BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________
VŨ NGỌC PHƯỢNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CỦA TỔ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CỦA TỔ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS Thái Văn Thành
NGHỆ AN - 2014 1
LỜI CẢM ƠN
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 6
1.3. Một số vấn đề về hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường tiểu học 22
1.4. Một số vấn đề về quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở trường tiểu học . 27
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở
trường tiểu học 34
Kết luận chương 1 36
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHUYÊN
MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN 5, TP. HỒ CHÍ MINH 37
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục tiểu học của Quận 5, TP.
Hồ Chí Minh 37
2.2. Giới thiệu về quá trình nghiên cứu thực trạng 43
2.3. Thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường tiểu học Quận 5, TP.
Hồ Chí Minh 44
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường tiểu học Quận 5,
TP. Hồ Chí Minh tổ chuyên môn 58
2.5. Đánh giá chung về thực trạng 59
Kết luận chương 2 62
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN 5, TP. HỒ CHÍ
MINH 63
CSVC Cơ sở vật chất
GD Giáo dục
GV Giáo viên
GD-ĐT Giáo dục và Đào tạo
HT Hiệu trưởng
PHT Phó hiệu trưởng
PHTCM Phó hiệu trưởng chuyên môn
HS Học sinh
PPDH Phương pháp dạy học
QLGD Quản lý giáo dục
SGK Sách giáo khoa
TTCM Tổ trưởng chuyên môn
TPCM Tổ phó chuyên môn 5
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1.Chất lượng học sinh Tiểu học 40
Bảng 2.2. Cơ sở vật chất của các trường Tiểu học Quận 5 40
Bảng 2.3. Số liệu tuyển sinh đầu năm 2013-2014 của các trường tiểu học
Quận 5 41
Bảng 2.4. Tỷ lệ HS hoàn thành chương trình tiểu học 41
Việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là vấn đề quan
trọng. Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ
cấu, nâng cao chất lượng là nhân tố quyết định đối với việc đổi mới giáo dục.
Trong trường học, hoạt động của các tổ chuyên môn rất quan trọng,
quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Tổ chuyên môn là một bộ
phận cấu thành, nơi thực thi nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh. Động lực
quan trọng để giúp nhà trường phát triển chính là mối quan hệ, sự tương tác,
giúp đỡ lẫn nhau trong khối đoàn kết và sự nỗ lực vươn lên của mỗi cá nhân.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu đổi mới của giáo dục, đội ngũ giáo
viên hiện nay có những hạn chế và bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu.
Năng lực chuyên môn của một số giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu của
đổi mới giáo dục. Giáo viên còn nặng về việc truyền thụ lý thuyết, chưa chú
2
trọng nhiều đến việc phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, tạo điều kiện cho
học sinh được thực hành.
Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện việc đổi mới và nâng cao
chất lượng dạy và học. Các trường đang thực hiện việc xây dựng và phát triển
đội ngũ giáo viên. Trong những năm gần đây, các trường tiểu học ở Quận 5,
TP.Hồ Chí Minh đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới giáo dục, xây dựng
và phát triển đội ngũ giáo viên. Các trường có nhiều thay đổi về chất lượng
giảng dạy. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, trường vẫn còn
nhiều khó khăn và hạn chế cần khắc phục nhằm đáp ứng với những đòi hỏi
ngày càng cao của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội.
Một trong những yếu tố quan trọng để có được đội ngũ giáo viên giỏi
về chuyên môn chính là việc sinh hoạt chuyên môn của các tổ chuyên môn.
Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải
pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường tiểu học Quận 5,
TP.Hồ Chí Minh” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
của các trường tiểu học trên địa bàn Quận 5, TP. Hồ Chí Minh
hóa các quan điểm trong các tài liệu lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý
luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Điều tra viết, tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia… để xây
dựng cơ sở thực tiễn là thăm dò tính cần thiết, khả thi của các biện pháp quản
lý được đề xuất.
6.3. Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý các số liệu thu được.
7. Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở
các trường tiểu học.
4
- Làm sáng tỏ thực trạng quản lý hoạt động của tổ chuyên môn nhằm
đáp ứng yêu cầu đổi mới QLGD trong các trường tiểu học Quận 5, TP. Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho CBQL
các trường tiểu học trong công tác quản lý hoạt động của tổ chuyên môn.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các
trường tiểu học.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các
trường tiểu học Quận 5, TP. Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các
trường tiểu học Quận 5, TP. Hồ Chí Minh.
Nâng cao chất lượng GD có rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng
không thể thiếu được, quyết định tới chất lượng GD và sự phát triển GD là
quá trình quản lý chất lượng dạy học. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định vai
trò quan trọng của công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy học.
Nâng cao chất lượng dạy học trên lớp sẽ quyết định chất lượng dạy học.
Những ưu điểm và nhược điểm của quá trình tổ chức dạy học trên lớp và nhận
thức đúng về bản chất của quá trình dạy học, mối quan hệ giữa hoạt động dạy
và hoạt động học, vai trò của người dạy và người học, và sự đổi mới hiện nay
về GD, đổi mới nội dung và những biện pháp tổ chức dạy học trên lớp, biện
pháp quản lý HĐDH trên lớp, trang thiết bị CSVC phục vụ cho dạy học.
Quản lý HĐDH là công việc chính của người TTCM, vì vậy quản lý
HĐDH luôn được các nhà nghiên cứu đề cập trong các công trình khoa
học GD.
Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài như: M.N.Scatkin, M.A.Danhilop,
M.I.Macmutov,… đã làm rõ bản chất của quá trình quản lý trong nhà trường,
các nhân tố của quá trình, các con đường và giải pháp nâng cao chất lượng
giáo dục. Để quản lý tốt cần phải xác định rõ chủ thể quản lý và khách thể
quản lý. Chủ thể quản lý, đó là Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, các TTCM…
Còn khách thể quản lý, đó là các yếu tố của quá trình quản lý TCM.
Ở trong nước, có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện
về việc quản lý HĐDH như: tác giả Hà Thế Ngữ, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng
Quốc Bảo… Nhiều bài viết trên tạp chí giáo dục, các đề tài khoa học, một số
Luận văn tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ trong nước nghiên cứu về hoạt động của tổ
chuyên môn ở các trường học, các cơ sở giáo dục.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
- Quản lý:
7
+ QL là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể QL đến khách
thể QL nhằm đạt tới mục tiêu đề ra.
+ QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đối
tượng QL và khách thể QL, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng,
các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động
của môi trường.
Giáo sư Hà Thế Ngữ và giáo sư Đặng Vũ Hoạt cho rằng: "QL là một
quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định".
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn - 2000 thì: “QL là sự tác động có hướng
đích của của chủ thể QL đến đối tượng QL bằng một hệ thống các giải pháp
nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng QL, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu
cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người".
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo - 1997 thì: “QL là sự tác động chỉ huy,
điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi HĐ của con người
nhằm đạt tới mục đích đã đề ra".
Từ các định nghĩa nêu trên, dưới các góc độ khác nhau, chúng ta có thể
hiểu một cách khái quát là: QL một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường
học, địa phương,…) với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ
thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng phương
pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Như vậy khái niệm QL bao hàm những khía cạnh sau:
- Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như
một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định
9
tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể. Ví dụ: Một doanh nghiệp, một
trường học, một cơ quan, một quốc gia,…
- Hệ thống QL gồm có hai phân hệ: chủ thể QL và khách thể QL.
- Tác động QL thường mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp
sắp xếp theo một trình tự nhất định cùng với một chương trình hành động cụ
thể để đạt được mục tiêu đã đề ra. Kế hoạch được xây dựng xuất phát từ đặc
điểm tình hình cụ thể của tổ chức và những mục tiêu đã định sẵn mà tổ chức
có thể hướng tới và đạt được, dưới sự tác động có định hướng của người QL.
+ Chức năng tổ chức: Là sắp xếp, bố trí một cách khoa học và phù hợp
những nguồn nhân lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của hệ thống thành một hệ
toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau để đạt được mục tiêu
của hệ thống một cách tối ưu nhất, hiệu quả nhất. Đây là một chức năng quan
trọng, đảm bảo tạo thành sức mạnh của tổ chức để thực hiện thành công kế
hoạch. Lê - nin đã khẳng định: “Tổ chức là nhân tố sinh ra hệ toàn vẹn, biến
một tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, người ta gọi là hiệu
ứng tổ chức”.
+ Chức năng chỉ đạo: Đây là chức năng đặc thù của người QL, nó biểu
hiện rất rõ nét năng lực của người QL. Đó là sự điều hành, điều chỉnh HĐ của
hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu đã
định. Nó đòi hỏi người QL phải luôn theo sát các HĐ, các trạng thái vận hành
của hệ thống để kịp thời phát hiện ra những sai lỗi trong quá trình vận hành
của hệ thống và đưa ra được những biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời sao
cho hệ thống vận hành không làm thay đổi mục tiêu, chiến lược đã định của
hệ thống.
11
+ Chức năng kiểm tra đánh giá: Thu thập những thông tin ngược từ đối
tượng QL trong quá trình vận hành của hệ thống. Nhờ đó mà đánh giá được
trạng thái vận hành của hệ thống ra sao so với kế hoạch đã đề ra và như vậy sẽ
đánh giá được kế hoạch khả thi đến mức độ nào? Nguyên nhân của sự thành
công, thất bại? Cần điều chỉnh, bổ sung những gì vào nội dung kế hoạch để
đạt được mục tiêu. Và cũng nhờ có chức năng này mà người QL rút ra cho
mình những bài học kinh nghiệm để thực hiện các quá trình QL tiếp theo
được hiệu quả hơn nữa.
QL GD.
Theo chuyên gia GD Liên Xô M.I.Kônđacôp thì: “QL GD là tập hợp
những biện pháp: tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hoá,…nhằm đảm
bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục
phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng.”
Theo nhà lý luận Xô Viết P,V.Khuđôminxky thì: “QL GD là tác động
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể QL ở các cấp
khác nhau đến các khâu của hệ thống (Từ Bộ đến trường), nhằm mục đích
đảm bảo việc GD Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển
toàn diện và hài hòa của họ”.
Theo quan niệm của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “QL GD là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất”.
Theo quan niệm của giáo sư Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường là thực
hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà
13
trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo
đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng HS…"
Dựa vào phạm vi QL, người ta chia QL GD ra 2 loại:
- QL hệ thống GD: QL GD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi
toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương(tỉnh, thành phố), một đơn vị, một
cơ sở GD.
Từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát rằng: QL GD là hệ
thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL trong
hệ thống GD, là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, các cơ sở GD nhằm
thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. QL
QL nhà trường thực chất là QL quá trình hình thành và tự hình thành
nhân cách học sinh. Nếu người HT nắm vững tính chất đặc trưng rất cơ bản
này của việc QL nhà trường thì sẽ có những biện pháp QL nhà trường hiệu
quả nhất.
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “QL nhà trường là HĐ của các cơ
quan QL nhằm tập hợp và tổ chức các HĐ của GV, HS và các lực lượng
GD khác, huy động tối đa các nguồn lực GD để nâng cao GD và đào tạo
trong nhà trường”.
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc thì: “QL nhà trường là thực hiện đường
lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
vận hành theo nguyên lý GD, để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối
với ngành GD, với thế hệ trẻ và từng học sinh”. “Việc QL trường học phổ
thông là QL HĐ dạy học tức là làm sao đưa HĐ đó từ trạng thái này sang
trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu GD”.
15
Theo giáo trình QL GD và đào tạo dùng để bồi dưỡng cán bộ QL
trường TH thì nêu rằng: QL nhà trường bao gồm hai loại tác động sau:
+ Tác động của những chủ thể QL bên trên và bên ngoài nhà trường.
(đó là những tác động QL của các cơ quan QL GD cấp trên nhằm hướng dẫn
và tạo điều kiện cho HĐ giảng dạy, học tập, GD của nhà trường; hoặc những
chỉ dẫn, những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có
liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình
thức Hội khuyến học nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ,
tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.
+ Tác động của những chủ thể QL bên trong nhà trường (bao gồm các
HĐ: QL GV, QL học sinh, QL quá trình dạy học GD, QL cơ sở vật chất trang
thiết bị trường học, QL tài chính trường học, QL quan hệ giữa nhà trường và
cộng đồng).
Như vậy, QL nhà trường là một HĐ được thực hiện trên cơ sở những
- QL GV, nhân viên và học sinh.
- QL sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy
định của pháp luật.
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng
thực hiện các HĐ GD.
- Tổ chức cho GV, nhân viên và HS tham gia các HĐ trong phạm vi
cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Do đó nghề dạy học ở bậc TH có những điểm giống với nghề dạy học ở
các bậc học khác nhưng lại có những đặc thù riêng về mặt sư phạm mà người
GV ở các bậc học khác không được đào tạo hoặc không có được. Các em HS
ở độ tuổi này có quy luật phát triển tâm, sinh lý riêng. Đây là lứa tuổi đang
17
tiềm ẩn những khả năng phát triển rất lớn. Do vậy thầy giáo phải có tình
thương yêu, lòng tin và sự tôn trọng đối với trẻ em, đối xử công bằng, dân
chủ, lạc quan và tế nhị trong cách ứng xử, mềm dẻo nhưng lại kiên quyết.
Như vậy HĐ sư phạm của người GV TH gồm có: HĐ dạy, HĐ GD, HĐ
tự hoàn thiện CM, nghiệp vụ và HĐ xã hội.
Do các đặc thù riêng của nhà trường TH như trên nên ngoài những tri
thức về kinh tế học, xã hội học, GD học, QL hành chính một cơ sở v.v thì
người QL trường TH đòi hỏi phải có những tri thức về: đặc điểm của nhà
trường TH, tâm lý học bậc TH, đặc điểm lao động của người GV TH ; đồng
thời phải có kỹ năng giao tiếp và ứng xử với đa dạng các lớp người như: GV,
học sinh, phụ huynh, các nhân vật trong cộng đồng có quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp với nhà trường.
QL trường TH là quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường TH bằng
cách sử dụng có hiệu quả nhất các đầu vào (cơ sở vật chất, tài chính, nguồn
nhân lực, khoa học công nghệ) để đạt kết quả GD có chất lượng cao nhất khi
sử dụng các phương pháp, phương tiện hiện đại hợp lý và phù hợp với các
môn giúp Hiệu trưởng quản lí GV, thực hiện các hoạt động GD theo kế hoạch
chung của nhà trường.
Tổ chuyên môn là nơi chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng giảng
dạy của GV và chất lượng học tập của HS trong khối lớp phụ trách. Ngoài ra
Tổ chuyên môn còn là đơn vị cơ sở cần xây dựng kế hoạch chung giúp các tổ
viên xây dựng kế hoạch trong công tác chuyên môn của mình, là nơi đôn đốc,
kiểm tra, theo dõi các hoạt động chuyên môn của từng GV.
Tổ chuyên môn là nơi tổ chức, tiến hành và trao đổi nghề nghiệp tự
học, tự nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, tổ chức các giờ rút kinh
nghiệm và tham gia tốt các phong trào trong tổ.