BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ PHƯƠNG LAN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1
CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ PHƯƠNG LAN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1
CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. CHU THỊ HÀ THANH
CGD
:
Công nghệ Giáo dục
GD&ĐT
:
Giáo dục và Đào tạo
GV
:
Giáo viên
HS
:
Học sinh
NXB
:
Nhà xuất bản
TN
:
Thử nghiệm
ĐC
:
Đối chứng
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng
chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, …”.
Đồng thời, Đảng cũng nhận định rằng: “Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy
mạnh xã hội hoá, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục. Phát triển
nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số [...]. Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và
các chính sách xã hội trong giáo dục.” [32,tr130-132].
Từ ngàn đời xưa, dân tộc ta vốn đã có truyền thống hiếu học và tôn sư
trọng đạo. Truyền thống tốt đẹp đó là nền tảng vững chắc giúp chúng ta xây
xây dựng nên nền giáo dục nước nhà. Trong tiến trình hội nhập, giáo dục
nước ta giao lưu sâu rộng với nhiều nước trên thế giới. Qua đó, cho thấy
2. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng việt và
những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học
của Việt Nam và của nước ngoài.
3. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành nhân cách của con
người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.”
Nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp xuất hiện, phát triển đã
làm thay đổi cơ cấu kinh tế, do đó làm thay đổi cơ cấu nhân lực xã hội. Nó
đòi hỏi ở người lao động học vấn, hệ thống kĩ năng và sự sáng tạo tương đối
đồng đều. Nhiều năm trở lại đây, đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm
trong công tác đổi mới giáo dục. Do vậy, kiểu dạy học thầy giảng - trò ghi
8
nhớ trở nên lạc hậu, không còn đáp ứng được nhu cầu của nền sản xuất và sự
tiến bộ khoa học công nghệ. Giáo dục đứng trước sức ép phải đổi mới, nhiều
phương án dạy học đã ra đời, như: dạy học chương trình hóa, nêu vấn đề, dạy
học tình huống,…Trong đó, công nghệ dạy học (CNDH) là một chiến lược
dạy học đang dần xác định và chiếm ưu thế.
Trong nhà trường tiểu học ở Việt Nam, đã coi Tiếng Việt là một môn
học trung tâm, làm nền móng cho các môn học khác. Môn Tiếng Việt ở
trường Tiểu học có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành 4 kĩ năng:
Nghe, nói, đọc, viết cho học sinh. Chính những lí do trên là cơ sở để chúng tôi
lựa chọn đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp dạy học Tiếng Việt 1 CGD theo
hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp dạy học Tiếng Việt lớp 1 CGD theo hướng
tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Đánh giá một cách toàn diện thực trạng dạy học TV1 CGD; từ đó đề
xuất một số biện pháp dạy học TV1 CGD theo hướng tích cực hóa hoạt động
học tập của học sinh.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn được bố trí trong 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng dạy học TV1 CGD
Chương 3: Một số biện pháp dạy học TV1 CGD theo hướng tích cực
hóa hoạt động học tập của học sinh
10
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nước ngoài
CNDH được hình thành dần trong khoảng 50 năm qua với những thay
đổi quan trọng về nội dung.Vào đầu những năm 40, người ta bắt đầu sử dụng
các phương tiện nghe - nhìn. Đến khoảng những năm 50, 60, các phương tiện
kĩ thuật mới được sử dụng mạnh mẽ: các máy dạy học được chế tạo và thí
nghiệm, dạy học được chương trình hóa…tạo thành một làn sóng ở các nước
phát triển. Các thuật ngữ công nghệ giáo dục, công nghệ đào tạo, công nghệ
dạy học ra đời. CNDH phát triển theo hai hướng:
Hướng truyền thống, coi CNDH là việc sử dụng các phương tiện kĩ
thuật hiện đại, chủ yếu thuộc lĩnh vực nghe nhìn (máy vi tính, máy ảnh, máy
ghi âm, casset, điện thoại,…), vào quá trình dạy học (dạy học từ xa, học
online). Phương hướng này có được một số kết quả, nhưng đưa đến một
khẳng định: không thể thay thế thầy giáo trong nhà trường và không thể áp
dụng máy móc công nghệ sản xuất vào giáo dục.
phương pháp giảng dạy được định hình dần qua từng tuần, từng tháng, từng
năm.Năm 1985, tư tưởng CGD và mô hình nhà trường GGD được triển khai ở
một số địa bàn tiêu biểu trên cả nước. Đến cuối năm 1990, đề tài giáo dục
thực nghiệm của Hồ Ngọc Đại đã được một hội đồng cấp nhà nước nghiệm
thu, điều đó đã khẳng định tính khoa học và tính thực tiễn của CGD.
Từ 1990 - 1995, chương trình CGD đã ổn định tương đối và được mở ở
34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Từ năm 1998 - 2000 quy mô triển khai thực
hiện tăng lên 43 tỉnh, thành phố.
Đến năm 2000, do yêu cầu quản lí nhà nước theo tinh thần một chương
trình, một bộ sách giáo khoa nên việc dạy học TV1 CGD không thực hiện được.
12
Trong các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt cho
học sinh tiểu học, Công nghệ giáo dục là đề tài khoa học cấp Bộ đã được
nghiệm thu và áp dụng đạt kết quả tốt tại các địa phương. Từ năm học 2013 2014, bộ sách Tiếng Việt 1 của GS Hồ Ngọc Đại được đưa vào chính thức
trong các trường tiểu học với vai trò là một phương án dạy học thay vì chỉ thí
điểm như trước. Hiện nay, chương trình đang được triển khai dạy cho lớp 1 tại
42 tỉnh trên toàn quốc, trong đó có một số tỉnh thực hiện với 100% lớp 1 như
Lào Cai, Nam Định, Hà Tĩnh, Kiên Giang. Cả nước hiện có 3.971 trường với
379.057 học sinh tham gia học TV1- CGD, riêng với Nghệ An năm học 2014
- 2015 đã áp dụng tại hầu hết các trường tiểu học trường với tất cả học sinh
học tài liệu này.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Công nghệ giáo dục, Chương trình Công nghệ giáo dục
a. Công nghệ giáo dục
CGD là một cách làm giáo dục.
CGD là một cách làm giáo dục có công nghệ.
CGD được diễn giải bằng một khái niệm khoa học.
CGD đi liền với kĩ thuật thực thi.
Theo Nguyễn Hữu Chí (2002), “Chương trình giáo dục là sự trình bày
có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian
xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được,
đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương pháp,
phương tiện, cách thức tổ chức học tập, các cách thức đánh giá kết quả học
tập… nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra” [1,tr14].
Như vậy, chương trình không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng
và bảng danh mục các nội dung giảng dạy, mà là một phức hợp gồm các bộ
phận cấu thành:
14
+ Mục tiêu học tập
+ Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập
+ Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập
+ Đánh giá kết quả học tập
Chương trình tiểu học ở Việt Nam đã được phát triển qua nhiều giai
đoạn cải cách giáo dục (1951, 1956, 1981, 2000) và đã có những đóng góp
quan trọng vào quá trình nâng cao chất lượng giáo dục. Từ những năm 1980 ở
nước ta có 4 chương trình tiểu học: chương trình cấp I cải cách giáo dục áp
dụng ở số đông các trường tiểu học trong cả nước (gọi tắt là chương trình 165
tuần), chương trình phổ cập cấp I cho trẻ em ở các lớp học linh hoạt (gọi tắt là
chương trình 100 tuần), chương trình phổ cập cấp I cho trẻ em vùng dân tộc ít
người (gọi tắt là chương trình 120 tuần), chương trình thực nghiệm của Trung
tâm Công nghệ giáo dục. Năm 2002, thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH-10
ngày 09/12/2000 của Quốc hội và chỉ thị số 14/2001/CT-TTg ngày 11/6/2001
của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới nội dung chương trình giáo dục phổ
thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai đại trà Chương trình và
sách giáo khoa Tiểu học mới trên phạm vi toàn quốc từ năm học 2002-2003,
bắt đầu từ lớp 1 (gọi tắt là chương trình sau năm 2000).
những khái niệm khoa học, cái gốc, cái bản chất của tri thức.
Chương trình Công nghệ giáo dục được thiết kế theo ba nguyên tắc:
nguyên tắc phát triển; nguyên tắc chuẩn mực; nguyên tắc tối thiểu. Và dựa
trên cơ sở lí thuyết của tâm lí học thế kỉ XX: lí thuyết hoạt động của Liên Xô;
lí thuyết thao tác của Piaget; lí thuyết các hoạt động chủ đạo; lí thuyết về quá
trình chuyển vào trong,…
1.2.2. Phương pháp dạy học tích cực
Đây là vấn đề đang được xem xét và nghiên cứu chứ chưa có một sự
thống nhất về định nghĩa phương pháp tích cực.
16
Theo John Dewey (1895- 1952), phương pháp tích cực là sáng tạo ra
những tình huống xác thực cho những hoạt động liên tục mà học sinh quan
tâm. Nghĩa là toàn bộ quá trình dạy học điều phải hướng vào nhu cầu, khả
năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề của học sinh. Sử dụng
PP tích cực sẽ tạo ra không khí thân mật cởi mở giữa thầy và trò.
Theo tác giả Trần Hồng Quân có viết: " muốn đào tạo con người khi
bước vào đời là con người tự chủ, chủ động, năng động sáng tạo thhif phương
pháp giáo dục phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển. Phương
pháp nói trên nhằm hệ thống các phương pháp giáo dục tích cực, là phương
pháp lấy học sinh làm trung tâm, người học giữ vai trò chủ động, tích cực
trong quá trình học tập, người học không thụ động nghe thầy giảng và truyền
đạt kiến thức mà tích cực học bằng hành độngc ủa chính mình".
Có thể nói rằng: Dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng
ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Dạy học tích cực hướng
tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học,
nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải
là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học
cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm
được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những
khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo
cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng
dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành
động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.
c. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học
sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một
mục tiêu dạy học.Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ
18
thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể
nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải
quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên
bậc học cao hơn càng phải được chú trọng. Trong các phương pháp học thì
cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương
pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi
dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp
bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình
dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ
động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự
học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của
giáo viên.
Dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh
không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là một mục tiêu
dạy học. Trong xã hội hiện đại với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ
bão của khoa học, kĩ thuật, công nghệ, thời gian trên lớp học không đủ để
trang bị cho người học mọi tri thức và không thể nhồi nhét vào đầu óc người
hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề
gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn
thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện
tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát
triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã
hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự
phân công hợp tác trong lao động xã hội.
e. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều
20
kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây
giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo
viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh
cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học
sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt
động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà
trường phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển các phương pháp
tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống
xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các
kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc
sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của
các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng
nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt
điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động
sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là
người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng
dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh
TV1 CGD đã vận dụng những thành tựu khoa học về ngữ âm tiếng Việt
hiện đại, đặc biệt là công trình Ngữ âm tiếng Việt của Đoàn Thiệt Thuật, một
trong những giáo trình sử dụng cho chuyên ngành ngôn ngữ của các trường
đại học lớn trong cả nước. Đề tài xin giới thiệu một số khái niệm cơ sở trong
công trình này như sau:
a. Âm vị
Đơn vị nhỏ nhất của hệ thống biểu đạt thành tiếng của một ngôn ngữ,
được quan niệm như một tổng thể của những nét khu biệt được thể hiện đồng
thời, đó là âm vị.
22
Âm tố là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói có thể tách ra về mặt cấu
âm - thính giác, đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và tương ứng
với một âm vị.
Chữ viết ghi âm là phương tiện ghi lại bằng đồ hình, hình thức biểu đạt
bằng âm thanh của ngôn ngữ. Mỗi con chữ (đôi khi một tổ hợp con chữ) ghi
một âm vị.
b. Âm tiết
Chuỗi lời nói được con người phát ra thành những mạch khác nhau,
những khúc đoạn, từ lớn đến nhỏ khác nhau. Đơn vị phát âm nhỏ nhất là âm
tiết. Chẳng hạn, từ xà phòng được phát âm thành xà và phòng. Ta có hai âm
tiết: xà, phòng.
Âm tiết là một khúc đoạn của lời nói có khả năng mang cái mà ngữ âm
học châu Âu vẫn gọi là hiện tượng ngôn điệu như thanh điệu, trọng âm và ngữ
điệu.Trong tiếng Việt, một âm tiết bao giờ cũng được phát ra với một thanh điệu.
Với tư cách là một đơn vị phát âm nhỏ nhất, âm tiết được xác định, về
cơ chế cấu tạo, như một đợt căng của cơ thịt của bộ máy phát âm. Cứ mỗi lần
cơ phát âm căng dần lên tới đỉnh cao nhất rồi trùng xuống để rồi sắp tới lại bắt
đầu căng lên là ta có một âm tiết.Các đợt căng của cơ nối tiếp nhau, làm thành
tiết khác bằng những cách mở đầu khác nhau. Có cách mở đầu bằng sự tắc
thanh hầu, có cách bằng sự cọ xát của không khí v.v… Ví dụ: anh, ăn, sen,…
- Âm điệm có chức năng biến đổi âm sắc của âm tiết sau lúc mở đầu.
Âm sắc của âm tiết sau khi mở đầu bị trầm hóa hay trung hòa là do âm đệm.
- Âm chính có chức năng quy định âm sắc chủ yếu của âm tiết. Nó là
hạt nhân của âm tiết.
- Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết. Cách kết thúc khác nhau (tắc
hoặc không tắc, v.v…) làm thay đổi âm sắc của âm tiết đi và có tác dụng khu
biệt âm tiết này với âm tiết khác.
24
Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc: bậc thứ nhất bao gồm những
thành tố trực tiếp của nó phân định bằng những ranh giới có ý nghĩa hình thái
học, bậc thứ hai bao gồm những yếu tố của phần vần, chỉ có chức năng khu
biệt thuần túy.
Mô hình cấu trúc hai bậc của âm tiết tiếng Việt
Âm tiết
Âm cuối
Âm chính
Âm đệm
Thanh
Âm đầu
Phần vần
Lược đồ âm tiết tiếng Việt
Thanh điệu
Âm đầu
tần số không ổn định, được biểu diễn bằng đường cong không tuần hoàn và
được gọi là tiếng động.Đặc điểm cơ bản của cơ chế phát âm các phụ âm là sự
cản trở không khí, là sự cấu tạo tiếng động.
* Bán nguyên âm hay bán phụ âm: Vừa mang tính chất nguyên âm vừa
mang tính chất phụ âm.
Ví dụ: i, u trong bấy lâu, đại hội.
d. Các thành tố cấu tạo âm tiết
* Thanh điệu