam.
Ở Việt Nam, từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn tự nhiên - xã
hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và đã được thiết kế đưa vào dạy
học từ lớp 1 đến lớp 5. Chương trình ở cấp trung học chủ yếu thực hiện tích hợp
ở mức thấp, chưa đặt nặng vấn đề DHTH ở trung học. Một trong những nguyên
nhân chủ yếu là việc DHTH liên quan đến nhiều yếu tố đòi hỏi phải có quá trình
chuẩn bị như: chương trình, SGK, tổ chức dạy học, phương pháp dạy và học,
đánh giá, kiểm tra, thi. Tuy vậy, ngày càng có nhiều nội dung giáo dục được tích
hợp vào nội dung một số môn học ở trung học (dân số, môi trường, vệ sinh thực
phẩm, phòng chống HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an
toàn giao thông...) bằng phương thức lồng ghép. Việc dạy học các nội dung này
bước đầu đã làm cho GV có một số kinh nghiệm thực tiễn về tích hợp, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thực hiện DHTH trong chương trình và SGK mới sau
2015.
Với quan điểm như trên sẽ dần đến một hệ quả là tri thức của người học sẽ
nhanh chóng bị lạc hậu vì nội dung dạy học được quy định một cách chi tiết và
cứng nhắc trong chương trình. Đồng thời, do việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa
trên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng
vận dụng tri thức trong tình huống thực tiễn vì vậy sản phẩm đào tạo là những
con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động, sản
6
phẩm của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị
trường lao động.
2.2.2. Ở trung học phổ thông
2.2.2.1. Điều tra cơ bản đã tìm hiểu được.
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học hóa học ở trường THPT.
- Tìm hiểu sự hứng thú học tập của HS qua môn học hóa học.
học phổ thông. Các kiến thức, kĩ năng về cơ sở hóa học chung như cấu tạo
nguyên tử, liên kết hóa học, bảng tuần hoàn, lý thuyết phản ứng hóa học, thuyết
điện ly, phi kim, kim loại, các chất hữu cơ trong chương trình hóa học phổ
thông hiện nay. Trên cơ sở các định luật, khái niệm, học thuyết, các nguyên lí,
7
mệnh đề,... các kiến thức liên môn sinh học, vật lí, địa lí, giáo dục môi trường,
an toàn vệ sinh thực phẩm cần truyền thụ, rèn luyện, kiểm tra đánh giá mà ta
phải thiết kế các bài tập phù hợp theo định hướng phát triển năng lực của HS.
Thiết kế những bài tập hoá học có nội dung liên quan đến các môn khoa học tự
nhiên khác nhưng không quá xa rời nội dung chương trình hoá học. Bài tập hoá
học có tính chất tổng hợp kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo gây hứng thú, tìm
tòi sáng tạo của HS.
- Cơ sở thực tiễn: Dựa vào các ứng dụng, các quá trình sản xuất, đời sống lao
động sản xuất, các hiện tượng về thiên nhiên,...có kiến thức liên quan đến nội
dung các bài học trong chương trình hóa học lớp 12. Các vấn đề trong thực tiễn
đời sống, trong thực nghiệm, thực hành của cá nhân HS, của cộng đồng, của xã
hội... liên quan đến kiến thức hóa học THPT. Một số năng lực cơ bản, phổ thông
(như: năng lực tư duy khoa học, năng lực toán học, đọc hiểu, kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn... để phát hiện và giải quyết các vấn đề) cần thiết cho
cuộc sống tương lai của HS cần được rèn luyện và phát huy.
2.2.3.2. Theo định hướng phát triển năng lực HS
Những năng lực các bài tập hóa học theo định hướng phát triển năng lực
HS bao gồm các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của hóa học. Như trả
lời các câu hỏi, giải thích hiện tượng một cách khoa học và đưa ra các kết luận
dựa trên những căn cứ và lí lẽ mang tính thuyết phục. Có thái độ thích thú, ủng
hộ nghiên cứu khoa học và động lực để hành động một cách có trách nhiệm đối
với môi trường và các tài nguyên thiên nhiên.
Nguyên tắc trên giúp ta nắm được cơ chế biến hoá nội dung bài tập theo những
- Giữ nguyên hiện tượng và chất tham gia phản ứng, chỉ thay đổi lượng chất
- Giữ nguyên hiện tượng và thay đổi chất tham gia phản ứng.
- Thay đổi các hiện tượng phản ứng và chất phản ứng, chỉ giữ lại những dạng
PTHH cơ bản.
- Từ một bài toán ban đầu, ta có thể đảo cách hỏi giá trị của các đại lượng đã
cho như: khối lượng, số mol, thể tích, nồng độ,...
- Chọn những chi tiết hay ở các bài tập để phối hợp lại thành bài mới.
Xây dựng bài tập hoàn toàn mới
2.3.1.4. Kiểm tra thử
Thử nghiệm áp dụng bài tập hóa học đã thiết kế trên đối tượng HS thực
nghiệm để kiểm tra hệ thống bài tập đã thiết kế về tính chính xác, khoa học, thực
tế của kiến thức hóa học, toán học cũng như độ khó, độ phân biệt,...cũng như
tính khả thi, khả năng áp dụng của bài tập.
2.3.1.5. Chỉnh sửa
Thay đổi, chỉnh sửa nội dung, số liệu, tình huống ... trong bài tập sau khi
đã cho kiểm tra thử sao cho hệ thống bài tập có tính chính xác, khoa học về mặt
kiến thức, kĩ năng, có giá trị về mặt thực tế, và phù hợp với đối tượng HS, với
mục tiêu kiểm tra - đánh giá, mục tiêu giáo dục của môn hóa học ở trường
THPT.
2.3.1.6. Hoàn thiện hệ thống bài tập
Sắp xếp, hoàn thiện hệ thống bài tập một cách khoa học.
2.4. Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp
2.4.1. Xây dựng bài tập có nội dung tích hợp các môn khoa học tự nhiên
trong dạy học hóa học lớp 12 THPT theo định hướng phát triển năng lực
HS
Bài 1. Ứng dụng của este
9
phẩm và biết tại sao trong cuộc sống hàng ngày ta thường nghe câu đối trong
những ngày tết cổ truyền:
“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
10
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”
b. Phân tích những năng lực học sinh đạt được
Bài tập này hướng đến sự hình thành và phát triển năng lực cho HS như:
- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học: vận dụng được kiến thức
về phản ứng thủy phân chất béo để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, sự tiêu hóa
mỡ trong ăn uống.
- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống: HS vận dụng được ứng
dụng của este vào cuộc sống như biết được dầu chuối là gì, đi qua các nơi phun
sơn thường ngửi thấy mùi dầu chuối,…
Bài 2. Glucozơ
Glucozơ là một loại đường đơn giản (monosaccarit) và cũng là một gluxit
(cacbohiđrat) tiêu biểu. Glucozơ có CTPT là C 6H12O6 có hai dạng mạch vòng và
mạch hở; glucozơ có vai trò sinh học quan trọng đối với sinh vật và vô cùng gần
gũi với đời sống con người.
Nho là một trong những loại trái cây khi chín có nhiều glucozơ
Câu hỏi 1. Vì sao ăn đường glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh?
Câu hỏi 2. Tính khối lượng glucozơ chứa trong nước quả nho để sau khi lên
men cho ta 100 lít rượu vang 10o. Biết hiệu suất phản ứng lên men đạt 95%,
ancol etylic có khối lượng riêng 0,8g/ml.
Đáp số: 15,65 kg
Câu hỏi 3. Các con số ghi trên chai bia như 12o, 14o có ý nghĩa như thế nào?
Có giống với độ rượu hay không?
biến thành bia.
Khi đại mạch lên men sẽ cho lượng lớn đường mantozơ, chỉ có một phần
mantozơ chuyển thành rượu, phần mantozơ còn lại vẫn tồn tại trong bia. Vì vậy
hàm lượng rượu trong bia khá thấp. Độ dinh dưỡng của bia cao hay thấp có liên
quan đến lượng đường.
Trong quá trình ủ bia, nếu trong 100ml dịch lên men có 12g đường người ta
biểu diễn độ đường lên men là bia 12 o. Do đó bia có độ 14 o có giá trị dinh dưỡng
cao hơn bia 12o.
b. Phân tích những năng lực học sinh đạt được
Bài tập này hướng đến sự hình thành và phát triển năng lực cho HS như:
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học: thuật ngữ độ rượu, phản ứng lên men,…
- Năng lực tính toán: bài tập định lượng yêu cầu HS phải tính toán để phát triển
năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề,…
- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống: HS vận dụng được kiến
thức về phản ứng lên men để có thể làm siro là một loại nước giải khát mát lạnh
vào mùa hè hay là lên men lactic để làm những cốc sữa chua bổ dưỡng chẳng
hạn,…
12
Bài 3. Amin
Amin được coi là các dẫn xuất của amoniac (NH 3) trong đó các nguyên tử
H của NH3 được thay thế bởi các gốc hiđrocacbon. Mà amoniac là một bazơ yếu
nên amin là các bazơ hữu cơ yếu. Sở dĩ amoniac cũng như các amin có tính bazơ
là vì lớp điện tử ngoài cùng (lớp hóa trị) của N trong NH 3, cũng như trong các
amin, còn một đôi điện tử tự do (chưa tạo liên kết). Đôi điện tử tự do này có thể
tạo liên kết phối trí (liên kết cho - nhận) với ion H+ (có orbital 1s trống), nghĩa là
NH3, cũng như các amin có thể nhận ion H+ vào phân tử của nó. Mà theo định
nghĩa của Bronsted – Lowry, chất nào nhận được ion H + thì chất đó là một bazơ.
Do đó NH3 cũng như amin là các bazơ. Tuy nhiên, đây là các bazơ yếu. Và yếu
nay đã có nhiều cách để khử mùi tanh của cá như sau:
13
+ Làm bớt tanh cá bằng ngâm, rửa. Làm bớt tanh cá bằng bốc hơi và nhiệt
độ.
+ Làm bớt tanh bằng gia vị. Làm bớt tanh bằng chất chát (tanin).
+ Làm bớt tanh bằng chất chua (axit): các amin tanh trong cá là nhóm những
chất có tính bazơ, khi kết hợp với axit hữu cơ có trong các chất chua (giấm, mẻ,
khế, dọc, tai chua, sấu,...) sẽ tạo thành các muối tương ứng và nước, do vậy cá sẽ
bớt tanh hoặc hết mùi tanh.
+ Làm bớt tanh bằng rượu (ancol etylic): rượu có khả năng hòa tan được các
chất amin gây mùi tanh, sau đó dưới tác dụng của nhiệt độ khi đun nấu, rượu sẽ
bay hơi làm các chất tanh cũng bay theo. Mặt khác, rượu còn phản ứng với các
axit tự do có trong cá tạo thành những este có mùi thơm ngon. Do vậy, nếu tẩm
ướp cá với dấm và rượu trước khi nấu thì cá sẽ thơm ngon, kích thích vị giác
hơn.
Bài 4. Chất dẻo
Câu hỏi 1. Teflon là chất gì? Ứng dụng chế tạo chảo chống dính như thế nào?
Câu hỏi 2. Vì sao khi sử dụng “chảo chống dính” chiên, rán thức ăn lại không bị
dính chảo?
Hướng dẫn:
a. Phân tích những kiến thức tích hợp liên môn
* Kiến thức hóa học:
Thực ra mặt trong của chảo không dính người ta có trải một lớp hợp chất cao
phân tử. Đó là politetrafloetilen được tôn vinh là “vua chất dẻo” thường gọi là
“teflon”. Politetrafloetilen chỉ chứa 2 nguyên tố C và F.
- CTPT của politetra floetilen “teflon” là (C 2 F4 )n
- CTCT của politetra floetilen “teflon” là: (−CF2 − CF2 −) n
Politetrafloetilen được ứng dụng rộng rãi trong đời sống vì nó có nhiều tính
Bài tập này hướng đến sự hình thành và phát triển năng lực cho HS như:
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học: HS biết CTPT của politetrafloetilen
“teflon” là (C 2 F4 )n , CTCT của politetrafloetilen “teflon” là (−CF2 − CF2 −) n
- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống: HS biết được khả năng
chống dính của lớp politetrafloetilen, từ cấu trúc phân tử nêu được tính chất hóa
học cơ bản của chúng, từ các tính chất cơ nhiệt học của lớp politetrafloetilen nên
politetrafloetilen còn được dùng mạ ở các trục khuỷu của các động cơ.
- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học: HS nhận thức
được vai trò, ứng dụng lớp politetrafloetilen - “teflon” trong các đồ gia dụng. Đề
xuất được một số giải pháp nhằm bảo vệ và kéo dài tuổi thọ của lớp
politetrafloetilen “teflon” trên các vật dụng có sử dụng nó. Hình thành ý thức vệ
và kéo dài tuổi thọ của lớp politetrafloetilen - “teflon” trên các vật dụng có sử
dụng nó.
Bài 5. Kim loại và dòng điện
15
Pin điện hóa là một hệ gồm hai điện cực kim loại ghép với nhau có sự tiếp
xúc vào dung dịch chất điện li và giữa chúng sẽ nối nhau bằng dây dẫn electron.
Sự điện phân là hiện tượng khi dòng điện một chiều đi qua dung dịch chất
điện li, trên catot xảy ra hiện tượng phóng điện của các cation, còn trên anot các
anion nhường điện tử hoặc có sự hòa tan kim loại.
Vận dụng những kiến thức về pin điện hóa, ăn mòn kim loại, sự điện phân hãy
trả lời các câu hỏi sau đây:
Câu hỏi 1. Tại sao vỏ tàu bằng thép bị ăn mòn ở khu vực mạn tàu tiếp xúc với
nước biển và không khí?
Câu hỏi 2. Vì sao ở các cơ sở đóng tàu thường gắn một miếng kim loại kẽm
Zn ở phía sau đuôi tàu?
Câu hỏi 3. Điện phân dung dịch chứa 0,02 mol FeSO 4 và 0,06 mol HCl với I
của thân tàu tiếp xúc trực tiếp với nước biển. Nhưng ở phía đuôi tàu, do tác động
16
của chân vịt, nước bị khuấy động mãnh liệt nên biện pháp sơn là chưa đủ. Do đó
mà phải gắn tấm kẽm vào đuôi tàu.
Khi đó sẽ xảy ra quá trình ăn mòn điện hóa. Kẽm là kim loại hoạt động hơn
sắt nên bị ăn mòn, còn sắt thì không bị mất mát gì.
Sau một thời gian miếng kẽm bị ăn mòn thì sẽ được thay thế theo định kỳ.
Việc này vừa đỡ tốn kém hơn nhiều so với sửa chữa thân tàu.
* Kiến thức toán học:
Đối với những muối mà gốc axit có chứa oxi, khi điện phân thì gốc axit đó
không điện phân mà là H2O điện phân.
It
1,34.2
Ta có số mol electron trao đổi là: n e = F = 26,8 = 0,1
Thứ tự điện phân ở catot:
2H+ + 2e → H2
0,06
0,06
2+
Fe + 2e → Fe
0,02
0,04
0,02
Thứ tự điện phân ở anot:
2 Cl− → Cl2 + 2e
0,06
- Phát triển năng lực tư duy, đặc biệt là năng lực sáng tạo, tính tò mò, kích
thích lòng say mê, hứng thú trong học tập thông qua việc giải BTHH.
- Đây là một hiện tượng có ý nghĩa rất lớn. Bài tập này có thể được đưa ra
trong phần ăn mòn điện hóa hoặc để dùng trong ôn tập. Để làm được bài tập này
vận dụng những kiến thức về ăn mòn điện hóa và dãy hoạt động hóa học của kim
loại.
2.4.2. Một số bài tập có đáp án. ( Được bổ sung ở mục phụ lục)
3. KẾT LUẬN.
3.1. Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm đạt được
- Sáng kiến kinh nghiệm này tuy chỉ là một đề tài nhỏ bé của tôi nhưng đây
cũng là phần nghiên cứu của tôi trong suốt học kì 1 năm học 2015 - 2016 và
được áp dụng cho một số chương ở học kì 2 (cùng năm học).
- Đã xây dựng được 6 bài tập hóa học theo dạng phân hóa – và phát triển
năng lực cho HS.
- Đã đưa dạng bài tập này sử dụng vào giảng dạy ở chương trình chính khóa
lớp 12 theo nội dung sách giáo khoa hóa học mới ban cơ bản và nâng cao.
- Trong thời gian thử nghiệm năm học 2015 – 2016 tôi đã thu được những kết
quả nhất định, được thể hiện thông qua các Lớp 12B, 12G, 12H trường THPT
Lê Văn Linh như sau: (Bài kiểm tra 15 phút - 10 câu trắc nghiệm).Sau đây là số
liệu ghi nhận lại từ các lần kiểm tra.
* khi chưa sử dụng sáng kiến kinh nghiệm
Kiểm tra lần 1 ở học kì 1 (Bài 15 phút thứ nhất học kì 1)
Đối tượng
Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)
5.0 – 6.4
3.5 – 4.9
0.0 – 3.4
Tổng 8.0 – 10.0 6,5 – 7,9
Lớp
Số bài SL
14
32.6
10
23.2
8
18.6
Tổng 127 21 16.4 19 15.0 34 26.8 34 26.8 19
15.0
Kiểm tra lần 2 ở học kì 1 (Cột 15 phút thứ hai học kì 1)
Đối tượng
Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)
5.0 – 6.4
3.5 – 4.9
0.0 – 3.4
Tổng 8.0 – 10.0 6,5 – 7,9
Lớp
Số bài SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
6
13.6
12H
43
6
14.0
4
9.3
14
32.6
15
34.9
4
9.3
Tổng 127 12 9.4 17 13.4 44 34.6 40 31.6 14
Lớp
Số bài SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12B 38
10 26.3 4
10.5 10 26.3 8
21.1 6
15.8
12G 41
8 19.5 4
9.8 11 29.3 10 24.4 8
19.5
12H
43
16
37.2
3
19.7
18
14.7
Kiểm tra lần 3 ở học kì 2 (Bài 15 phút thứ ba học kì 2)
Đối tượng
Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)
5.0 – 6.4
3.5 – 4.9
0.0 – 3.4
Tổng 8.0 – 10.0 6,5 – 7,9
Lớp
Số bài SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12B 38
9 23.7 5
13.2 14 36.8 7
18.4 3
7.9
12G 41
Tổng hợp sau 2 lần kiểm tra khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Đối tượng
Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)
12B Tổng 8.0 – 10.0 6,5 – 7,9
5.0 – 6.4
3.5 – 4.9
0.0 – 3.4
12G Số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12H bài
Tổng 244 64 26.2 26 10.7 75 30.7 48 19.7 31
12.7
Đối chiếu trước và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
19
Kết quả bài kiểm tra 15 phút
Trước khi áp dụng SKKN
Sau khi áp dụng SKKN
Điểm
Tỉ lệ %
hứng, vì nó gắn liền giữa lí thuyết với thực hành thí nghiệm, giúp các em tiếp
cận gần hơn với các bài tập phát triển năng lực cho HS. Bài tập này là một bước
trung gian cho học sinh đi từ lí thuyết được lĩnh hội đến thực hành, thực tiễn.
Trên cơ sở bài tập dạng này có thể sử dụng trong hầu hết các tiết học như: dạy
bài mới, ôn tập-luyện tập, thực hành, ngoài ra có thể dùng bài tập để kiểm tra kết
quả học tập của học sinh ( ví dụ đề thi tuyển sinh đại học và cao đẳng từ các
năm học 2013-2016 các khối A và khối B, kể cả đề thi mẫu mà bộ giáo dục vừa
gửi cho các sở tham khảo).
Trong quá trình thực hiện và triển khai đề tài tôi nhận thấy đề tài đã góp
phần nhỏ bé vào việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn như.
- Sáng kiến kinh nghiệm này tuy chỉ là một đề tài nhỏ bé của tôi nhưng đây
cũng là phần nghiên cứu của tôi trong suốt năm học 2015 - 2016 và được áp
dụng cho một số chương ở cùng năm học.
- Biên soạn và sử dụng hệ thống bài tập tích hơp các môn khoa học tự
nhiên trong dạy học hóa học lớp 12 đã đáp ứng được mục đích nghiên cứu:
- Giúp HS nắm chắc kiến thức lý thuyết, phân loại, xây dựng phương pháp
giải nhằm phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo cho HS.
- Góp phần nâng cao tính hứng thú trong học tập, khả năng tiếp thu, lĩnh
hội kiến thức của HS.
- Đã được các GV dạy hoá học ở các trường hưởng ứng nhiệt tình.
- Phát triển tính tích cực – chủ động – sáng tạo của người học.
20
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học ở trường THPT.
Với những kết quả đã đạt được ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng giả thiết
khoa học của đề tài là chấp nhận được. Góp phần nâng cao chất lượng dạy học
hóa học ở trường THPT.
3.4 Đề xuất.
Để phát triển loại bài tập này cho các chương khác nhau của các lớp 10, 11
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới GD THPT
môn Hóa học. NXB Giáo dục, tr 72,73
8. Phạm Thị Kim Anh (2012), Đào tạo và bồi dưỡng GV như thế nào để đáp
ứng yêu cầu dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm
2015. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Dạy học tích hợp - dạy học phân hóa trong
chương trình giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, TP.HCM, tháng
11/2012
9. Lê Xuân Trọng (2006), Sách giáo khoa Hóa Học 10, 11, 12 Cơ bản. NXB
Giáo dục
10. Lê Xuân Trọng (2006), Sách giáo khoa Hóa Học 10, 11, 12 Nâng cao. NXB
Giáo dục
11. Lê Xuân Trọng (chủ biên), Ngô Ngọc An, Phạm Văn Hoan, Nguyễn Xuân
Trường (2008), Bài tập hóa học 12 nâng cao. NXB Giáo dục
PHỤ LỤC
Phụ lục 1 : Đề kiểm tra 15 phút lần 1 ( Gồm 10 câu hỏi)
Câu 1. Từ các cặp oxi hóa - khử sau: Zn2+/Zn, Mg2+/Mg, Cu2+/Cu và Ag+/Ag. Số pin
điện hóa có thể lập được là
A. 3
B. 4
C. 5
D.6
Câu 2. Cho 31,2 gam hỗn hợp bột Al, Al2O3 tác dụng với dung dịch NaOH dư, thu
được 16,8 lít khí H2 (ở 00C; 0,8at). Thể tích dung dịch NaOH 4M đã dùng là bao
nhiêu? Biết rằng người ta dùng dư 10 ml so với thể tích cần dùng.
A. 200 ml
B. 210 ml
C. 220 ml
D. 230 ml
B. Chỉ có thể là 6,72 lít
C. 2,24 lít hay 3,36 lít
D. 2,24 lít hay 6,72 lít
Câu 8. Nhỏ từ từ đến dư dung dịch NaOH vào các dung dịch AlCl 3, BeCl2, FeCl3,
CuCl2, MgCl2. Số kết tủa thu được là
A. 2
B. 3
C. 4
D. 5
Câu 9. So với nguyên tử phi kim cùng chu kì, nguyên tử kim loại
A. Thường có bán kính nguyên tử nhỏ hơn
B. Thường có năng lượng ion hóa nhỏ hơn
C. Thường dễ nhận electron trong các phản ứng hóa học
D. Thường có số electron ở các phân lớp ngoài cùng nhiều hơn.
Câu 10. Trong pin điện hóa, sự oxi hóa
A. Chỉ xảy ra ở cực âm
B. Chỉ xảy ra ở cực dương
C. Xảy ra ở cực âm và cực dương
D. Không xảy ra ở điện cực nào.
Phụ lục 2 : Đề kiểm tra 15 phút lần 2( Gồm 10 câu hỏi).
Câu 1. Đổ một dung dịch chứa a mol NaOH vào dung dịch chứa b mol AlCl3.
Điều kiện để thu được lượng kết tủa lớn nhất sau phản ứng là
A. a > 4b
B. 3 < a < 4b
C. a = 3b
D. a = 4b.
Câu 2. Trong quá trình điện phân dung dịch NaCl, ở cực âm xảy ra
A. Sự khử ion Na+
B. Sự oxi hóa ion Na+
A. H2SO4
B. NaOH
C. HCl
D. NH4Cl
Câu 8. Ứng dụng nào sau đây không phải của CaCO3?
A. Làm vôi quét tường
B. Làm vật liệu xây dựng
C. Phụ gia của thuốc đánh răng, bánh kẹo
D. Sản xuất xi măng, đất đèn
23
Câu 9. Cho K kim loại vào dung dịch CuCl2 thì thu được sản phẩm gồm
A. Cu, KCl
B. KOH, H2
C. Cu(OH)2, K2SO4
D. Cu(OH)2, K2SO4, H2
Câu 10. Cho 1,625 gam kim loại hóa trị II tác dụng với dung dịch HCl lấy dư.
Sau phản ứng cô cạn dung dịch thì thu được 3,4 gam muối khan. Kim loại đó là
A. Mg
B. Zn
C. Cu
D. Ni
Phụ lục 3 : Đề kiểm tra 15 phút lần 3( Gồm 10 câu hỏi)
Câu 1. Hợp chất nào của nhôm tác dụng với dung dịch NaOH (theo tỉ lệ mol 1:1)
cho sản phẩm Na[Al(OH)4]?
A. Al2(SO4)3
B. AlCl3
C. Al(NO3)3
C. 24 gam
D. 42 gam
0
0
Câu 7. Cho biết: E Cr /Cr = − 0, 74 V ; E Pb /Pb = − 0,13V. Sự so sánh nào sau đây là
đúng?
A. Ion Pb2+ có tính oxi hoá mạnh hơn Cr3+
B. Nguyên tử Pb có tính khử mạnh hơn nguyên tử Cr
C. Ion Cr3+ có tính oxi hóa mạnh hơn ion Pb2+
D. Nguyên tử Cr và nguyên tử Pb có tính khử bằng nhau.
Câu 8. Nhỏ từ từ cho đến dư dung dịch NaOH vào dung dịch AlCl3. Hiện tượng
xảy ra là
3+
2+
24
A. Chỉ có kết tủa keo trắng
B. Có kết tủa keo trắng và có khí thoát ra
C. Không có kết tủa, có khí bay ra D. Có kết tủa keo trắng, sau đó tan ra.
Câu 9. Phản ứng hóa học nào xảy ra trong sự ăn mòn kim loại?
A. Phản ứng trao đổi
B. Phản ứng oxi hóa - khử
C. Phản ứng thủy phân
D. Phản ứng axit - bazơ.
Câu 10. Cho 700 ml dung dịch KOH 0,1M vào 100 ml dung dịch AlCl3 0,2M.
Sau phản ứng, khối lượng kết tủa tạo ra là
A. 0,78 gam