Một số giải pháp quản lý hoạt động của các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh bình phước - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________

LÊ DUY BÌNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
CẤP HUYỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________

LÊ DUY BÌNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
CẤP HUYỆN TỈNH BÌNH PHƯỚC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. ĐINH XUÂN KHOA

thầy cô giáo, quý đồng nghiệp cùng bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Lê Duy Bình


4

MỤC LỤC
Ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết
số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN
và hội nhập quốc tế; Trong đó mục tiêu của giáo dục thường xuyên là:.......1


5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Chữ viết đầy đủ trong luận văn

Chữ viết tắt

1
2

Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bảo hiểm xã hội

Giáo dục thường xuyên
Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm
Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp dạy nghề
Giám đốc, Phó giám đốc
Số lượng
Trung bình
Học lực
Hạnh kiểm
Phương pháp giáo dục
Quản lý giáo dục
Xã hội học tập

CNVC
TTGDTX
GD
GDTX
GV
GVCN
GDTX- HNDN
GĐ, PGĐ
SL
TB
HL
HK
PPGD
QLGD
XHHT



Đây là một hoạt động quản lý khá khó khăn và phức tạp của nhà
giáo dục.
Do đó có thể quản lý tốt việc tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo
dục thường xuyên, người quản lý phòng Giáo dục Thường xuyên Sở Giáo dục
và Đào tạo phải dựa vào Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo
dục thường xuyên do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành, đồng thời phải có
thông tin chính xác kịp thời, kiểm tra các hoạt động của các trung tâm, dựa


2
vào đội ngũ cốt cán ở các trung tâm như: giám đốc, phó giám đốc, các tổ
trưởng tổ chuyên môn và các giáo viên giỏi có nhiều kinh nghiệm. Tổ chức và
hoạt động của các trung tâm theo quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT là một yêu
cầu bắt buộc hết sức cần thiết. Quản lý tổ chức và hoạt động này giúp các
trung tâm giáo dục thường xuyên tuân thủ quy định một cách đồng bộ. Quản
lý tốt tổ chức và hoạt động của các trung tâm giáo dục thường xuyên sẽ giữ
được kỷ cương và tính đoàn kết nội bộ, đồng thời tạo một động lực các trung
tâm năng động sáng tạo trong tình hình hiện tại, phát huy nhiều nhân tố điển
hình, đúc rút được nhiều bài học hay trong công tác quản lý.
Trong những năm qua tổ chức và hoạt động của các trung tâm giáo
dục thường xuyên trong tỉnh Bình Phước chưa tốt dẫn đến quy mô, số lượng,
chất lượng chưa cao, chưa chủ động trong công tác tuyển sinh, hàng năm
vào cuối tháng 9 các trường trung học phổ thông đã ổn định hết thì số học
sinh còn lại mới vào học các trung tâm giáo dục thường xuyên, tổng số
lượng học viên trong cả 8 trung tâm trong tỉnh (1 trung tâm giáo dục thường
xuyên cấp tỉnh, 7 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện) khoảng 1500,
bằng học sinh một trường trung học phổ thông trong tỉnh, các hoạt động
khác của trung tâm chưa đáp ứng được yêu cầu cho người học. Với tổng số
220 cán bộ, công nhân viên toàn các trung tâm nếu chỉ dạy học và quản lý số
học viên ở trên là quả là quá lãng phí mặt khác chất lượng giáo dục vẫn chưa

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động các trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài: tìm hiểu, phân tích và đánh giá
thực trạng tổ quản lý hoạt động của các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
huyện trong tỉnh Bình Phước.
- Đề xuất các giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động các
trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện trong tỉnh Bình Phước.


4
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp thống kê toán học
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
7.1. Về mặt thực tiễn
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận quản lý hoạt động các trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp huyện
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động của trung tâm
giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Bình Phước.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động của các trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Bình Phước.


5

nhân loại nói chung, trong đó có Việt Nam.
Thông điệp “Học tập - Một kho báu tiềm ẩn” là nhan đề báo cáo của
Hội đồng giáo dục UNESCO nói về “Giáo dục thế kỷ XXI”, đề ra từ năm
1997 của thế kỷ XX. Bản báo cáo này đã khẳng định vai trò cơ bản của giáo
dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá nhân. Nhấn mạnh học tập
suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với những thách thức
của thế kỷ XXI. Đây là một vấn đề phúc lợi xã hội để phát triển hài hòa và
cạnh tranh trong thế kỷ XXI.
Ngày nay, hầu như các quốc gia trên thế giới đều có quan điểm chung
về vấn đề giáo dục và học tập: Đó là việc học tập của mỗi con người không
thể đặt dấu chấm hết ngay sau quá trình học tập tại nhà trường phổ thông, khi
họ còn trẻ, mà phải được duy trì trong suốt cuộc đời của họ. Cũng có những
quốc gia đã sớm đưa ra được những chính sách cụ thể để xây dựng “xã hội
học tập suốt đời” như nước Anh. Cũng có những quốc gia lại tiến hành công
cuộc xây dựng “xã hội học tập suốt đời” từ mục tiêu tăng cường đào tạo nghề,
nhằm đối phó với nạn thất nghiệp như Mỹ và một số nước châu Âu. Còn tại
Nhật Bản, “học tập suốt đời” có ý nghĩa là toàn bộ những hoạt động học tập
trong suốt cuộc đời của một con người, bao gồm: giáo dục nhà trường, giáo
dục xã hội, các hoạt động văn hóa, thể thao, các hoạt động ngoại khóa…
nhằm giải tỏa căng thẳng. Các hoạt động tình nguyện, hoạt động đào tạo trong
công ty, xí nghiệp và các hoạt động học tập khác được tiến hành theo sở thích
và tại các địa điểm đa dạng. Ở đó, con người được tự do lựa chọn cơ hội học
tập ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời, và thành quả học tập đó được công
nhận một cách thích đáng.
Ở nhiều quốc gia, người ta hiểu rằng, công việc giáo dục phải được tiến
hành đối với mọi lứa tuổi, từ lúc lọt lòng cho đến lúc kết thúc cuộc sống. Các
quá trình giáo dục đó không phân biệt học trong nhà trường hay học ngoài xã


7

người bỏ học giữa chừng vì lý do nào đó, để việc học tập của họ lại được tiếp
tục, liền mạch.
Thứ ba, chức năng bổ sung: Những người đã được cung ứng những tri
thức và kỹ năng nhờ quá trình giáo dục chính quy hoặc không chính quy
thường luôn thấy bản thân còn thiếu hụt những kiến thức, những kỹ năng nào
đó trong quá trình lao động, giao lưu xã hội… làm cho họ khó thích nghi, khó
phát triển trong điều kiện xã hội thay đổi nhanh chóng về mọi phương diện…
từ thực tiễn đó, yêu cầu con người phải cập nhật những hiểu biết, những
phương pháp làm việc cần thiết mà cuộc sống đòi hỏi (đây chính là tiền đề để
xây dựng xã hội học tập suốt đời) và là xu thế phát triển của giáo dục trong
tương lai gần.
Thứ tư, chức năng hoàn thiện: với chức năng này, GDTX mang lại cơ
hội học tập mà qua đó con người làm cho vốn kinh nghiệm của mình đầy đủ
hơn, năng lực hoạt động được nâng cao sức khỏe được tăng cường, những
phẩm chất nhân cách được phát triển hài hòa và hoàn chỉnh hơn.
UNESCO cũng đã đánh giá rất cao vai trò của GDTX thông qua những
nhận định sau đây:
- GD chính quy và GDTX đều có tầm quan trọng như nhau đối với sự
phát triển tài nguyên con người.
- GD chính quy và GDTX bổ sung cho nhau và vì vậy, các chương
trình GD tương đương cần phải được khuyến khích.
- Cả GD chính quy và GDTX đều có đối tượng riêng của mình.
- GDTX là một phần tiếp tục của GD chính quy, vì vậy cả hai loại
chương trình này cần được tiến hành song song với nhau.
- GD chính quy và GDTX cần phải có những tài liệu học tập tốt mang
tính đặc thù, đều phải có giáo viên chuyên trách và sự trợ giúp về tài chính.
- GD chính quy và GDTX cần được tổ chức một cách hệ thống.


9

sở, GD đã mang lại tính kết hợp giữa lý thuyết với công nghệ, với thực
hành thủ công.
- GD không chỉ nhằm mục đích đào tạo thanh niên cho những công
việc cụ thể, mà còn trang bị cho học sinh khả năng thích ứng với nhiều loại
công việc khác nhau.
- Không chỉ riêng hệ thống nhà trường phải chịu trách nhiệm về đào
tạo kỹ thuật, mà cả các xí nghiệp, các ngành kinh doanh và hệ thống GD
ngoài nhà trường cũng phải chia sẻ trách nhiệm ấy với các trường học.
- GD đại học cần được mở rộng và đa dạng để đáp ứng các đòi hỏi của
từng con người và cả cộng đồng. Muốn vậy, trước hết phải có sự thay đổi
trong quan niệm và thái độ cổ truyền với trường đại học.
- Được nhận vào các ngành GD và các nghề nghiệp khác nhau chỉ tùy
thuộc ở kiến thức, khả năng và lực học của mỗi người.
- Đạo đức mới của GD là nhằm làm cho mỗi người trở thành thày dạy
và người kiến tạo nên sự tiến bộ văn hóa của bản thân mình.
- Khi soạn thảo và đặt kế hoạch cho các hệ thống giáo dục cần tính
đến khả năng do kỹ thuật mới đem lại.
- Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những chuyên gia dạy
học giỏi.
- Các chương trình đào tạo thầy giáo cần triệt để sử dụng các thiết bị
hiện đại và các phương pháp giảng dạy mới nhất.
- Trái với thông lệ cổ truyền, việc giảng dạy phải thích nghi với người
học, chứ không phải người học phải tuân theo những quy định cứng nhắc đã
định sẵn từ trước trong công việc giảng dạy.
- Người học và công chúng nói chung cần được có tiếng nói nhiều hơn
trong việc quyết định các vấn đề có liên quan đến giáo dục.
Những khuyến cáo này được UNESCO đưa ra vào những năm 80
của thế kỷ XX (tức là cách đây hơn 30 năm). Song đến nay ta vẫn thấy



Việc nâng cao dân trí; Sự nghiệp nâng cao dân trí của đất nước tiếp tục
tiến lên một bước mới, được đánh dấu bằng thập kỷ 1990 - 2000, cả nước
triển khai công cuộc xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện mục
tiêu thế giới bước vào thế kỷ XXI không còn nạn mù chữ do UNESCO
khuyến cáo và Liên Hợp Quốc phát động và đến tháng 6/2000, cả nước ta đạt
chuẩn quốc gia xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và nay đang tiếp tục
phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Gần 70 năm qua sự nghiệp xóa mù chữ, nâng cao dân trí luôn gắn liền
sự nghiệp giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước, gắn liền tên tuổi
Chủ tịch Hồ Chí Minh Người thầy lớn của dân tộc, ngành giáo dục và đào tạo
đã đạt được những thành tích to lớn, góp phần đáng kể, nâng cao dân trí giúp
cho đông đảo người lao động thoát khỏi tình trạng thất học, từng bước nâng
cao trình độ học vấn của cán bộ, người lao động trẻ tuổi, tạo nguồn đào tạo
nhân lực có kỹ thuật đáp ứng đòi hỏi sự nghiệp xây dựng đất nước.
Triển khai nhiệm vụ mới, thực hiện Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg
của Thủ tường Chính phủ phê duyệt đề án ''Xây dựng xã hội học tập giai đoạn
2005-2010'', và quyết định số 89/QĐ- TTg về phê duyệt đề án “Xây dựng xã
hội học tập giai đoạn 2012-2020” ngành giáo dục và đào tạo tăng cường củng
cố tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên (bao gồm các
trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm
ngoại ngữ, tin học), giáo dục từ xa, để các cơ sở này có khả năng thực hiện
nhiều chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
Phát triển mạng lưới trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học
tập cộng đồng, các cơ sở học tập, bồi dưỡng thường xuyên để đến năm 2010
tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đạt tỷ lệ 100% số quận, huyện có
trung tâm giáo dục thường xuyên, 80% số xã, phường, thị trấn có trung tâm
học tập cộng đồng. Chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ
chức, cơ sở sản xuất, dịch vụ, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế thành



14
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện
- Trung tâm giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục thường xuyên của
hệ thống giáo dục quốc dân. Trung tâm giáo dục thường xuyên bao gồm trung
tâm giáo dục thường xuyên quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây
gọi chung là trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện); Trung tâm giáo
dục thường xuyên có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
1.2.2. Hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện
Hoạt động trong TTGDTX cấp huyện rất đa dạng và phong nó phú
tùy thuộc vào từng đơn vị cụ thể nhưng nhìn chung thì các hoạt động cơ
bản đó là:
- Hoạt động QL: Công tác quản lý TTGDTX cấp huyện là công tác của
Chi bộ, GĐ, các PGĐ,Trưởng các phòng ban, tổ chức đoàn thể (công đoàn,
đoàn thanh niên, hội chữ thập đỏ v.v..) theo chức năng nhiệm vụ của quy chế
tổ chức hoạt động của TTGDTX do BGDĐT ban hành cùng với nội quy của
cơ quan đơn vị do tập thể xây dựng và được phê duyệt của GĐTTGDTX cấp
huyện. Công tác quản lý phải sát với tình hình thực tế nhưng phải đảm bảo
các khâu cơ bản (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) và tổng hợp các khâu
trên là việc sơ kết, tổng kết việc thực hiện kế hoạch; sơ kết tổng kết ở đây
mang tính linh hoạt phụ thuộc vào quy mô và tính quan trọng của công việc
chứ không phải nhất thiết mang tính hình thức nghi lễ mà ta thường coi là
những hội nghị sơ kết, tổng kết. Nhiều bộ phận có triển khai kế hoạch và tiến
hành các khâu của công tác quản lý nhưng bỏ qua sơ kết, tổng kết thì chúng ta
không đánh giá sát được việc thực hiện kế hoạch và những hoạt động của cơ
quan đơn vị; Hoạt động quản lý do GĐ TTGDTX cấp huyện xây dựng KH tổ
chức hoạt động chung theo năm học, học kỳ, tháng cho toàn bộ cơ quan đơn
vị và phê duyệt kế hoạch các phòng, tổ đoàn thể đảm bảo khoa học tránh
chồng chéo tạo sự quan hệ đấu mối giữa các phận trong thực hiện nhiệm vụ




16
của chi bộ và công đoàn ngành giáo dục nếu cơ quan đơn vị nào sự phối hợp
giữa công đoàn và nhà trường tốt thì tạo ra sự đoàn kết nhất trí và hiệu quả
công việc cao.
+ Hoạt động của chi đoàn thanh niên TTGDTX: Chi đoàn thanh niên
TTGDTX chịu sự lãnh đạo của chi bộ và giám đốc TTGDTX có trách nhiệm
về mảng hoạt động đoàn đơn vị (chi đoàn CBCC,VC và chi đoàn học viên)
các hoạt động đoàn theo chủ đề chủ điểm chủ đề đã định trong năm theo kế
hoạch và một số vấn đề đột xuất, hoạt động đàn của TTGDTX cấp huyện góp
phần thúc đẩy hoạt động khác của đơn vị, trong quá trình hoạt động của đoàn
góp phần bổ sung nhiều vấn đề về giáo dục như kỹ năng sống, lý chí niềm tin,
tình cảm cho giới trẻ và tư vấn nghề nghiệp cho học viên tham gia các phong
trào tình nguyện, chủ nhật xanh, đền ơn đáp giúp nhau trong học tập và công
tác, có thể các chi đoàn kiêm thêm nhiệm vụ về công tác chữ thập đỏ theo
chức năng của hội chữ thập đỏ trong TTGDTX và trường học.
Nội dung hoạt động cụ thể của TTGDTX cấp huyện sẽ được trình bày
kỹ hơn ở phần sau.
1.2.3. Quản hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện
Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, ngay từ buổi sơ khai, để
đương đầu với sức mạnh tự nhiên, để tồn tại và phát triển, con người đã phải
hình thành các nhóm hợp tác lao động tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu
mà mỗi cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện được, điều này đòi hỏi phải có
sự tổ chức, có phân công và hợp tác lao động, từ đó xuất hiện sự QL.
Chất lượng đạt được cao hay thấp, chất lượng tốt hay xấu đều có sự tác
động của yếu tố “Quản lý” trong tất cả các hoạt động của con người. Dưới
nhiều góc độ khác nhau và bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau như
phương pháp thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu lý thuyết, người ta đã
xây dựng nhiều học thuyết về QL. Mỗi học thuyết trong từng hoàn cảnh cụ

các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là


18
nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
và Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích
dự kiến”. [34]
Những nhận định nêu trên về thuật ngữ này là khá gần gũi với những
quan niệm và cách thức tổ chức, QL đang được áp dụng trong các tổ chức
kinh tế - xã hội ở nước ta nói chung cũng như trong các TTGDTX cấp huyện
nói riêng. Mỗi nội dung gắn với hoàn cảnh lịch sử và phương pháp tiếp cận
đối tượng khác nhau nên chúng có những điểm nhấn mạnh riêng. Từ những
luận điểm trên đây, có thể rút ra được những nội dung cơ bản nhất để áp dụng
vào thực tiễn nhằm giúp cho các hoạt động của nhà QL đạt được kết quả
mong muốn, đó là:
Quản lý là một hoạt động có tính khoa học, do vậy hoạt động quản lý
phải tuân theo các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội. Muốn QL có hiệu quả
thì người QL phải thực hiện tốt các chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh
đạo (chỉ đạo) và kiểm tra. Trong đó:
+ Kế hoạch hóa: Là xác định mục đích, mục tiêu đối với thành tựu
tương lai của tổ chức và các cách thức để đạt. Kế hoạch hóa có ba nội dung
chủ yếu: (a) Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
(b) Xác định và đảm bảo có tính chắc chắn, cam kết về các nguồn lực của tổ
chức để đạt mục tiêu; (c) Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để
đạt được mục tiêu.
+ Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các
thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện
thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu của tổ chức. Nhờ việc tổ chức
có hiệu quả, người quản lý có thể điều phối tốt hơn nguồn nhân lực, vật lực.
Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực sử dụng các

quản lý

Phương pháp
quản lý

Khách thể
quản lý

Mục
tiêu
quản




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status